ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN ĐỨC MINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN ĐỐNG ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Công nghệ thông tin
CSVC
Cơ sở vật chất
ĐHSP
Đại học sư phạm
GV
Giáo viên
HĐDH
Hoạt động dạy học
HS
Học sinh
HT
Hiệu trưởng
NXB
Nhà xuất bản
PPDH
Phương pháp dạy học
PTDH
Phương tiện dạy học
TB
Trung bình
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
s
Độ lệch chuẩn
x
Điểm trung bình của CBQL
Toán của học sinh
45
Bảng 2.5a: Đánh giá về quản lý kế hoạch, chương trình dạy học môn Toán
48
Bảng 2.5b: Đánh giá về quản lý phân công dạy học môn Toán
50
Bảng 2.5c: Đánh giá về quản lý việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy môn Toán
52
Bảng 2.5d: Đánh giá về quản lý việc thực hiện kế hoạch bài dạy môn Toán
55
Bảng 2.6: Đánh giá về quản lý việc đổi mới phương pháp, phương tiện và
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Toán
57
Bảng 2.7: Đánh giá về quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi,
phụ đạo học sinh yếu, kém môn Toán
60
Bảng 2.8: Đánh giá về quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Toán
của HS
63
Bảng 2.9: Tác động của những yếu tố thuận lợi trong quản lý HĐDH môn
Toán ở các trường THCS quận Đống Đa thành phố Hà Nội
66
Bảng 2.10: Tác động của những yếu tố không thuận lợi trong quản lý
HĐDH môn Toán ở các trường THCS quận Đống Đa thành phố Hà Nội
Trang
Sơ đồ 1.1. Các chức năng cơ bản của quản lý
20
Sơ đồ 1.2. Sơ đồ diễn tả khái niệm quản lý
21
v
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Danh mục viết tắt
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các sơ đồ
iv
Mục lục
v
MỞ ĐẦU
1
30
1.4.1 Các yếu tố chủ quan
30
1.4.2. Các yếu tố khách quan
31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔN TOÁN Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN ĐỐNG
ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1. Khái quát tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục của quận Đống
Đa thành phố Hà Nội
32
2.1.1. Vị trí địa lý, dân số quận Đống Đa
32
2.1.2. Tình hình kinh tế, chính trị
32
vi
2.1.3. Tình hình văn hóa - xã hội
33
2.2. Thực trạng hoạt động dạy học môn Toán ở các trường Trung học
cơ sở quận Đống Đa thành phố Hà Nội
các trường Trung học cơ sở quận Đống Đa thành phố Hà Nội
65
2.4.1. Những yếu tố thuận lợi trong quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở
các trường THCS quận Đống Đa thành phố Hà Nội
65
2.4.2. Những yếu tố không thuận lợi trong quản lý hoạt động dạy học môn
Toán ở các trường THCS quận Đống Đa thành phố Hà Nội
68
Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔN TOÁN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
73
3.1. Các định hướng đổi mới hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy
học ở trường phổ thông 73
3.2. Những nguyên tắc đề xuất biện pháp
73
3.2.1. Nguyên tắc về mặt pháp lí
73
3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
73
3.2.3.Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
74
87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
89
1. Kết luận
89
2. Khuyến nghị
90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
92
PHỤ LỤC
94 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI - thế kỉ của khoa học công nghệ - động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội. Tri thức và thông tin trở thành yếu tố hàng đầu và là nguồn tài nguyên có
giá trị nhất. Các nước trên thế giới kể cả các nước phát triển cũng như các nước
đang phát triển đều coi Giáo dục và Đào tạo là nhân tố quyết định sự phát triển
nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Đại hội Đảng lần thứ XI đó đặt ra mục tiêu phát triển là “… Phát triển kinh tế
nhanh, bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững ổn
định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại…”.
Đại hội Đảng cũng đã khẳng định “Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học công nghệ và kinh tế tri
thức là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa -
hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp trung học cơ sở (THCS) là cầu nối
giữa tiểu học và trung học phổ thông (THPT) tiếp tục thực hiện yêu cầu giáo
dục cơ sở định hướng cho học sinh (HS) học lên hoặc học nghề, vào đời tùy theo
năng lực, điều kiện hoàn cảnh của HS, đồng thời đáp ứng những đòi hỏi của xã hội.
Cấp học này có vai trò quan trọng đến chất lượng học tập và quá trình hình thành,
phát triển nhân cách của HS, lứa tuổi THCS.
Môn Toán trong nhà trường THCS là công cụ để học tập những môn học
khác và vận dụng vào trong đời sống thực tế. Cùng với tri thức, môn Toán ở trường
THCS còn cung cấp cho HS những kĩ năng toán học. Ngoài ra, nó còn góp phần
phát triển nhân cách, năng lực trí tuệ, rèn luyện những đức tính, phẩm chất của
người lao động mới cho HS THCS.
Quản lý hoạt động dạy học (HĐDH) ở trường THCS là một công việc không
hề dễ đối với nhà quản lý và còn khó khăn hơn đối với việc quản lý HĐDH môn
Toán. Do vậy, đổi mới và nâng cao chất lượng quản lý giáo dục, nâng cao trình độ
nghiệp vụ quản lý cũng như việc nhận thức đúng về công tác quản lý HĐDH môn
Toán của nhà quản lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán ở cấp
THCS. Xuất phát từ những cơ sơ lý luận và thực tiễn trên, tôi chọn đề tài nghiên 3
cứu: “Quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở các trường Trung học cơ sở quận
Đống Đa thành phố Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng, đề xuất các biện
pháp quản lý HĐDH môn Toán nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả HĐDH
môn Toán ở các trường THCS quận Đống Đa thành phố Hà Nội .
3. Khách thể nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu
3.2. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy học ở các trường THCS
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Quan điểm tiếp cận lịch sử - logic giúp người nghiên cứu xác định phạm vi
không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể để điều tra thu thập số liệu chính
xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, đồng thời trình bày công trình nghiên cứu
theo một trình tự logic.
6.1.3. Quan điểm tiếp cận thực tiễn
Quan điểm tiếp cận thực tiễn giúp phát hiện những ưu điểm, mâu thuẫn, tồn
tại trong công tác quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS quận Đống Đa, từ
đó đề xuất được các biện pháp phù hợp với thực tiễn các trường THCS thành phố
Hà Nội.
6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa những vấn đề lý luận từ sách,
báo, tài liệu và văn kiện, văn bản có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho
vấn đề nghiên cứu.
6.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm nhằm thu thập thông tin qua việc quan sát
hoạt động quản lý dạy học môn Toán ở các trường THCS.
6.2.2.2. Phương pháp điều tra giáo dục
a) Mục đích điều tra:
Thu thập thông tin, số liệu, tư liệu về thực trạng quản lý HĐDH môn Toán và
biện pháp quản lý HĐDH môn Toán ở các trường THCS quận Đống Đa thành phố
Hà Nội nhằm minh chứng cho giả thuyết khoa học. 5
b) Nội dung điều tra:
- Thực trạng HĐDH môn Toán và công tác quản lý HĐDH môn Toán ở các trường
THCS quận Đống Đa thành phố Hà Nội , những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Khảo sát tính cần thiết và khả thi của hệ thống các biện pháp đề xuất.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Ở ngoài nước
Như chúng ta đã biết toán học có nguồn gốc thực tiễn. Số học ra đời trước hết
do nhu cầu đếm. Hình học phát sinh do sự cần thiết phải đo lại ruộng đất bên bờ
sông Nin (Ai cập) sau những trận lụt hàng năm. Khi nói đến nguồn gốc thực tiễn
của Toán học cũng cần nhấn mạnh cả nguồn gốc thực tiễn của chính các quy luật
của logic hình thức được sử dụng trong toán học. Lênin đã viết: “Những hình thức
và quy luật logic không phải là cái vỏ trống rỗng mà là sự phản ánh thế giới khách
quan, thực tiễn của con người, được lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần, sẽ được củng
cố vào ý thức người ta dưới những hình thức của logic học”.[13] Theo Ăng ghen,
“Đối tượng của Toán học thuần túy là những hình dạng không gian và những quan
hệ số lượng của thế giới khách quan”. [13]
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) với quan điểm dạy học gắn liền với
PPDH môn Toán hiện nay là: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến
phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ. Đòi hỏi học trò phải tập
luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không
biết mỏi”. [16] Quan điểm của ông muốn mang lại hiệu quả dạy học phải đề cao đến
các quy định về nề nếp dạy học, nâng cao trình độ của người dạy để lựa chọn được
những PPDH theo hướng đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ
và sáng tạo của người học.
J.A.Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra những quan điểm về HĐDH mà chúng
ta có thể vận dụng trong HĐDH môn Toán. Theo ông quá trình dạy học để truyền
thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật hiện tượng do HS tự quan sát, tự
suy nghĩ mà hiểu biết, không nên áp đặt, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều
gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn: nguyên tắc trực
quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên
THCS quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Như Thắng, 8
- Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hướng đổi mới ppdh ở các trường THCS
huyện Ninh Giang – tỉnh Hải Dương của tác giả Nguyễn Thị Phương,
- Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trong điều kiện thực
hiện Chương trình phân ban ở các trường THPT Huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội
của tác giả Lê Viết Hùng
- Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng trường
THCS quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội của tác giả Lương Bích Hằng,
- Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy và học môn toán đối với các trường THPT
của sở GD & ĐT tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Như Minh…
Từ các công trình nghiên cứu kể trên, tôi nhận thấy có rất ít công trình nghiên
cứu sâu về quản lý HĐDH các bộ môn nói chung và môn Toán nói riêng ở các
trường THCS quận Đống Đa thành phố Hà Nội và đây cũng là một trong những lý
do tác giả viết bài luận văn này.
1.2. Cơ sở lý luận về hoạt động dạy học môn Toán ở trƣờng Trung học cơ sở
1.2.1. Khái niệm về hoạt động dạy học và hoạt động dạy học môn Toán
1.2.1.1. Hoạt động dạy học
HĐDH dùng ở đây được hiểu là dạy học trong nhà trường – một bộ phận của
hoạt động giáo dục tổng thể chứ không hàm ý nói đến dạy học nói chung (dạy học
trong cuộc sống). Hoạt động dạy học bao hàm hai hoạt động tương hỗ cơ bản là
hoạt động dạy (của GV) và hoạt động học (của HS)
Khi xem xét HĐDH, có nhiều cách tiếp cận khác nhau như tiếp cận hướng vào
hoạt động dạy của thầy hoặc tiếp cận hướng vào hoạt động học của trò. Dạy học hướng
vào hoạt động học của trò thì trọng tâm của HĐDH được đặt vào hoạt động học của
HS chứ không phải vào hoạt động dạy của GV. Nói cách khác, GV là người tổ chức
việc học, gợi cho HS khám phá và tạo dựng kiến thức, tạo ra các môi trường học tập
mạnh mẽ; nâng cao chất lượng học tập, v.v…
HĐDH môn Toán là hoạt động GV tổ chức, hướng dẫn, điều khiển học sinh
tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng cơ bản của Toán học và hình thành
hoặc biến đổi những tình cảm, thái độ học tập ở HS. Các HĐDH môn Toán được
thực hiện trong quá trình hình thành kiến thức toán học hoặc vận dụng nội dung
kiến thức đó. HĐDH môn Toán ở trường THCS thường liên quan đến các dạng hoạt
động sau:
- Nhận dạng và thể hiện: một phương pháp, một quy tắc, một định lý,… 10
- Những hoạt động toán học phức hợp: định nghĩa, chứng minh, giải toán quỹ
tích, giải toán dựng hình,…
- Những hoạt động trí tuệ phổ biến trong toán học: lật ngược vấn đề, xét tính giải
được, phân chia trường hợp,…
- Những hoạt động trí tuệ chung: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa,
khái quát hóa,…
- Những hoạt động ngôn ngữ: khi yêu cầu HS phát biểu một tính chất, giải thích
một định nghĩa, trình bày lời giải một bài toán,…
1.2.2. Vị trí, vai trò của môn Toán ở trường Trung học cơ sở
Ở trường THCS, môn Toán giữ một vị trí hết sức quan trọng:
- Môn Toán là môn học công cụ: do tính trừu tượng cao độ, Toán học có tính
thực tiễn phổ dụng. Những tri thức và kĩ năng toán học cùng với những phương
pháp làm việc trong toán học trở thành công cụ để học tập những môn học khác
trong nhà trường, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác nhau, là công cụ để
tiến hành những hoạt động trong đời sống thực tế và vì vậy là một thành phần
không thể thiếu của nền văn hóa phổ thông của con người mới.
- Môn Toán ở trường THCS còn góp phần phát triển nhân cách: ngoài việc cung
cấp cho HS những kiến thức và kĩ năng Toán học cần thiết, môn Toán còn có tác
dụng góp phần phát triển năng lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng
hóa, khái quát hóa, rèn luyện những đức tính, phẩm chất của người lao động mới
thực tiễn Việt Nam theo tinh thần giáo dục kĩ thuật tổng hợp; đồng thời trau dồi cho HS
khả năng vận dụng những hiểu biết toán học vào việc học tập các môn học khác, vào
đời sống lao động sản xuất, chiến đấu và tạo tiềm lực tiếp thu khoa học kĩ thuật.
- Phát triển năng lực trí tuệ chung như: tư duy trừu tượng và trí tưởng tượng, tư
duy logic và tư duy biện chứng, rèn luyện các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so
sánh, khái quát…, các phẩm chất tư duy linh hoạt, độc lập, sáng tạo v.v…
- Giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức và thẩm mĩ. Thông qua HĐDH
môn Toán góp phần bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, rèn luyện
cho HS phẩm chất của người lao động mới đó là: làm việc có mục đích, có kế
hoạch, có phương pháp, có kiểm tra, tính cẩn thận, chính xác, kỷ luật, tiết kiệm,
sáng tạo, dám nghĩ dám làm, có óc thẩm mĩ, có sức khỏe, dũng cảm bảo vệ chân lý,
xây dựng và bảo vệ tổ quốc. 12
- Bảo đảm chất lượng phổ cập giúp cho HS có kiến thức toán học phổ thông, bất
kể sau này họ làm nghề gì và hoạt động trong lĩnh vực nào. Đồng thời chú trọng
phát hiện và bồi dưỡng một số học sinh có năng khiếu, tài năng về toán để góp phần
xây dựng nền khoa học kĩ thuật và nền Toán học Việt Nam, mau chóng rút ngắn
khoảng cách giữa nước ta với các nước tiên tiến.
- Bên cạnh đó, HĐDH môn Toán ở trường THCS góp phần thực hiện mục tiêu
dạy học môn Toán phổ thông trung học nói chung và THCS nói riêng.
- HĐDH môn Toán ở trường THCS tạo điều kiện cho HS nghiên cứu cơ sở của
những môn học khác với sự phong phú và đa dạng của các bộ môn với khối lượng
nội dung lớn và phức tạp hơn, hệ thống hơn ở bậc tiểu học, đáp ứng nhu cầu giáo
dục toàn diện.
1.2.3. Đặc điểm hoạt động dạy học môn Toán ở trường Trung học cơ sở
HĐDH môn Toán là hoạt động kép gồm hoạt động dạy của GV Toán và hoạt
động học môn Toán của HS. Trong đó, hoạt động dạy của GV Toán giữ vai trò chủ
đạo, truyền thụ, tổ chức, điều khiển, hướng đến hoạt động học môn Toán của HS,
HS tiểu học.
Ở THCS hoạt động học tập môn Toán diễn ra theo phương thức học và hành,
học – hành gắn với nhau qua đó để hình thành các kỹ năng cần thiết.
+ Nội dung học tập môn Toán ở THCS được mở rộng và chuyên sâu hơn. Bởi
vì, THCS là cấp học có tính lý luận gắn với thực hành theo từng môn học, có tính
chuyên sâu, từng bước HS nắm được những khái niệm khoa học và nhận thức
được các quy luật về tự nhiên, xã hội và con người.
Hoạt động dạy của GV và hoạt động học môn Toán của HS tồn tại trong sự
thống nhất và tương tác lẫn nhau, cùng hướng đến thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ
dạy học môn Toán.
Tóm lại, từ những đặc điểm nêu trên cho thấy hoạt động dạy của GV và hoạt
động học môn Toán của HS ở trường THCS có những nét riêng, do vậy HĐDH
môn Toán cũng phải chú ý đến những nét riêng đó và mang nét đặc trưng của cấp
học trong dạy học môn Toán ở trường THCS.
1.2.4. Đổi mới hoạt động dạy học môn Toán ở trường Trung học cơ sở
1.2.4.1. Về mục tiêu dạy học môn Toán
a) Mục tiêu chung môn Toán 14
- Mục tiêu chung của dạy học môn Toán hướng tới thực hiện mục tiêu giáo dục
của cấp học THCS, đó là: HS có trình độ học vấn THCS; hiểu biết ban đầu về kĩ thuật
– hướng nghiệp (để có thể phân luồng: học tiếp phổ thông, kĩ thuật, hướng nghiệp hoặc
đi vào cuộc sống). Mục tiêu giáo dục cấp THCS đã được mở rộng, nhấn mạnh tính toàn
diện: “Dạy chữ - dạy người – dạy nghề”. Các kiến thức và kĩ năng thực hành được
củng cố để tạo ra bốn năng lực chủ yếu sau: “Năng lực hành động; Năng lực thích ứng;
Năng lực cùng sống và làm việc; Năng lực tự khẳng định mình”. Phù hợp với bốn trụ
cột giáo dục thế giới thế kỉ XXI: “Học để biết; học để làm việc; học để làm người; học
để hòa nhập”. Bốn trụ cột này phải dựa trên nền tảng, cũng là hai đặc trưng cơ bản –
mới của giáo dục thế kỉ XXI: “học tập suốt đời và xã hội học tập”.
- Tăng tính thực tiễn, thực hành, hình thành khái niệm thông qua sử dụng thiết bị
dạy học một cách hợp lý.
- Đảm bảo vừa sức, khả thi. Thực hiện được yêu cầu về giảm tải: tích hợp các nội
dung phù hợp, lược bỏ nội dung trùng nhau.
- Giảm số tiết trên lớp, tăng thời gian tự học và ngoại khóa.
1.2.4.3. Về phương pháp dạy học môn Toán
- Phương pháp dạy học (PPDH) môn Toán đổi mới theo hướng phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù
hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, tạo được hứng thú học tập cho HS, tận dụng được công nghệ mới nhất; Khắc
phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn, phát huy cao
năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin; Tăng cường học tập
cá thể phối hợp với hợp tác…
- Theo hướng đổi mới nói trên, nên quan tâm tới một số PPDH tích cực trong
môn Toán dưới đây:
+ Dạy học vấn đáp, đàm thoại
Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS
trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội
dung bài học môn Toán. Phương pháp này là tăng cường hình thức hỏi – đáp, đàm
thoại giữa GV và HS, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề
trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu
hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức
năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các yếu tố kết nối các câu hỏi, thứ tự hỏi. GV 16
cũng cần dự kiến các phương án trả lời của HS để có thể chủ động thay đổi hình
thức, cách thức, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu,
nhàm chán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập của HS và tăng tính hấp dẫn của
giờ học môn Toán. Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa
phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi
mới PPDH môn Toán, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH môn Toán
càng đổi mới…
1.2.4.4. Về phương tiện dạy học môn Toán
- Các phương tiện dạy học (PTDH) khác nhau có những chức năng sư phạm
khác nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau, nếu được sử dụng đúng đắn thì hiệu quả dạy học
có thể được nâng cao rõ rệt. Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, trong quá trình
dạy học môn Toán cần quan tâm đến các PTDH sau đây:
+ Phim chiếu để giảng bài môn Toán với đèn chiếu Overhead.
+ Phần mềm hỗ trợ bài giảng, minh họa trên lớp với LCD – projector (máy chiếu
tinh thể lỏng) hay còn gọi là video – projector.
+ Phần mềm dạy học môn Toán giúp HS học trên lớp và ở nhà như:
GEOMETRIS, SKETCHAPD, MAPLE, VIOLET…
+ Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính.
+ Sử dụng mạng Internet để dạy học toán. - Dạy học môn Toán với PTDH hiện
đại trên sẽ có các ưu thế sau:
+ GV chuẩn bị bài dạy một lần thì sử dụng được nhiều lần.
+ Các phần mềm dạy học môn Toán có thể hỗ trợ cho GV, tăng tính năng động
cho người học, cho phép HS học theo khả năng.
+ Các PTDH hiện đại sẽ tạo ra khả năng để GV trình bày bài dạy môn Toán sinh
động hơn.
+ Các PTDH sẽ hỗ trợ, chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những
phần khó giảng, những khái niệm phức tạp của môn Toán.
1.2.4.5. Về hình thức tổ chức dạy học môn Toán
- Tổ chức giờ học toán: cần hiểu mục tiêu là để đổi mới PPDH môn Toán, tạo
điều kiện tốt nhất để HS phát huy được tính tích cực, chủ động trong tiếp thu bài
giảng, huy động được mọi HS làm việc, đánh giá được khả năng làm việc, tích cực
làm việc cũng như kết quả của từng HS. Tuy nhiên không nên máy móc, các tiết
toán nào cũng đủ mọi cách tổ chức: phiếu học tập, học theo nhóm…