i
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập, nghiên cứu với sự giúp đỡ tận tình của các thầy
giáo, cô giáo, các cơ sở giáo dục và bạn bè đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành
luận văn này.
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm
ơn: Các Thầy Cô Khoa Quản lý giáo dục, phòng Sau đại học trường Đại học
Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, quan tâm và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đối với
PGS,TS. Nguyễn Xuân Thức người trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ, cung cấp
kiến thức, phương pháp luận và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Điện Biên,
phòng Giáo dục đào tạo, Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Điện Biên,
cùng người thân, bạn đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện
thuận lợi và đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi
thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các nhà khoa học để tôi
hoàn thành tốt luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Thị Bích Liên ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 4
4. Giả thuyết khoa học 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 5
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
8. Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO CỬ NHÂN HỆ
VỪA LÀM VỪA HỌC TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG
XUYÊN 8
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8
1.2. Quản lý 12
1.2.1. Khái niệm 12
1.2.2. Chức năng 15
1.3. Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân 18
1.3.1. Khái niệm 18
1.3.2. Chức năng 19
1.3.3. Nhiệm vụ 20
1.4. Đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học ở Trung tâm GDTX 21
1.4.1. Đào tạo 21
1.4.2. Đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học ở Trung tâm GDTX 24
iv
1.5. Quản lý đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học ở Trung tâm GDTX 25
1.5.1. Xây dựng kế hoạch đào tạo cử nhân hệ VHVL ở Trung tâm
GDTX 26
1.5.2. Tổ chức hoạt động đào tạo tại Trung tâm GDTX 27
1.5.3. Kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập người học ở Trung
tâm GDTX 32
1.5.4. Quản lý các điều kiện đảm bảo hoạt động đào tạo cử nhân hệ
VHVL 33
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp 70
3.1.1. Đảm bảo tính đồng bộ 70
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn 70
3.1.3. Đảm bảo tính kế thừa 71
3.1.4. Đảm bảo tính khả thi 72
3.2. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo cử nhân hệ vừa làm
vừa học của Phòng Đào tạo Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên 73
3.2.1. Biện pháp 1: Tăng cường khảo sát nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ
cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trên địa bàn Tỉnh Điện Biên để xây
dựng kế hoạch tuyển sinh đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học 73
3.2.2. Biện pháp 2: Phối kết hợp với cơ sở đào tạo cử nhân hệ vừa làm
vừa học để quản lý việc thực hiện kế hoạch, nội dung chương trình,
hoạt động giảng dạy của giảng viên 75
3.2.3 Biện pháp 3: Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp 78
3.2.4. Biện pháp 4: Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quản lý
học viên 80
3.2.5. Biện pháp 5: Tăng cường kết hợp với Phòng Tổ chức - Hành
chính quản lý các điều kiện liên quan đến cơ sở vật chất phục vụ đào
tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học 84
vi
3.2.6. Biện pháp 6: Phối kết hợp với Phòng Kế toán quản lý công tác tài
chính phục vụ đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa họcError! Bookmark not defined.
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý
hoạt động đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học 90
3.3.1. Các bước khảo nghiệm 90
3.3.2. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp quản lý hoạt dộng đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học của Phòng
Đào tạo 91
Kết luận chương 3 Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.2. Mức độ phù hợp của các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo
cử nhân hệ vừa làm vừa học của Phòng Đào tạo 50
Bảng 2.6. Mức độ thực hiện quản lý hoạt động đào tạo cử nhân vừa làm
vừa Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên Error! Bookmark not defined.
Biểu đồ 2.3. Mức độ thực hiện các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào
tạo của Phòng Đào tạo Error! Bookmark not defined.
Bảng 2.7. Tương quan giữa mức độ phù hợp và mức độ thực hiện các
BPQL hoạt động Đào tạo cử nhân vừa làm vừa ở Trung tâm GDTX tỉnh
Điện Biên 51
Biểu đồ 2.4. Biểu đồ biểu diễn tương quan giữa mức độ phù hợp và thực
hiện các BPQL hoạt động đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học của Phòng
Đào tạo 54
Bảng 2.8. Thực trạng biện pháp xây dựng kế hoạch đào tạo, tổ chức tuyển
sinh của Phòng Đào tạo 54
Bảng 2.9. Thực trạng phối hợp với cơ sở đào tạo để quản lý kế hoạch đào
tạo, nội dung chương trình 56
viii
Bảng 2.10. Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giảng viên 57
Bảng 2.11. Thực trạng quản lý hoạt động học của học viên 59
Bảng 2.12. Thực trạng phối kết hợp với cơ sở đào tạo để quản lý kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của học viên 60
Bảng 2.13. Thực trạng biện pháp quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất 61
Bảng 2.14. Thực trạng tổ chức hoạt động đảm bảo an ninh, trật tự, y tế, 62
vệ sinh, môi trường 62
Bảng 2.15. Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo cử
nhân hệ vừa làm vừa học của Phòng Đào tạo TTGDTX tỉnh Điện Biên 64
Bảng 2.16. Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đào tạo cử
nhân hệ vừa làm vừa học của Phòng Đào tạo TTGDTX tỉnh Điện Biên 66
Bảng 3.1. Kiểm chứng tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động
Nghị quyết Đại hội khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định:
“Giáo dục - Đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Cho
nên quan điểm mới về phát triển nguồn lực con người, trong đó có vấn đề
giáo dục không phải là một quan niệm xa lạ. Mục tiêu chiến lược phát triển
đất nước là vì con người, vì hạnh phúc của tất cả mọi người.
Hiện nay trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập
quốc tế ở nước ta, trong lĩnh vực đào tạo, sản phẩm của đào tạo là con người:
những học sinh, sinh viên được đào tạo với kỹ năng nhất định là nguồn lực
quan trọng không thể thiếu đáp ứng cho một nền sản xuất hiện đại. Do vậy
một trong những nhiệm vụ quan trọng và cũng là hàng đầu của giáo dục đại
học nước ta là đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của quá trình
phát triển kinh tế - xã hội và nguồn nhân lực hướng đến tương lai cho một nền
kinh tế mới - nền kinh tế tri thức. Giáo dục đại học là để cho xã hội, cho từng
người, cho cuộc sống mỗi người. Giáo dục đại học giữ vai trò quyết định giúp
2
cho người học có thể có điều kiện tự mình thay đổi mức sống theo hướng
ngày một tốt hơn thông qua nâng cao trình độ, thay đổi ngành ngề phù hợp
với xã hội đương đại. Vì thế không riêng gì ở nước ta, mà hiện nay nhiều
nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển đang hướng mạnh đến xây
dựng một hệ thống giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, liên
thông liên kết trong một xã hội học tập, trong đó tạo điều kiện cho mọi người
dân được học với phương châm: “Còn sống, còn học và học suốt đời”.
Thêm vào đó cơ sở đào tạo ở các trường Đại học, Cao đẳng không thể
đáp ứng hết được nhu cầu học tập nâng cao trình độ của số người học ngày
càng gia tăng trong xã hội nếu như chỉ duy trì một phương thức đào tạo chính
qui. Những điều kiện trên chính là lý do khiến các cơ sở giáo dục ở các địa
phương nói chung, Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên nói riêng trở thành địa
chỉ đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học và trở thành cơ sở để triển khai
ngày 22/07/1996 của Ủy Ban nhân dân tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên).
Cụ thể là:
- Tổ chức giảng dạy chương trình BTTHPT cho cán bộ, viên chức và
nhân dân trong tỉnh.
- Tổ chức thực hiện các nội dung bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
cho giáo viên và công chức quản lý của ngành Giáo dục- Đào tạo trong tỉnh
- Tổ chức giảng dạy và cấp chứng chỉ tin học ứng dụng, tiếng Anh thực
hành trình độ A, B, C.
- Liên kết với các trường Đại học, Cao đẳng, tổ chức đào tạo các lớp
Đại học hệ vừa làm vừa học, Từ xa, Liên thông Cao đẳng, Đại học.
- Tổ chức quản lý, chăm sóc và giảng dạy tiếng Việt cho lưu học sinh
của 3 tỉnh Bắc Lào: U Đom Xay, Luông Pha Bang; Phong Sa Ly.
Trong thời gian qua Trung tâm GDTX đã đáp ứng được các nhiệm vụ
đào tạo được giao, nhưng đứng trước yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay
4
bộc lộ những hạn chế, bất cập cần được tháo gỡ. Vấn đề đặt ra phải có sự
nghiên cứu nghiêm túc về thực tiễn để có cơ sở khoa học đề xuất các biện
pháp hoạt động đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học.
1.3. Các nghiên cứu về quản lý đào tạo đã được tập trung nghiên cứu
nhiều quản lý đào tạo hệ cử nhân hệ vừa làm vừa học đã có nhưng còn mỏng
đặc biệt ở Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên chưa có công trình nghiên cứu
nào vơi các lí do trên nên tôi lựa chọn đề tài “Quản lý hoạt động đào tạo cử
nhân hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Điện
Biên” với mục đích nâng cao chất lượng đào tạo của Trung tâm GDTX tạo
nguồn nhân lực giáo dục cho tỉnh Điện Biên.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động đào tạo, quản lý
đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên đề
xuất biện pháp quản lý hoạt động đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học nhằm
GDTX). Đề tài nghiên cứu với nội dung quản lý mà chủ thể là do Trung tâm
GDTX đảm nhận.
- Địa bàn nghiên cứu: Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên.
- Khách thể điều tra: Cán bộ, giáo viên đang công tác tại Trung tâm
GDTX tỉnh Điện Biên, các học viên đã và đang theo học các lớp đào tạo cử
nhân hệ vừa làm vừa học; giảng viên các Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
Khoa Sư phạm Đại học quốc gia, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, v.v
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn bản, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước. Phân tích, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
6
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra viết
Xây dựng các phiếu điều tra bằng các loại câu hỏi đóng, mở gửi cho nhiều
đối tượng đã dự kiến (CBQL, giảng viên, giáo viên và học viên) nhằm thu thập
các ý kiến một cách khách quan về thực trạng quản lý hoạt động đào. Dùng
phiếu hỏi sẽ điều tra được nhiều đối tượng trên phạm vi rộng trong thời gian
ngắn, thu được nhiều thông tin cần thiết, khách thể điều tra có thời gian suy nghĩ
về vấn đề được hỏi và tiết kiệm được kinh phí.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn, trao đổi
Gặp gỡ phỏng vấn các giảng viên đang trực tiếp giảng dạy, học viên
các lớp cử nhân hệ vừa làm vừa học, cán bộ quản lý trung tâmtrong các cuộc
họp, trong các khóa tập huấn, các buổi học để thu thập chính xác thêm các
thông tin có liên quan đến công tác quản lý hoạt động đào tạo cử nhân hệ vừa
làm vừa học hỗ trợ thêm cho phương pháp sử dụng phiếu hỏi.
7.2.3. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến của chuyên gia, những người có trình độ cao, nhiều kinh
rằng cho đến tận cuối thập niên 50 của thế kỷ trước thì đào tạo chính quy cơ
bản vẫn là hình thức duy nhất trong hệ thống giáo dục và đào tạo toàn cầu.
Bước vào nửa sau của thế kỷ thì tình hình đã đổi khác, đứng trước yêu
cầu cấp bách của xã hội về nguồn nhân lực đáp ứng cho nhu cầu phát triển
kinh tế, xã hội thì nền giáo dục thế giới phải có những cái nhìn mới về cách
thức đào tạo. Đào tạo chính quy tại các trường đại học không thể đáp ứng đủ
nhu cầu học tập cũng như đáp ứng nguồn nhân lực cho xã hội phát triển.
Vấn đề đã trở thành cấp thiết và mang tính toàn cầu như nhận định của
Ph.Combs trong cuốn sách “Khủng hoảng giáo dục trên phạm vi toàn thế
giới” xuất bản năm 1968, khi ông chỉ ra những vấn đề lớn của giáo dục đương
đại, đó là:
- Nhu cầu học tập của mọi người là rất lớn, hiện giáo dục trung tâm
không đủ đáp ứng nhu cầu này.
- Học vấn mà người học được trung tâm trang bị (thậm chí cả trong
trường đại học) còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Kiến thức học trong trung tâm còn quá ít ỏi và bị lạc hậu rất nhanh so
với yêu cầu của sự phát triển.
Năm 1972, Edgar Farue - Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về phát triển giáo
dục (thuộc UNESCO) trong báo cáo với nhan đề “Học để tồn tại: thế giới
giáo dục hôm nay và ngày mai” đã làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục,
với các khái niệm quan trọng là “Học suốt đời” và “Tính phù hợp”. Với việc
9
đặt giáo dục cho đối tượng người lớn tuổi trong khuôn khổ của giáo dục suốt
đời, khái niệm “xã hội học tập” được nhiều nhà giáo dục lớn trên thế giới đưa
ra bàn luận và kết quả tất yếu là quan niệm về giáo dục đã được mở rộng hơn:
Giáo dục người lớn tại địa phương phải được coi là bộ phận chủ yếu quan
trọng cùng với trung tâmchính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho mọi
người. Đây là định hướng cho cải cách giáo dục giai đoạn này. Điều này có
thể giải thích qua việc phân tích tình hình phát triển kinh tế - xã hội lúc đó:
tăng cường cơ sở vật chất, củng cố kỷ cương nền nếp trong các nhà trường.
Những thành tựu ấy có sự đóng góp của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục. Đội ngũ này ngày càng lớn mạnh, phần lớn có phẩm chất tốt, năng
lực chuyên môn vững vàng, tỷ lệ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn cao. Tuy
nhiên, trước yêu cầu đổi mới, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
còn bộc lộ những mặt hạn chế. Đội ngũ nhà giáo chưa đồng bộ về cơ cấu, một
bộ phận nhỏ chậm đổi mới phương pháp giảng dạy, chưa gương mẫu về đạo
đức, tác phong. Một số cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế về kiến thức và
năng lực quản lý nhà nước. Nguyên nhân tình trạng trên, một phần do việc
đào tạo giáo viên thiếu cân đối; phân cấp quản lý giáo viên, cán bộ quản lý
chưa hợp lý, chưa gắn trách nhiệm với quyền hạn Để thực hiện tốt Chỉ thị
số 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng với mục tiêu: “Xây dựng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất
lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản
lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo để
nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày
càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [6], Ban
Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy Đảng chỉ đạo thực hiện tốt một số nội
dung, trong đó cần phải tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình,
11
phương pháp giảng dạy Đặc biệt Sở Nội vụ phối hợp với các Sở chủ quản
tham mưu, đề xuất UBND Tỉnh sắp xếp, củng cố nhằm nâng cao năng lực đào
tạo của các trường.
Từ trước đến nay có không nhiều đề tài, công trình nghiên cứu đề cập
tới quản lý đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm GDTX. Nếu có
thì vấn đề này mới chỉ được đề cập trong khuôn khổ các bài báo hoặc tạp chí
của ngành giáo dục. Cho đến nay, quản lý đào tạo cử nhân hệ vừa làm vừa
học tại Trung tâm GDTX vẫn còn tùy thuộc vào từng địa phương, từng nhà
trường, từng ngành và chưa mang tính thống nhất, tính pháp lý bắt buộc. Chất
quản lý hoạt động đào tạo và chưa có những nghiên cứu về quản lý đào tạo cử
nhân hệ vừa làm vừa học tại Trung tâm GDTX tỉnh Điện Biên. Việc lựa chọn
và nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở Trung tâm
GDTX tỉnh Điện Biên.
1.2. Quản lý
1.2.1. Khái niệm
Xã hội loài người hình thành và phát triển, biến đổi qua nhiều giai
đoạn. Trước nhu cầu sinh tồn và phát triển con người đã có sự hợp tác, hỗ trợ
lẫn nhau, có sự phân công một cách hợp lý nhằm làm cho lao động ngày một
năng suất cao hơn, hiệu quả hơn.
Từ đó hình thành hoạt động đặc biệt, đó là sự chỉ huy, tổ chức, điều
hành, kiểm tra, chỉnh lí dành cho người đứng đầu, để tập hợp mọi sự nỗ lực
của các thành viên trong nhóm, một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Hoạt động đặc biệt đó chính là hoạt động quản lý. Có thể nói: hoạt động quản
lý là một trong những hình thức lao động quan trọng nhất, đặc thù nhất, nó
điều khiển các hoạt động lao động khác. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về
13
quản lý là vô cùng cần thiết, nó sẽ giúp cho con người có được những kiến
thức cơ bản nhất, chung nhất về hoạt động quản lý.
Tuy nhiên, vấn đề quản lý là vấn đề hết sức phức tạp vì đối tượng hoạt
động càng đa dạng bao nhiêu thì lại càng đòi hỏi phải có các biện pháp quản
lý phong phú bấy nhiêu. Chỉ riêng khái niệm “quản lý” cũng đã được các nhà
triết học, các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy thuộc
vào phương pháp tiếp cận.
* Quản lý dưới góc độ của các nhà khoa học trên thế giới:
Theo quan điểm kinh tế học, người Mỹ F.W Taylor cho rằng: “Quản lý
là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng
phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”. [19]
Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A.Fayon: Quản lý là đưa xí
hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề
ra”. [38]
Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Trí: “Quản lý là một quá trình
tác động có hướng đích, có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể
có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận
hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã
định”. [30]
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm thống nhất sau về
quản lý:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và đối
tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính
bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
15
- Quản lý là sự tác động, mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với
quy luật khách quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
- Quản lý có khả năng thích ứng giữa chủ thể quản lý với đối tượng
quản lý.
Từ những định nghĩa trên đề tài xác định: Quản lý là một quá trình tác
động có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm tạo ra
sự hợp tác của các thành viên trong tổ chức để sử dụng có hiệu quả các tiềm
năng nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.2. Chức năng
Chức năng quản lí là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định của
chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí, đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau
mà chủ thể quản lí phải tiến hành trong quá trình quản lí. Trong quản lí, chức
năng quản lí mang tính khách quan, có tính độc lập tương đối. Các nhà nghiên
- Phân tích các phương án hành động, lựa chọn phương án tối ưu và
quyết định cách thực hiện: Liệt kê và đánh giá kĩ lưỡng những hành động có
thể được tiến hành, chọn phương án có nhiều khả năng nhất để thực hiện và
miêu tả những việc cần làm theo phương án đã lựa chọn.
- Thực hiện kế hoạch và đánh giá kết quả: Thực hiện hành động và đánh
giá những tiến bộ của mình trong việc tiến tới mục tiêu. Hãy làm những gì mà
kế hoạch đòi hỏi; đánh giá kết quả; điều chỉnh và sửa đổi kế hoạch nếu cần.
Ta có thể thấy: quá trình lập kế hoạch là một dạng của quá trình ra
quyết định và giải quyết vấn đề. Đây là một khung hành động có hệ thống để
tiếp cận một nhiệm vụ quan trọng - xác định các mục tiêu và cách thức để đạt
được các mục tiêu đó. Lập kế hoạch giúp cho tổ chức rất nhiều lợi ích cũng
17
như những thế mạnh quan trọng cho hoạt động của tổ chức và cho tất cả
những ai đang làm việc cho tổ chức đó.
b. Tổ chức
Tổ chức được hiểu là quá trình sắp xếp con người và các nguồn lực để
cùng nhau làm việc nhằm đạt tới một mục tiêu cụ thể. Với tư cách là một
trong những chức năng cơ bản của quản lí, quá trình này liên quan đến việc
tạo ra sự phân công lao động thực hiện các nhiệm vụ và việc điều phối các kết
quả nhằm đạt được mục tiêu chung. Sau khi kế hoạch được xây dựng và phê
duyệt, tổ chức bắt đầu thực hiện nhiệm vụ bằng cách xác định các công việc
và các mối quan hệ. Việc tổ chức sẽ xác định ai làm việc gì, ai sẽ phụ trách ai
và cách thức những cá nhân và những bộ phận khác nhau của tổ chức liên hệ
với nhau như thế nào. Tất cả các công việc này, có thể được thực hiện thông
qua các hình thức khác nhau nhưng cần phải lựa chọn hình thức tốt nhất để
phù hợp với nhu cầu trong điều kiện cụ thể.
c. Lãnh đạo
Lãnh đạo là quá trình định hướng, điều phối, tác động đến hệ thống tổ
chức nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, giải quyết những vướng mắc để bộ