Quản lý hoạt động tự học của học viên tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 25


Đại học quốc gia hà nội
Khoa s- phạm

Lê văn tâm quản lý hoạt động tự học của học viên tại
Trung tâm Giáo dục th-ờng xuyên
tỉnh vĩnh phúc luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục


Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05

Hà nội 2008 LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập tại Khoa Sư phạm - Đại
học Quốc gia Hà Nội và quá trình công tác của tác giả ở trung tâm giáo dục
trường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học đã
hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trình hình thành và hoàn chỉnh luận văn này,
đồng thời xin trân trọng cảm ơn các giảng viên trường Đại học liên kết, Ban
Giám đốc và các đồng nghiệp đang công tác tại trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh
Phúc về sự giúp đỡ, góp ý và tạo điều kiện tốt nhất để luận văn được thực hiện.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phó Giáo sư -Tiến sỹ
Nguyễn Văn Lê - Người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tác giả thực hiện luận văn.
Mặc dù đã cố gắng nhưng do khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu khoa
học còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Tác giả kính mong
nhận được sự góp ý của các thầy giáo, cô giáo và đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2009

: Bổ túc Trung học phổ thông

: CAO ĐẲNG
CB
: Cán bộ
CC
: CÔNG CHỨC
CNH- HĐH
: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
CQ
: CHÍNH QUY
GD- ĐT
: Giáo dục - Đào tạo
GDKCQ
: GIÁO DỤC KHÔNG CHÍNH QUI
GDTX
: Giáo dục thường xuyên
GV
: GIÁO VIÊN
HTGDQD
: Hệ thống giáo dục quốc dân
KCQ
: KHÔNG CHÍNH QUY
KT
: Kinh tế
NV
: NHÂN VIÊN
QLĐT
: Quản lý đào tạo


4
8. Cấu trúc của luận văn
4
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
5
1.2. Những vấn đề về tự học
8
1.2.1. Khái niệm "Tự học"
8
1.2.2. Đặc trưng của tự học
9
1.2.3. Hệ thống các kỹ năng tự học
9
1.2.4. Vị trí, vai trò của tự học
10
1.2.5. Các hình thức tự học
11
1.2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học
15
1.3. Những vấn đề chung về quản lý, quản lý hoạt động tự học
19
1.3.1. Khái niệm và chức năng quản lý
19
1.3.2. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
24
1.3.3. Quản lý hoạt động tự học
26
1. 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động tự học
31

2.2.4. Thực trạng về kết quả tự học
60
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên tại trung tâm
GDTX tỉnh Vĩnh Phúc
62
2.3.1. Bộ máy quản lý hoạt động tự học
62
2.3.2. Công tác phối hợp quản lý đào tạo giữa Trung tâm và các
trường Đại học, Cao đẳng
63
2.3.3. Quản lý cơ sở vật chất
76
2.3.4. Quản lý thông tin phản hồi
77
2.4. Kết luận về thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên
tại trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc
77
2.4.1. Những việc đã làm được
78
2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân
78
Tiểu kết chương 2
80 Chương 3: biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên tại Trung
tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc
3.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp
81
3.1.1. Nguyên tắc tính hệ thống

113
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 114
1. KÕt luËn
114
2. Khuyến nghị
116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
118
PHỤ LỤC

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tự học là một biểu hiện của truyền thống hiếu học của dân tộc ta, khả
năng tự học là một tài nguyên quý giá mà dân tộc ta có trữ lượng khá lớn, một
nguồn lực mà ta có thể đem đặt lên bàn cân trong cuộc chạy đua với thiên hạ.
Tiếc rằng chúng ta đã không chăm sóc nguồn lực đó, thậm chí còn làm cho nó
yếu đi. Để công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, thì đối với sự nghiệp giáo
dục và đào tạo, đây là một trong những hướng chiến lược quan trọng. Giáo
dục phải khơi dậy và vun vén khả năng tự học của con người, chống lại lối học
thụ động, ỷ lại, khai thác tới mức tối đa “sức tự thân vận động” của mỗi người
trong học tập. Trong điều 5 Luật giáo dục 2005 cũng đã quy định “phương
pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Ngày nay nhân loại đang phải chứng kiến sự phát triển như vũ bão trên
mọi lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ. Khối lượng tri thức của nhân

Là một cơ sở GDKCQ, trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc có chức năng
chủ yếu là liên kết đào tạo với các trường ĐH, CĐ mở các lớp đào tạo theo
hình thức vừa làm vừa học, tạo cơ hội học tập cho cán bộ, công chức cũng như
lực lượng lao động xã hội nhằm phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH của Tỉnh.
Trong những năm gần đây Trung tâm đã có nhiều cố gắng cùng với các nhà
trường trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, song kết quả vẫn chưa được
như mong muốn. Có không ít học viên sau khi tốt nghiệp ra trường đã không
đáp ứng được yêu cầu của công việc. Điều này do nhiều nguyên nhân, trong
đó phải kể đến ý thức học tập của học viên: chưa tự giác học tập, khả năng tự
học còn yếu; công tác tổ chức, quản lý hoạt động tự học còn chưa được quan
tâm đúng mức. Đây là bài toán đặt ra cho các nhà quản lý của Trung tâm.
Chính vì vậy việc tìm ra biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động tự học
của học viên trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc sao cho có hiệu quả là một
nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài 3
“Quản lý hoạt động tự học của học viên tại trung tâm giáo dục thường
xuyên tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học
của học viên trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứng yêu cầu nâng cao chất
lượng đào tạo.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của học viên trung tâm
GDTX tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động tự học của học
viên trung tâm GDTX tỉnh Vĩnh Phúc.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên tác giả dự kiến có 3 nhiệm vụ sau:

dụng các mẫu điều tra với học viên, giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý để
nắm được thực trạng về hoạt động tự học của học viên về công tác quản lý
hoạt động tự học của học viên.
- Nhóm phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, phân tích, tổng hợp, xử lý
số liệu sau điều tra
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn dự kiến trình bày trong 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học.
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học viên tại trung
tâm giáo dục thường xuyên Vĩnh Phúc.
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên tại trung
tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Vĩnh Phúc.
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Học tập là nhu cầu thiết yếu của con người. Ngay từ những buổi sơ
khai, khi mới xuất hiện, con người đã học cách săn, bắt, hái, lượm, trồng
trọt để sinh sống. Đó là một hoạt động mang tính bản năng và hoàn toàn
tự phát. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu học tập càng cao và việc học tập

cho rõ ràng, làm cho hết sức). Ông còn nhấn mạnh:
"Cũng có điều chưa học, nhưng đã học điều gì mà không được thì không
thôi.
Cũng có điều chưa hỏi, nhưng đã hỏi điều gì mà chưa rõ thì không thôi.
Cũng có điều chưa phân biệt được, nhưng đã phân biệt được thì phân
biệt cho minh bạch".
Cũng có điều chưa làm, nhưng đã làm điều gì mà không xong thì không
buông xuôi.
Người ta dụng công mười mà được, ta cũng dùng công mười mà chưa
được thì dụng công gấp ngàn lần kỳ được mới thôi.
Nếu làm được theo điều ấy thì đầu ngu cũng hoá sáng, yếu cũng thành
mạnh”. Và “nếu môn đệ không tự hỏi phải làm ra sao? phải làm ra sao? thì
ta cũng chẳng làm thế nào được”.
Như vậy, theo Khổng Tử thì phương châm học tập là phải tham khảo
nhiều tài liệu, tìm hiểu bài cho thật sâu qua điều tra vặn hỏi, học phải có bình
luận, đánh giá và thực hành cho thật nhiều với một quyết tâm cao thì trước
chưa thạo nhưng rồi cũng sẽ thành thạo.
Các nhà giáo dục phương Tây cũng đã nhấn mạnh về việc phát huy khả
năng và hiệu quả học tập từ ý thức tự giác, thực hành, suy luận, nghiên cứu,
tìm tòi, khám phá của người học. 7
Sinh thời, Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục, Người
cho rằng việc học tập là không bao giờ đủ, mà phải học liên tục, học suốt đời
thì mới tiến bộ, mới theo kịp sự phát triển của thế giới "Học hỏi là một việc
phải tiếp tục học suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế.
Không ai có thể tự cho mình là đã biết đủ rồi. Thế giới ngày càng đổi mới,
nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để
tiến bộ kịp nhân dân". Trong những tác phẩm và nhiều bài phát biểu của mình

1.2. Những vấn đề về tự học
1.2.1. Khái niệm "Tự học"
Theo Nguyễn Lân, trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam, ông cho rằng:
Tự: là chính mình; học: là học. Vậy tự học là tự mình học lấy không cần có
người dạy, cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học".
Nguyễn Hiến Lê, trong cuốn "Tự học một nhu cầu của thời đại" cho rằng "Tự
học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm. Có
thầy hay không ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình,
muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện
quan trọng" [23;14]. Như vậy theo ông tự học là cần thiết nhưng không phải là
sự bắt buộc; người học hoàn toàn tự do, tự chủ, nhờ vậy nó là một cái thú.
Theo Nguyễn Cảnh Toàn: "Tự học là tự mình động não, sử dụng các
năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp
(khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ,
tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí
tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học)
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó
thành sở hữu của mình” [31;59].
Nguyễn Đức Trí, thì cho rằng "Tự học là hoạt động độc lập, chủ yếu
mang tính chất cá nhân của học sinh, sinh viên trong quá trình nhận thức học
tập để cải biến nhân cách đó, nó vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của quá
trình đào tạo nói chung ở nhà trường. Có hai loại tự học là tự học trong giờ
lên lớp và tự học ngoài giờ. Hoạt động tự học của học sinh, sinh viên trong 9
giờ lên lớp thường thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên bộ môn như là
một bộ phận, một bước, một hình thức tổ chức của quá trình dạy học. Hoạt
động tự học ngoài lớp có thể được thực hiện ở ký túc xá hoặc ở nhà, theo cá
nhân hoặc theo nhóm. Đây là hoạt động chủ yếu của sinh viên sau giờ lên lớp

học của mình, làm cơ sở cho những hoạt động tiếp theo.
1.2.3. Hệ thống các kỹ năng tự học: có thể chia làm thành 3 nhóm cơ bản sau:
- Nhóm 1: Nhóm kỹ năng kế hoạch hoá hoạt động tự học. Nhóm này bao
gồm: xác định mục đích, nội dung và trình tự công việc cần làm, phân
phối, sắp xếp thời gian cho từng công việc.
- Nhóm 2: Nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện kế hoạch. Nhóm này gồm các
kỹ năng tiến hành các hoạt động nhận thức đối với quá trình tự học, đảm bảo cho
việc thực hiện kế hoạch đã vạch ra. Đó là kỹ năng đọc sách và đọc tài liệu, kỹ
năng ghi chép, kỹ năng giải các bài tập nhận thức, kỹ năng thực hiện các thao tác
trí tuệ, trong đó đặc biệt quan trọng là kỹ năng hệ thống hoá và khái quát hoá.
- Nhóm 3: Nhóm các kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá. Nhóm này gồm các
kỹ năng: xác định nội dung tự kiểm tra, đánh giá, xây dựng bộ chuẩn để kiểm
tra, tự đánh giá, chọn cách thức thực hiện hành động tự kiểm tra, tự đánh giá,
sử dụng các thao tác tự kiểm tra, đánh giá như: so sánh, đối chiếu
1.2.4. Vị trí, vai trò của tự học
Người xưa từng có câu "nên tài, nên đức, nhờ tự học". Lời tổng kết từ
ngàn xưa của ông cha ta truyền lại từ thế hệ này đến thế hệ khác như là một di
sản quí báu của dân tộc. Có ý chí và năng lực tự học mới có khả năng làm việc
sáng tạo, sống có đạo đức, văn hoá, mới nên người có tài, có đức.
Như chúng ta đã biết hiệu quả của quá trình dạy học được quyết định
bởi yếu tố học, mà tự học lại là cốt lõi của việc học. Hễ có hoạt động học là có
hoạt động tự học. Không ai có thể trông chờ người khác học hộ, học thay mình
được. Tự học có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với con người vì: "mỗi
người đều nhận hai thứ giáo dục: một thứ do người khác truyền cho, một thứ
quan trọng hơn nhiều do mình tự kiếm lấy" (GIBRON). Tự học mang lại kết 11
quả quan trọng trong việc bổ sung và phát triển tri thức mà việc học tập trong
nhà trường không thể đáp ứng kịp và đáp ứng đủ, vì biển học là mênh mông,

1.2.5. Các hình thức tự học
1.2.5.1. Hình thức thứ nhất: Tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên
Hình thức này diễn ra trong giờ lên lớp nó diễn ra dưới sự chỉ đạo, điều
khiển, hướng dẫn trực tiếp của giáo viên, người học là chủ thể nhận thức tích
cực. Họ phải huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân tiến hành những hoạt
động học tập để lĩnh hội, khám phá tri thức theo sự hướng dẫn của giáo viên.
Hình thức này bao gồm:
- Tự học trong lúc nghe giảng bài: Mục đích lên lớp của người học ở
giảng đường là nghe và ghi bài giảng của giáo viên để nắm vững một cách lô
gíc những tri thức khoa học. Sự tự học của người học được thể hiện bởi sự tập
trung chú ý đến cao độ, sử dụng bộ não một cách triệt để, động viên được
những năng lực tiềm ẩn trong quá trình nghe giảng. Quá trình nghe và ghi
chép đòi hỏi người học phải tập trung tư tưởng, chú ý cao độ, nghĩa là hướng
toàn bộ hoạt động của các giác quan để đón nhận nội dung bài giảng. Khi nghe
giảng, người học phải có sự hoạt động tư duy hết sức tích cực, khẩn trương để
liên tưởng bài giảng với tri thức đã học từ trước, đòi hỏi người học hồi tưởng
lại, nhớ lại vừa nhanh, vừa chính xác những thông tin cần thiết cho việc tiếp
thu bài giảng mới. Hoạt động trí tuệ căng thẳng để tạo ra hệ thống tri thức có
tính liên tục, kế thừa giữa cái cũ và cái mới, cái đã có với cái chưa có… từ đó
tạo nên vốn kiến thức riêng cho mình.
Song song với nghe giảng là sự ghi chép. Dù việc ghi nhớ tốt đến đâu
cũng không thể thay thế cho việc ghi chép bài giảng được. Hơn nữa ghi chép
không chỉ có tác dụng hỗ trợ cho trí nhớ mà còn giúp cho việc nắm kiến thức
được sâu hơn. Vì khi ghi chép, bộ não phải tiến hành phân tích, tổng hợp, lựa
chọn những tri thức cần ghi.
Nghe và ghi bài giảng trên lớp là giai đoạn đầu tiên rất quan trọng song
nó cũng là quá trình rất phức tạp, đa dạng. Nó phụ thuộc vào những yếu tố 13


14
- Tự học dưới dạng học lại bài đã học và vận dụng giải bài tập. Đây là
cách tự học mà mọi người học thường thực hiện nhằm tái hiện lại những vấn
đề mà giáo viên đã giảng giải trên lớp. Tuy nhiên việc học lại bài đã được thực
hiện ngay sau khi tiếp thu bài trên lớp. Điều quan trọng đòi hỏi người học
không được quan niệm là học để đối phó với việc trả bài hoặc để làm bài. Học
bài cách này không phải là học ngay trước khi trả bài. Vì vậy người học cần
xem lại bài ngay khi vừa học xong. Cách học này rất dễ thực hiện mà lại hiệu
quả vì bài học vẫn còn "nóng hổi" không cần mất thời gian để "hâm lại". Sau
buổi học tri thức vẫn còn đọng lại trong trí nhớ nên việc hồi tưởng lại sẽ dễ
dàng hơn. Như vậy cách học này vừa hiệu quả lại vừa tiết kiệm thời gian. Tuy
nhiên để khắc sâu được kiến thức thì người học phải tự vận dụng để làm bài
tập, phải gắn học với hành. Bài tập có khi chỉ là hình thức áp dụng công thức,
lý thuyết cho một tình huống, thực tiễn cụ thể; cũng có thể là những bài tập
nâng cao. Vì vậy đỏi hỏi người học phải hiểu bài, đào sâu suy nghĩ, vận dụng
một cách sáng tạo để giải quyết vấn đề. Mục đích của việc làm bài tập sau bài
học ngoài việc giúp người học khắc sâu kiến thức còn rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, để kiến thức trở nên gần gũi, dễ hiểu và nhớ lâu.
Việc đọc trước bài hôm sau thầy sẽ giảng giúp người học chủ động trong học
tập, hiểu nhanh hơn và nhớ lâu hơn những điều thầy giảng ở trên lớp. Khi đọc
chỗ nào chưa hiểu thì đánh dấu lại để đến khi thầy giảng tập trung chú ý hơn.
Nên chủ động chuẩn bị các câu hỏi, nếu thầy giảng theo lối gợi mở vấn đề cần
mạnh dạn tham gia thảo luận đó cũng là cách giúp người học tập trung học tập
ở lớp hơn.
- Tự học qua hình thức nghiên cứu khoa học (làm tiểu luận, đề án môn
học…) là một hình thức tự học rất hiệu quả. Mục đích của hình thức này là để
kích thích người học phát triển trí tuệ, hình thành hứng thú học tập và óc tìm
tòi, sáng tạo nhằm giải quyết vấn đề về lý luận hay thực tiễn trong phạm vi
hẹp. Học viên làm tiểu luận hay đề án môn học đều có giáo viên hướng dẫn.

khó khăn trở ngại. Ngược lại nếu người học có quan niệm sai lệch về học tập
thì sẽ tạo nên động cơ tiêu cực dẫn đến sự lơ là, thiếu kiên nhẫn, không tự giác 16
học tập, hễ rời sự thúc ép, sự kiểm soát thì sẽ lười học. Tự học là hình thức
hoạt động của cá nhân, nó cần phải có tinh thần tự giác và sự tập trung trí tuệ
cao. Vì vậy cần phải có một động lực thôi thúc người học để họ có ý chí và
nghị lực vượt qua mọi trở ngại do yếu tố chủ quan và khách quan đem lại
trong quá trình tự học. Đặc biệt là tự học sẽ giúp người học vượt qua được
chính mình, như Thích Ca đã nói "Đánh thắng một vạn quân không bằng tự
đánh thắng lòng mình". Ý chí và nghị lực là nội lực của người học, nó là một
trong các yếu tố quyết định đến hiệu quả tự học. Khi người học đã xác định
đúng đắn động cơ học tập thì họ sẽ có niềm tin vào khả năng tự học của mình,
tự giác khắc phục những thói quen không tốt : học vẹt, học gạo và tâm lý thoả
mãn.
- Khả năng tự học: "Khả năng tự học tồn tại khách quan ở mọi người
không bị khuyết tật tâm thần" [32;10] nói như vậy có nghĩa là mọi người bình
thường đều có khả năng tự học dù ít hay nhiều. Nếu ai biết tận dụng và phát
triển năng lực bẩm sinh đó thì người đó sẽ có khả năng tốt trong hoạt động tự
học, tự nghiên cứu.
- Khả năng nhận thức: Nói đến khả năng nhận thức là nói đến năng lực
hoạt động trí tuệ, hay chỉ số thông minh (IQ) của người học. Những người có
chỉ số thông minh cao sẽ rất thuận lợi cho việc tự học, họ sẽ nhanh chóng hiểu
được vấn đề cần quan tâm và vận dụng nó một cách có hiệu quả chỉ trong một
thời gian ngắn. Tuy nhiên, thông minh chưa phải là tất cả, không phải cứ
thông minh là có kết quả tự học tốt. Theo thống kê chỉ có khoảng 10% số
người thành đạt là thông minh, còn 90% là do cần cù, nhẫn nại; đúng như câu
nói: "Thiên tài phần nhiều do kiên nhẫn".
- Kỹ năng tự học: Là cơ sở ban đầu để người học thực hiện thành thục

+ Phương pháp đào tạo
+ Cơ sở vật chất
Các yếu tố trên có mối quan hệ mật thiết với nhau: mục tiêu chính là cái
đích cần đạt được, khi đã xây dựng được mục tiêu phù hợp thì phải thiết kế
một chương trình, nội dung tương thích với mục tiêu đã đề ra. Mục tiêu và nội 18
dung quy định phương pháp, đào tạo như thế nào để với nội dung đó có thể đạt
được mục tiêu ban đầu. Mục tiêu, nội dung, phương pháp là các yếu tố giữ vai
trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập, tự học. Nếu mục
tiêu, nội dung không phù hợp, không kích thích được lòng ham học tập, ham
hiểu biết của người học; nếu bằng cách dạy theo lối độc thoại thì người học sẽ
trở nên thụ động, khả năng tư duy và làm việc độc lập bị giảm sút. Như vậy
muốn lôi cuốn được người học thì ngoài yếu tố nội dung, mục tiêu phải phù
hợp ra phải kể đến yếu tố rất quan trọng đó là phương pháp giảng dạy. Phương
pháp giảng dạy phải kích thích được nhu cầu hiểu biết để người học tự khám
phá, tự đi tìm chân lý dưới sự điều khiển, dẫn dắt của giáo viên, phải dạy
"cách học" chứ không phải "dạy học" để người học "học một” phải” biết
mười" và có khả năng tự học suốt đời. Ngoài ra có thể kể thêm các yếu tố
khách quan khác như: môi trường học tập, thời gian, cơ sở vật chất…của nhà
trường. Những yếu tố này sẽ góp phần tạo nên thuận lợi hay gây ra những trở
ngại trong việc thực hiện tự học.
- Môi trường xã hội cũng là một yếu tố ngoại lực quan trọng. Lợi thế
của
yếu tố này là Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến giáo dục "Phát triển giáo
dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân. Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục… Khuyến khích,
huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp
giáo dục. Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status