Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các môn học thuộc khối kiến thức chung trong chương trình đào tạo sau đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÙNG THẾ NGHỊ
TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ ĐỐI VỚI CÁC
MÔN HỌC THUỘC KHỐI KIẾN THỨC CHUNG TRONG CHƯƠNG
TRÌNH ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC Ở ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05 Hà Nội – 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
3. Mục tiêu nghiên cứu…………………………………………… … …… 8
4. Phạm vi nghiên cứu……………………………………….………… ……8
5. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu………………. …… 8
6. Giả thuyết nghiên cứu…………… …………….………………… …… 9
7. Phương pháp nghiên cứu………………………………….……… …… 9
8. Cấu trúc luận văn………………………………………………… 9

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
1.1. Các khái niệm công cụ ………………… ……………………… ….11
1.1.1. Đào tạo ……………………………………………………………… 11
1.1.2. Tổ chức đào tạo ………….………… …… ………… 11
1.1.3. Các chức năng quản lý ……… …………… ……………… … 11
1.1.4. Nội dung chức năng tổ chức…………………………………… … 12
1.2. Vài nét về học chế học phần áp dụng trong đào tạo ở đại học và sau đại
học nước ta
1.2.1. Bản chất của học chế học phần……………………………………….13
1.2.2. Việc triển khai học chế học phần……………………………….…….14
1.3. Đào tạo và tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ…………….………… 15
1.3.1. Lịch sử giờ tín chỉ và quá trình áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ của
một số nước ………………………… …………………………….………15
1.3.2. Khái niệm tín chỉ (credit)……………………………… ……………17
1.3.3. Hệ thống tín chỉ………………………… ……………….………….18
1.3.4. Đơn vị tín chỉ (credit unit)………………………………… …….… 19
1.3.5. Giờ tín chỉ (credit hour)…………………………………….….…… 19
1.3.6. Chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ………………….….…… 20
1.3.7. Hình thức tổ chức dạy học trong học chế tín chỉ……….…….… … 21

2
1.3.8. Phương pháp kiểm tra đánh giá trong học chế tín chỉ……………… 22
1.3.9. Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ … ………… ….……………23

2.5. Một số nguyên nhân của thành công và hạn chế trong đào tạo môn chung
ở bậc sau đại học theo học chế tín chỉ ở các đơn vị trong ĐHQGHN …… 61
2.5.1. Nguyên nhân của thành công……………………… ……………….61
2.5.2. Nguyên nhân của hạn chế……………… …………………… …….61

Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
ĐỐI VỚI CÁC MÔN CHUNG TRONG CHƢƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO SAU ĐẠI
HỌC Ở ĐHQGHN
3.1. Nguyên tắc lựa chọn các biện pháp…………….……….…… ……….63
3.1.1. Các biện pháp cần có tính hệ thống và đồng bộ…….…… …………63
3.1.2. Các biện pháp đề xuất cần phải có tính khả thi……… …… ………63
3.1.3. Các biện pháp đề ra phải mang tính hiệu quả………….….………….63
3.2. Các biện pháp cụ thể
3.2.1. Biện pháp 1: Quản lí các điều kiện triển khai quá trình đào tạo theo học
chế tín chỉ…………………………………………….………….………… 64
3.2.2. Biện pháp 2: Xây dựng “văn hóa tín chỉ” cho các thành viên tham gia
đào tạo theo học chế tín chỉ………………………………………….………76
3.2.3. Biện pháp 3: Đổi mới quá trình tổ chức đào tạo để phù hợp với phương
thức đào tạo theo học chế tín chỉ………………………… ……………… 82
3.2.4. Biện pháp 4: Xây dựng hệ thống thông tin quản lý để triển khai các nội
dung tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ………………………… ….……89
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp………………… ….…….………… 94
3.4. Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp…… …… ….94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ………………………….………… … … 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………… ………………………… 102
PHỤ LỤC………………………………………… ……………………… 106

4
MỞ ĐẦU


trưởng Bộ GD&ĐT) tại Tiêu chuẩn 4, tiêu chí 2 cũng đề ra: “Thực hiện chế
độ công nhận kết quả học tập của người học (tích lũy theo học phần); chuyển
quy trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ”:
Mức 1: thực hiện chế độ tích lũy kết quả học tập theo từng học phần.
Có kế hoạch tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ.
Mức 2: tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đi vào ổn định”.
Để thực hiện được các chủ trương của Nhà nước về mở rộng học chế
tín chỉ, cần khẩn trương xây dựng một lộ trình chuyển đổi từ học chế học
phần hiện nay sang học chế tín chỉ trong toàn hệ thống giáo dục đại học và
sau đại học.
Luật Giáo dục sửa đổi (được Quốc hội thông qua ngày 20/5/2005) đã
đề cập: “Về chương trình giáo dục: đổi mới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục
đại học có thể được tiến hành theo hình thức tích lũy tín chỉ hay theo niên
chế”.
Nghị quyết của Chính phủ số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 về đổi
mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã
đề ra: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ
thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển
đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong
nước và ở nước ngoài”.
Với quan điểm chỉ đạo: “Hiện đại hóa hệ thống giáo dục đại học trên
cơ sở kế thừa những thành quả giáo dục đào tạo của đất nước, phát huy bản
sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, nhanh chóng tiếp cận xu thế phát
triển giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới”.
Với mục tiêu chung: “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học,
tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và quy mô, đáp ứng yêu

6
cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế
quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân. Đến năm 2020, giáo dục đại học

Trong bộ Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đơn vị đào tạo ĐHQGHN
(ban hành theo Quyết định của Giám đốc ĐHQGHN số 05/QĐ-KĐCL ký
ngày 13/12/2005) tại tiêu chuẩn 4, tiêu chí 2 đã đề ra yêu cầu “Chuyển quy
trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ”; có 4 mức, trong đó
mức 1 và mức 2 như quy định của Bộ GD&ĐT; mức 3 và mức 4 là quy định
riêng của ĐHQGHN, để đạt mức 3 đơn vị đào tạo phải “tham gia các cam kết
về chuyển đổi tín chỉ với các trường đại học trong khối ASEAN” và để đạt
mức 4 đơn vị đào tạo phải “có quan hệ công nhận chuyển đổi tín chỉ với một
số trường đại học uy tín thế giới”.
Trong kết luận của hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Đảng bộ
ĐHQGHN (khóa III) về các giải pháp đột phá nâng cao chất lượng đào tạo
(số 57/KL-ĐU, ngày 13/1/2006) đã nêu: “Đồng thời với việc ưu tiên áp dụng
các giải pháp đột phá…vẫn phải từng bước thực hiện các biện pháp cơ bản,
có tính thường xuyên, lâu dài sau đây: … Đổi mới nội dung, chương trình,
phương pháp theo hướng từng bước áp dụng phương thức đào tạo theo hình
thức tích lũy tín chỉ và tiếp cận các chuẩn khu vực, quốc tế”.
Thực hiện những chủ trương trên ĐHQGHN đã và đang chỉ đạo các
trường đại học, các khoa, viện, trung tâm trực thuộc chuyển đổi phương thức
đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ. Yêu cầu đó đòi hỏi mọi hoạt động
của các đơn vị đào tạo phải được chuyển đổi một cách phù hợp và đồng bộ,
trong đó có hoạt động tổ chức đào tạo môn học.
Muốn làm được như vậy cần thực hiện ngay từ khâu đổi mới tổ chức
cho phù hợp với hình thức tổ chức đào tạo này. Đây là lí do tại sao tôi chọn
“Tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với các môn học thuộc khối kiến
thức chung (gọi tắt là môn chung) trong chƣơng trình đào tạo sau đại học
ở Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.

8
2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều cuộc hội thảo, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục và

Quốc gia Hà Nội” sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo sau đại
học ở Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu như
sau:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết, các văn kiện của Đảng và Nhà
nước, của Bộ GD&ĐT, của ĐHQGHN về công tác tổ chức đào tạo.
+Phân tích các tài liệu khoa học, sách báo có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu.
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, khảo sát thực tiễn
+ Phương pháp điều tra, thu thập thông tin, phân tích số liệu, dữ liệu.
Xử lý và sử dụng các thông tin đã thu thập được trong toàn bộ quá trình
nghiên cứu thuộc phạm vi của đề tài.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ
Chương 2: Thực trạng đào tạo và tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ
đối với các môn chung trong chương trình đào tạo sau đại học ở Đại học
Quốc gia Hà Nội
Chương 3: Các biện pháp tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với
các môn chung trong chương trình đào tạo sau đại học ở Đại học Quốc gia Hà
Nội.

10
CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ

1.1.1. Đào tạo

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến
một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi
với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của
mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài
người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với
giáo dục nhân cách”.

Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có
mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền
đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và có hiệu quả”.

1.1.2. Tổ chức đào tạo

Tổ chức đào tạo là quá trình phân công, phối hợp các nhiệm vụ và
nguồn lực để đạt được các mục tiêu đào tạo đã đề ra. Đó là sự liên kết giữa
các thành viên tham gia đào tạo, liên kết quá trình đào tạo, liên kết các hoạt
động trong hệ thống đào tạo để đạt được những mục tiêu đào tạo.

1.1.3. Các chức năng quản lý

Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong việc duy
trì và phát triển một tổ chức, quản lý có bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ đạo và kiểm tra. (Nguyễn Thị Mỹ Lộc. 2003):

12
+ Lập kế khoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của

1.2. Vài nét về học chế học phần áp dụng trong đào tạo ở đại học và sau
đại học nƣớc ta

1.2.1. Bản chất của học chế học phần
Để phù hợp với công cuộc “đổi mới” kinh tế xã hội ở Việt Nam từ năm
1986, trong hệ thống giáo dục đại học và sau đại học cũng triển khai nhiều đổi
mới. Việc đưa học chế “học phần” vào toàn bộ hệ thống giáo dục đại học và
sau đại học Việt Nam từ 1988 đến nay là một trong các đổi mới đó. Học chế
học phần có các đặc điểm cơ bản như sau:
- Bản chất của học chế này là sự tích lũy dần (accumulation) kiến thức:
- Kiến thức được module hóa thành các học phần. Học phần là một
module kiến thức tương đối trọn vẹn và không quá lớn, có thể lắp ghép với
nhau để tạo lên một chương trình đào tạo dẫn đến một văn bằng, người học có
thể lũy dần trong quá trình học tập.
- Để đo lường kiến thức theo khối lượng lao động và học tập của người
học, khái niệm đơn vị học trình (ĐVHT) đã được đưa vào, đơn vị này về bản
chất đồng nhất với khái niệm credit của hệ thống giáo dục đại học ở Mỹ.
- Để làm cho các chương trình đào tạo mềm dẻo, có 3 loại học phần
được quy định: học phần bắt buộc phải học, học phần lựa chọn theo hướng
dẫn của nhà trường và học phần lựa chọn tùy ý. Ngoài ra cũng có quy định về
việc được học thêm ngành đào tạo chính (major), ngành đào tạo phụ (minor)
hoặc thêm văn bằng thứ hai.
- Với tinh thần tích lũy kiến thức, mỗi học phần được đánh giá bằng
một đầu điểm (theo thang 10 bậc) là kết quả tổng hợp của các đánh giá bộ
phận và của một kỳ thi kết thúc. Có quy định điểm tối thiểu cần đạt được
(thường là điểm 5) để xem như học phần được tích lũy. Kết quả học tập chung
của học kỳ, năm học hoặc khóa học được đánh giá bằng điểm trung bình
chung: đó là điểm trung bình của các học phần đã tích lũy với trọng số là số
đơn vị học trình của từng học phần.



15
1.3. Đào tạo và tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ

1.3.1. Lịch sử giờ tín chỉ và quá trình áp dụng đào tạo theo học chế tín chỉ
của một số nước

Vào cuối thế kỷ 19, ở Mĩ, do số lượng học sinh trung học phổ thông ghi
danh vào đại học ngày càng tăng, gây áp lực lớn cho quá trình xét tuyển của
các trường đại học. Hệ thống tín chỉ, do đó, được thiết kế ra để ghi lại và giải
thích một cách tường minh năng lực học tập của học sinh trung học phổ
thông, giúp các chuyên viên trong các phòng đào tạo của các trường đại học
có căn cứ tin cậy để tuyển chọn được những sinh viên có chất lượng theo
những chuẩn mực mà trường đại học của mình đề ra. Từ nguồn gốc đó, hệ
thống tín chỉ dần dần thâm nhập vào các trường đại học, lúc đầu chỉ để ghi lại
điểm số của các môn học lựa chọn, sau đó do áp lực của các nhà tài trợ, các tổ
chức sử dụng lao động yêu cầu phải làm rõ hay lượng hóa năng lực chuyên
môn và kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên và hiệu quả đào tạo của trường đại
học, hệ thống tín chỉ được mở rộng ra tất cả các môn học thuộc các khối kiến
thức khác trong chương trình đại học và trở thành một phương thức đào tạo
chính thức, thay thế cho phương thức đào tạo truyền thống có xuất sứ từ châu
Âu. (Hoàng Văn Vân, 2006).
Tuy mới được phát triển hơn một thế kỷ, nhưng cũng có nhiều quan
điểm khác nhau về nguồn gốc và tiến trình phát triển phương thức đào tạo
theo tín chỉ ở Mĩ. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu giáo dục người Mĩ
Jesica M. Shedd (2003), hệ thống đào tạo theo tín chỉ ở Mĩ có nguồn gốc từ
ba nguyên nhân: thứ nhất, nhu cầu cần phải xử lý đa dạng và sự gia tăng về số
lượng học sinh trung học phổ thông ghi danh vào học ở các trường đại học
trong khi vẫn duy trì các tiêu chuẩn về học thuật; thứ hai, động cơ thay đổi
xuất phát ngay trong nội bộ hệ thống giáo dục đại học Mĩ, thực sự muốn có

Australia, New Zealand, v.v.

17
1.3.2. Khái niệm tín chỉ (credit)

Hiện nay, trong kho tàng nghiên cứu có rất nhiều định nghĩa về tín chỉ.
Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh
định lượng, có định nghĩa lại nhấn mạnh về chuẩn đầu ra của người học, có
định nghĩa lại nhấn mạnh vào mục tiêu của một chương trình học. Một định
nghĩa được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục của Việt Nam biết đến là của học
giả James Quann thuộc Đại học Washinton thì “Tín chỉ học tập là một đại
lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học
một môn học cụ thể, bao gồm: 1) thời gian trên lớp; 2) thời gian ở trong
phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời
khóa biểu; và 3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề,
viết hoặc chuẩn bị bài. Đối với các môn học lý thuyết 1 tín chỉ là một giờ lên
lớp (với 2 giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kỳ 15
tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm thì ít nhất là 2 giờ
trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn học tự học thì ít nhất là
3 giờ làm việc trong một tuần”. (Bản dịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Từ định nghĩa trên, kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác về
tín chỉ và thực tế đào tạo của các đơn vị, tín chỉ ở ĐHQGHN được cụ thể hóa
như sau:
“Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kỹ năng của một
môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất
định thông qua các hình thức: 1) học tập trên lớp; 2) học tập trong phòng thí
nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo
viên); và 3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề
hoặc chuẩn bị bài… Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người
học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu

thời gian học dài hay ngắn do các yếu tố và đặc thù cụ thể của người học mà
không ảnh hưởng đến cấu trúc và chất lượng đào tạo. (ĐHNN - ĐHQGHN,
2008).

19
1.3.4. Đơn vị tín chỉ (credit unit)

Một tín chỉ có một trong các giá trị sau đây:
a. 01 giờ học lý thuyết trên lớp với 2 giờ chuẩn bị bài trong một tuần,
kéo dài trong một học kỳ 15 tuần (tương đương với 15 tiết lý thuyết và 30 tiết
chuẩn bị ở nhà/học kỳ);
b. 02 giờ thực hành, thực tập (gọi tắt là thực hành) ở studio hay trong
phòng thí nghiệm với 1 giờ chuẩn bị bài trong 1 tuần, kéo dài trong một học
kỳ 15 tuần (tương đương với 30 tiết thực hành và 15 tiết chuẩn bị ở nhà/học
kỳ);
c. 03 giờ tự học, tự nghiên cứu được đánh giá và tích lũy vào kết quả
cuối cùng của môn học trong 1 tuần, kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần (tương
đương với 45 tiết tự học, tự nghiên cứu/học kỳ.
Một giờ ở đây là 50 phút. Môn học có số tín chỉ là số nguyên.

1.3.5. Giờ tín chỉ (credit hour)

Tương ứng với ba hình thức tổ chức dạy - học (lên lớp, thực hành và tự
học) là ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín
chỉ tự học. Theo đó, giờ tín chỉ là một trong các giá trị sau đây:
a. Giờ tín chỉ lên lớp: bao gồm 1 giờ học trên lớp nghe giảng (50 phút)
và 2 giờ tự học, tự nghiên cứu ở nhà/1 tuần.
b. Giờ tín chỉ thực hành: bao gồm 2 giờ thực hành có giáo viên hướng
dẫn, giúp đỡ, điều khiển và 1 giờ tự học, tự chuẩn bị bài/1tuần.
c. Giờ tín chỉ tự học: bao gồm 3 giờ tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành

phòng thí nghiệm, thực tập, thực hành ở hiện trường; c) thời gian tự đọc sách,
nghiên cứu, làm bài tập, chuẩn bị xemina ở nhà.
Ngoài các môn học bắt buộc, trong chương trình đào tạo có nhiều môn
học cho người học lựa chọn và khi đã đưa vào chương trình, các môn học này
đảm bảo có người dạy. Do đó, số môn học mà nhà trường tổ chức giảng dạy

21
cho một chương trình bao giờ cũng có tổng số tín chỉ lớn hơn số tín chỉ quy
định mà một học viên phải tích lũy để hoàn thành chương trình đó. Như thế,
với sự hướng dẫn của giảng viên cố vấn học tập, học viên có thể xây dựng
được kế hoạch học tập phù hợp với riêng mình.
Tạo điều kiện thuận lợi cho người học lựa chọn, bố trí kế hoạch học tập
phù hợp với điều kiện và khả năng của mình.
Như vậy, hệ thống tín chỉ cho phép người học chủ động lập kế hoạch
(dưới sự hướng dẫn của cố vấn học tập) cho toàn bộ quá trình học tập tại
trường đại học, tùy thuộc vào các điều kiện cá nhân của từng người. Ngoài ra,
hệ thống tín chỉ còn cho phép người học tích lũy tín chỉ bằng nhiều hình thức
khác nhau, và tự chịu trách nhiệm và kết quả học tập của mình cho từng môn
học cũng như cho cả quá trình học tập trong trường đại học.

1.3.7. Hình thức tổ chức dạy học trong học chế tín chỉ

Hình thức tổ chức dạy học trong học chế tín chỉ là cách thức tổ chức
thực hiện các hoạt động của giảng viên và người học ứng với cách tổ chức
chương trình môn học/bài học, trong đó coi trọng khâu tự học, năng lực
nghiên cứu, thực tập, thực hành, thực tế nhằm tích lũy đủ khối lượng kiến
thức theo yêu cầu của phương thức đào tạo theo tín chỉ.
Có các hình thức tổ chức giờ tín chỉ sau:
- Dạy, học trên lớp: thường là dạy, học giờ lý thuyết gồm nghe thuyết
trình, ghi bài giảng, làm và chữa bài tập, thảo luận và các hoạt động khác do

nghiên cứu và yêu cầu cụ thể đối với hoạt động này.

1.3.8. Phương pháp kiểm tra đánh giá trong học chế tín chỉ

Theo cách đào tạo kiểu niên chế trước đây, kết quả học tập môn học
(học phần) của học viên được đánh giá bằng điểm thi kết thúc học phần. Điều
8, Quy chế đào tạo đại học ban hành theo Quyết định số 04/1999/QĐ-

23
BGD&ĐT ngày 11/2/1999 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT: “điểm để đánh giá kết
quả học tập của học phần lý thuyết là điểm thi kết thúc học phần”; đối với
các học phần có cả thực hành và lý thuyết thì phần thực hành đạt được coi là
đủ điều kiện để được xét dự thi phần lý thuyết và “điểm thi phần lý thuyết là
điểm thi kết thúc học phần”. Quy định này không buộc học viên phải cố gắng
học tập thường xuyên và do vậy họ chỉ tập trung học vào thời gian chuẩn bị
thi kết thúc học phần.
Trong học chế tín chỉ người ta đánh giá kết quả học tập của học viên
không chỉ bằng các bài kiểm tra và bài thi cuối môn học mà còn bằng cách
đánh giá: a) các hoạt động trên lớp (số buổi có mặt, thái độ theo dõi bài
giảng, thảo luận); b) tự học ở nhà (qua nội dung phát biểu thảo luận trên lớp,
thời gian và chất lượng hoàn thành bài tập ở nhà do giảng viên giao); c) làm
việc trong phòng thí nghiệm, đi thực tế; d) bài thi kết thúc môn học. Học viên
cũng được thông báo về cách thức và trọng số đánh giá kết quả học tập như
trên ngay từ khi bắt đầu môn học trong bản đề cương môn học (syllabus) mà
giảng viên phát cho mình và được thể hiện trong các quy định pháp lý của nhà
trường. Việc đánh giá liên tục các hoạt động học tập làm giảm nhẹ sức ép của
thi cử cuối học kỳ, làm giảm tình trạng nhồi nhét kiến thức để lo thi và do vậy
cho phép học viên hiểu và yêu thích môn học, nâng cao khả năng tự học theo
kiểu nghiên cứu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status