ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦ CAO THỊ THU HẰNG BIỆN PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
CÁC THÀNH PHẦN ĐẢM BẢO HOÀN THÀNH
CÁC MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN GIÁO DỤC
SỬ DỤNG VỐN VAY NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Error! Bookmark not
defined.
2.1. Khái quát về Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông Error! Bookmark not
defined.
2.1.1. Mục tiêu Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Các thành phần Dự án Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Dự án Phát triển giáo dục THPT Error! Bookmark not defined.
2.1.4. Nguồn nhân lực BĐH Dự án trung ương Error! Bookmark not defined.
2.2. Xây dựng kế hoạch trong khuôn khổ Dự án Phát triển giáo dục THPT Error!
Bookmark not defined.
2.2.2. Đặc điểm kế hoạch trong khuôn khổ Dự án PTGD THPT Error! Bookmark not
defined.
2.2.3. Quy trình xây dựng kế hoạch các thành phần Dự án PTGD THPT Error! Bookmark not
defined.
2.2.4. Quy trình thẩm định và phê duyệt các loại kế hoạch trong Dự án PTGD THPT Error!
Bookmark not defined.
2.2.4.1. Quy trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch của Nhà tài trợ: Error! Bookmark not
defined.
2.2.4.2. Quy trình thẩm định, phê duyệt kế hoạch của Bên vay Error! Bookmark not defined.
2.2.5. Điều chỉnh kế hoạch hoạt động các thành phần Error! Bookmark not defined.
2.2.6. Đánh giá việc lập kế hoạch trong khuôn khổ Dự án Error! Bookmark not defined.
2.2.6.1 Mặt mạnh Error! Bookmark not defined.
2.2.6.2. Hạn chế Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined.
CÁC BIỆN PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG CÁC THÀNH PHẦN DỰ ÁN
ĐẢM BẢO HOÀN THÀNH CÁC MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN GIÁO DỤC SỬ DỤNG VỐN
VAY NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN CHÂU Á Error! Bookmark not defined.
3.1. Những nguyên tắc đề xuất các giải pháp Error! Bookmark not defined.
3.1.1. Đảm bảo tính thực tiễn Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Đảm bảo tính khả thi Error! Bookmark not defined.
Đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển (Nghị quyết Trung ƣơng 4
khóa VII và Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII). Chính bởi những lẽ đó, khi
triển khai các đƣờng lối chủ trƣơng của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc thành
các nhiệm vụ kế hoạch, ngoài những khoản chi ngân sách thƣờng xuyên,
Chính phủ còn xây dựng các chƣơng trình mục tiêu cho các tiểu ngành thuộc
hệ thống giáo dục quốc dân để trong một khoảng thời gian nhất định, ta có thể
đạt đƣợc những kết quả, những mục tiêu cụ thể. Thí dụ nhƣ chƣơng trình xóa
mù chữ - phổ cập giáo dục, chƣơng trình phát triển các trƣờng dân tộc nội trú,
chƣơng trình nâng cấp các trƣờng sƣ phạm Bên cạnh các chƣơng trình, thực
chất là dự án, sử dụng nguồn vốn trong nƣớc, từ những năm 1980, với sự hỗ
trợ của UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc), UNESCO (Tổ chức văn hóa,
khoa học và giáo dục Liên hợp quốc) ta đã thực hiện nhiều dự án giáo dục với
quy mô vừa hoặc quy mô nhỏ, nhƣ các dự án về dạy lớp ghép cho vùng sâu
vùng xa, dự án phát triển các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hƣớng
nghiệp, dự án nghiên cứu tổng thể ngành giáo dục. Từ năm 1990 đến nay, với
sự tham gia hỗ trợ của các tổ chức tài chính lớn nhƣ WB (Ngân hàng Thế
giới), ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á), các nhà tài trợ song phƣơng hùng
mạnh nhƣ JICA (Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản), DFID (Cơ quan phát
triển quốc tế Anh), EU (Liên minh Châu Âu) các dự án dành cho giáo dục
ngày một gia tăng.
Công tác lập kế hoạch đang rất đƣợc chú trọng trong thời gian gần đây ở
các cơ quan, tổ chức đặc biệt là trong hoạt động của các Dự án giáo dục sử
dụng vốn vay của nƣớc ngoài để triển khai. Lập kế hoạch tốt cho phép hoàn
thành các mục tiêu đề ra và thực hiện Dự án thành công. Do đặc điểm của Dự
án hoạt động trong khoảng thời gian tƣơng đối ngắn (trung bình khoảng 6 – 8
năm) vì vậy việc lập kế hoạch hoạt động của Dự án có tầm quan trọng để đảm 2
bảo dự án đƣợc triển khai đúng tiến độ, đúng kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu
và hiệu quả nhằm hoàn thành các mục tiêu của một số Dự án giáo dục sử
dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển Châu Á.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành phần
đảm bảo hoàn thành các mục tiêu của Dự án.
Khách thể nghiên cứu: Quá trình xây dựng kế hoạch thực hiện các thành
phần của Dự án giáo dục sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển
Châu Á.
5. Phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động xây dựng kế hoạch thực hiện các thành phần trong khuôn
khổ Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông.
6. Giả thuyết khoa học :
Việc lập kế hoạch các thành phần của dự án chỉ đƣợc thực hiện khi dự án
trở thành khả thi. Việc lập kế hoạch của Dự án nói chung và các thành phần
của Dự án có tính quyết định đảm bảo tiến độ và thực hiện đúng mục tiêu của
Dự án. Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp xây dựng kế hoạch các thành
phần đảm bảo tính khả thi và hiệu quả sẽ góp phần đảm bảo hoàn thành các
mục tiêu của Dự án.
7. Phương pháp nghiên cứu :
Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận.
Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Phƣơng pháp chuyên gia
Điều tra thống kê.
8. Cấu trúc luận văn
Chƣơng I : Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chƣơng II : Thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động các thành phần của
Dự án Phát triển giáo dục Trung học phổ thông 4
tài “Biện pháp quản lý các Dự án hợp tác quốc tế về đào tạo tại trƣờng ĐH
Giao thông vận tải trong giai đoạn hiện nay”, song chƣa có một nghiên cứu
nào cụ thể cho lĩnh vực xây dựng kế hoạch các thành phần nhằm hoàn thành
các mục tiêu của các Dự án giáo dục sử dụng vốn vay nƣớc ngoài.
1.2. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm về quản lý 6
Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có lao động chung của nhiều
ngƣời, cùng theo đuổi một mục đích. Quản lý là dạng hoat động đặc thù của
con ngƣời và là một thuộc tính có trong xã hội ở bất kì trình độ phát triển nào.
Kể từ xã hội nguyên thủy, lao động chung nhiều ngƣời là săn bắt, hái lƣợm, đã
cần có sự quản lý, cho đến nền kinh tế tri thức vẫn cần phải có sự quản lý. Khi
xã hội phát triển, lao động quản lý tách khỏi lao động trực tiếp và trở thành
nghề quản lý. Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra khái niệm
quản lý theo nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Theo Karl Mark: “Bất cứ một lao động mang tính xã hội trực tiếp hay
lao động cùng nhau, đƣợc thực hiện ở quy mô tƣơng đối lớn, đều cần đến mức
độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc
cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ vận động của toàn
bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Mọi
ngƣời chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần ngƣời chỉ
huy” [26, tr. 3].
Theo W.Taylor, ngƣời đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng
bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời
gian lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phƣơng tiện lao động nhằm
tăng năng suât lao động thì: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái
gì cần làm và làm cái gì đó thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”.
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “Quản lý là quá trình gây tác động của
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung”. [1, tr.
16].
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là quá
trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối ƣu các chức năng kế
hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [13, tr. 31]. 8
Dƣới góc độ của khoa học quản lý thì: Quản lý là sự tác động của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu mà
tổ chức đặt ra.
Theo các định nghĩa trên, quản lý là một khái niệm chứa trong mình các
thành tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Ở đây ngƣời
ta nhận diện các dạng quản lý thông qua nội hàm của thành tố chủ thể quản lý,
khách thể quản lý và mục tiêu mà quá trình quản lý hƣớng tới.
Tuy nhiên, bản chất của quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý
thông qua các hoạt động chuyên biệt. Vì thế, quản lý vừa là khoa học, vừa là
nghệ thuật. Nó mang tính khoa học vì các hoạt động quản lý có tổ chức, có
định hƣớng đều dựa trên những quy luật, những quy tắc và phƣơng pháp hoạt
động cụ thể, đồng thời, cũng mang tính nghệ thuật vì nó cần đƣợc vận dụng
một cách sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, đối tƣợng cụ thể, trong sự kết
hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội.
Từ các phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm quản lý “là quá trình tác
động, điều chỉnh có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý
bằng các công cụ quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và đạt
được mục tiêu của tổ chức”.
1.2.2. Các chức năng quản lý
Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích
của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý. Đó là tập hợp
đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong trật tự, kỷ cƣơng nhằm đạt mục
tiêu đề ra.
- Kiểm tra: là công cụ sắc bén góp phần nâng cao hiệu quả quản lý,
kiểm tra nhằm đảm bảo các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời sai sót,
tìm ra nguyên nhân, biện pháp sửa chữa kịp thời. Thông qua kiểm tra mà chủ
thể quản lý đánh giá đƣợc kết quả công việc của mọi thành viên trong tổ chức,
đánh giá đƣợc thực trạng, kết quả vận hành của tổ chức, nhằm phát huy những 10
mặt tốt, đồng thời phát hiện những sai lệch để uốn nắn điều chỉnh một cách
kịp thời, đúng hƣớng, nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình
tự nhất định, chúng có mối quan hệ mật thiêt với nhau, ánh hƣởng qua lại
nhau, làm tiền đề cho nhau, khi thực hiện hoạt động quản lý trong quá trình
quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò
vừa là điều kiện, vừa là phƣơng tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực
hiện các chức năng quản lý và đƣa ra các quyết định quản lý.
Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý và hệ thống thông tin đƣợc biểu
diễn bằng sơ đồ chu trình quản lý nhƣ sau:
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý trong chu trình quản lý [21, tr 11]
1.2.3. Dự án và dự án giáo dục
1.2.3.1 Khái niệm dự án
án, mặc dù cũng chịu sự chi phối của các yếu tố khác.
- Mục tiêu của dự án: Mục tiêu của dự án thƣờng mô tả kết quả cần đạt
đƣợc, những sản phẩm hoặc những dịch vụ cần tạo ra mà chủ dự án quan tâm,
mong muốn khi dự án đƣợc thực hiện thành công. Ngƣời ta có thể phân biệt
các mục tiêu theo các mức độ, tiêu thức khác nhau.
- Quy mô của dự án: yếu tố này quy định những công việc, nội dung
chuyên môn cần thực hiện trong khuôn khổ dự án, những hoạt động mà dự án
và những chủ thể làm việc cho nó cần thực hiện. Tính xác định của quy mô dự
án ảnh hƣởng trực tiếp đến việc tổ chức triển khai dự án sau này. Trên thực tế,
quy mô của dự án cũng có thể đƣợc thay đổi và điều chỉnh trong quá trình xây
dựng, thẩm định, phê duyệt và thực hiện dự án. Sự thay đổi quy mô của dự án
càng chậm bao nhiêu càng có thể nảy sinh nhiều khó khăn bấy nhiêu.
- Đội dự án: đây là tập thể của các chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt
động của dự án, thƣờng bao gồm những tập thể, cá nhân tham dự các hoạt
động của dự án, với những năng lực đƣợc xác định trên cơ sở yêu cầu của dự
án, thƣờng cũng gắn với những hoạt động xác định trƣớc của dự án. Bản thân
khái niệm “đội dự án” hoặc “nhóm dự án” cũng có tính chất động: Trong hầu
hết các dự án, bên cạnh những nhân viên, thƣờng có nhiều chuyên gia ngắn
hạn, chỉ làm việc cho dự án trong những khoảng thời gian rất ngắn, giải quyết 12
những công việc cụ thể, họ có thể đƣợc coi là thành viên trong đội dự án trong
thời gian họ làm việc trong dự án.
- Tiến độ của dự án: thực chất đây là kế hoạch về mặt thời gian của dự
án, trong đó quy định rõ những thời điểm nào phải thực hiện đƣợc những
nhiệm vụ gì hoặc đạt đƣợc những mục tiêu nào. Với những dự án đƣợc xây
dựng một cách khoa học và chặt chẽ, kiểm soát tiến độ là công cụ tốt nhất để
kiểm soát dự án.
- Chi phí và ngân sách cho dự án: đây là yếu tố cho biết nguồn lực tài
Sơ đồ 1.2: Các yếu tố cấu thành một dự án và quan hệ lôgic giữa chúng [24,
tr 10]
1.2.3.2 Đặc điểm Dự án và chu kỳ Dự án
a. Đặc điểm của Dự án
Đặc điểm chung nhất của tất cả các dự án là tính duy nhất của nó. Điều
đó có nghĩa là mỗi dự án chỉ diễn ra một lần, không bao giờ lặp lại, không có
điểm gì chung với các dự án khác. Mặc dù mỗi dự án đều có những điểm khác
biệt làm nên tính duy nhất, song nhìn chung, các dự án thƣờng có đặc điểm
chung sau đây:
(i) Tính xác định về mặt không gian và thời gian:
Các hoạt động quản lý dự án bao giờ cũng đƣợc thực hiện trong những
khoảng thời gian nhất định chứ không phải lâu dài, vĩnh viễn. Bởi vậy, việc
Mục tiêu dài hạn
(Tác động)
Mục tiêu trung hạn
Mục tiêu trung hạn
Các mục tiêu ngắn hạn
Các mục tiêu ngắn hạn
Đầu ra
cụ thể
Các nhà tài trợ
Đầu
14
thiết lập các tổ chức, bộ máy quản trị dự án cũng chỉ có tính chất tạm thời. Về
mặt quản lý, đặc điểm này đòi hỏi các nhà quản lý dự án ngoài việc quan tâm
đến việc hoàn thành các mục tiêu ghi trong văn kiện dự án còn phải nghĩ dài
hơn hơn đó là phải tính đến những tác động sau dự án, tính bền vững của các
hoạt động này.
(ii) Tính mục tiêu rõ ràng
Bất kì một dự án nào cũng đƣợc xây dựng và thực hiện trên cơ sở những
mục tiêu xác định (thƣờng đƣợc làm rõ trong quá trình chuẩn bị, khi đã quyết
định và ghi trong các văn kiện dự án thì chúng đƣợc coi là pháp lệnh và chỉ có
thể đƣợc thay đổi qua những trình tự nhất định). Trong một số trƣờng hợp, các
mục tiêu của dự án đƣợc cụ thể hoá, chi tiết hoá trong quá trình thực hiện dự
án. Các mục tiêu dự án có thể khác nhau, ngay trong cùng một dự án có thể có
nhiều mục tiêu có tính chất khác nhau. Tuy nhiên, không thể có một dự án nào
lại đƣợc quyết định trên cơ sở chƣa có mục tiêu. Hơn nữa, những dự án không
có những mục tiêu rõ ràng thƣờng có những rủi ro tiềm tàng dẫn đến dự án
không thực hiện thành công hoặc không thành công nhƣ mong đợi. Chính vì lí
do đó, khi xem xét một dự án, thƣờng bao giờ cũng xem xét mục tiêu trƣớc
tiên. Nếu mục tiêu của dự án không rõ ràng, không thực tiễn, không mang tính
khả thi thì dự án thƣờng khó có thể thực hiện thành công.
(iii) Không trùng lắp
Đặc điểm không trùng lắp của dự án thể hiện ở chỗ dự án nhằm vào
những mục tiêu không lặp lại một cách thƣờng xuyên và sau khi đạt đƣợc mục
tiêu thì dự án kết thúc, những tổ chức thiết lập cho dự án đƣợc giải tán hoặc
chuyển sang thực hiện nhiệm vụ khác. Tính không lặp lại của dự án làm cho
công việc quản lý dự án đòi hỏi có tính sáng tạo cao đồng thời cũng đòi hỏi có
sự cân nhắc, thận trọng bởi những sai lầm ở đây thƣờng có rất ít cơ hội rút
kinh nghiệm lại.
(iv) Dự án được thực hiện bởi một “nguồn lực” nhất định
hồ sơ khác của dự án… Giai đoạn chuẩn bị dự án thƣờng bắt đầu khi xuất hiện 16
ý tƣởng về dự án và kết thúc khi văn kiện chính thức của dự án đƣợc thông
qua, dự án đƣợc quyết định thực hiện.
b2. Thực hiện dự án
Đây là giai đoạn biến các dự định, ý đồ của dự án do giai đoạn trƣớc đó
vạch ra thành hiện thực. Tuy về bản chất, giai đoạn này có chức năng thi hành,
chấp hành chƣơng trình đã đƣợc hoạch định trƣớc, nhƣng nó cũng có tác động
ngƣợc trở lại, thể hiện ở chỗ giai đoạn này có thể đề xuất những thay đổi trong
các chƣơng trình do giai đoạn trƣớc đề ra. Giai đoạn thực hiện dự án thƣờng
bao gồm các hoạt động mang nặng tính chất điều hành tác nghiệp, đƣợc thực
hiện xen kẽ với các hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá dự án. Trong thực
tiễn, có trƣờng hợp sau khi thực hiện, hầu nhƣ mục tiêu đã bị thay đổi hoàn
toàn do giai đoạn chuẩn bị không kĩ lƣỡng hoặc do điều kiện thực hiện dự án
đã biến đổi mạnh mẽ, nhu cầu về các đầu ra của dự án không còn thích hợp,
nhƣng không thể dừng dự án hoặc nếu dừng dự án sẽ gây những bất lợi lớn về
nhiều mặt.
Trong giai đoạn này, cơ quan chủ quản/chủ đầu tƣ sẽ chỉ đạo, điều phối
việc triển khai các hoạt động đã đƣợc dự kiến trong kế hoạch dự án. Việc này
thƣờng đƣợc bắt đầu bằng việc thành lập Ban quản lý dự án, cụ thể hóa các
hoạt động của dự án. Trên thực tế, hầu hết các dự án đều có nhu cầu điều
chỉnh, sửa đổi trong quá trình thực hiện dự án. Do vậy, khi thiết lập cơ chế
điều hành, thực hiện dự án, luôn cần có những quy định về trách nhiệm ra
quyết định điều chỉnh dự án.
b3. Kết thúc dự án
Đây là giai đoạn cuối cùng, khi các hoạt động nhằm biến các mục tiêu
của dự án thành thực tiễn đã kết thúc, sản phẩm và dịch vụ do dự án cung cấp
về cơ bản đã hoàn thành. Những hoạt động chủ yếu trong giai đoạn này bao
d. Dự án giáo dục
Trong tuyên ngôn của Liên hiệp quốc về quyền con ngƣời có nêu rõ :
Học tập là một trong những quyền con ngƣời. Hồ Chủ tịch, ngay trong cuộc 18
trả lời giới báo chí đầu năm 1946 đã nói : “Tôi chỉ có một ham muốn, ham
muốn tột bậc, đó là dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đƣợc học hành”.
Các nghị quyết của Đại hội Đảng ta luôn nhấn mạnh: giáo dục đào tạo
cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đầu tƣ cho giáo dục
là đầu tƣ phát triển. Chính bởi những lẽ đó, khi triển khai các chủ trƣơng chính
sách, Đảng và Chính phủ ta đã có chủ trƣơng ngoài những khoản chi ngân
sách thƣờng xuyên, còn xây dựng các chƣơng trình mục tiêu cho các tiểu
ngành thuộc hệ thống giáo dục quốc dân để trong một khoảng thời gian nhất
định chúng ta có thể đạt đƣợc những kết quả, những mục tiêu cụ thể. Thí dụ
nhƣ chƣơng trình xóa mù chữ - phổ cập giáo dục, chƣơng trình phát triển các
trƣờng dân tộc nội trú, chƣơng trình nâng cấp các trƣờng sƣ phạm
Có thể phân loại các dự án giáo dục sử dụng vốn trong nƣớc và vốn
ngoài nƣớc thành ba nhóm lớn sau đây: (i) Dự án hỗ trợ kỹ thuật; (ii) Dự án
phát triển ngành (hoặc tiểu ngành); (iii) Dự án đào tạo, huấn luyện, nâng cao
năng lực.
(i) Dự án hỗ trợ kỹ thuật:
Những dự án hỗ trợ kỹ thuật bao gồm hai loại :
Dự án hỗ trợ kỹ thuật nhằm chuẩn bị cho các dự án phát triển ngành hay
tiểu ngành. Trong chu trình của một dự án phát triển, dự án hỗ trợ kỹ thuật
thƣờng là các dự án chuẩn bị, thực hiện việc xác định đối tƣợng đầu tƣ, các
cấu phần của dự án phát triển, tính toán phân bổ ngân sách, xác định các kế
hoạch triển khai dự án, hình thành phƣơng thức giám sát, đánh giá tiến độ thực
hiện và kiểm tra thanh sát dự án, các thủ tục, quy trình mà dự án phải tuân thủ.
Tổng kết đánh giá kết quả hoàn thành việc thực hiện dự án. Loại dự án hỗ trợ
Các dự án phát triển thông thƣờng có quy mô ngân sách khá lớn cũng
nhƣ phạm vi tác động, ảnh hƣởng rộng gồm nhiều địa chỉ và đối tƣợng thụ
hƣởng.
(iii) Dự án đào tạo, huấn luyện, nâng cao năng lực 20
Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, bên cạnh những dự án hỗ trợ kỹ thuật,
những dự án phát triển còn có những dự án thuộc phạm vi đào tạo, huấn luyện
hoặc nâng cao năng lực quản lý, năng lực thực hiện nhiệm vụ. Những dự án
thuộc loại hình này bao gồm việc đào tạo giáo viên, đào tạo cán bộ quản lý,
bồi dƣỡng thƣờng xuyên cho đội ngũ giáo viên đến việc nâng cao năng lực
quản lý cụ thể nhƣ năng lực lập kế hoạch phát triển giáo dục, năng lực quản lý
tài chính trong giáo dục, năng lực giám sát, đánh giá việc triển khai dự án,
chƣơng trình mục tiêu và năng lực đánh giá kết quả, thành tựu học tập của học
sinh một cấp học, bậc học cụ thể.
e. Quy trình thiết kế và xây dựng Dự án giáo dục
Dự án giáo dục đƣợc thiết kế, xây dựng theo quy trình gồm 12 giai đoạn nhƣ
sau:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu các chủ trương, chính sách, chiến lược phát
triển giáo dục của Đảng và Nhà nước, các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham
gia trong lĩnh vực giáo dục
Dự án giáo dục đƣợc xây dựng trên cơ sở xác định các căn cứ khoa học
về thực trạng của ngành giáo dục, các chính sách và chiến lƣợc phát triển giáo
dục của Đảng và Nhà nƣớc, cũng nhƣ các cam kết quốc tế của Chính phủ để
định hƣớng lựa chọn lĩnh vực và đối tƣợng đầu tƣ.
Một số văn kiện thƣờng đƣợc nghiên cứu trong quá trình thiết kế, xây
dựng Dự án giáo dục bao gồm Chiến lƣợc phát triển giáo dục đào tạo 2001-
2010, Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi ngƣời 2003-2015, các
chƣơng trình đổi mới nội dung chƣơng trình, sách giáo khoa phổ thông các
Dự án
Mỗi thành phần của Dự án đƣợc chia thành các hoạt động cụ thể hƣớng
tới mục tiêu Dự án Mục tiêu
của dự án
Cấu phần 1 Cấu phần 2
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Hoạt động 1
Hoạt động 2 22
Sơ đồ 1.3: Mối liên hệ giữa mục tiêu – thành phần – hoạt động của một Dự án
Giai đoạn 8: Phân bổ vốn cho các thành phần và các hoạt động
Việc phân bổ vốn cho các thành phần và các hoạt động đƣợc dựa trên tỷ
trọng giữa các mục tiêu, các thành phần, tính hợp lý và khả thi của các hoạt