ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐỖ THỊ NGA
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƢỠNG CHUYÊN MÔN
CHO GIÁO VIÊN TIẾNG ANH
Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CỦA THỊ XÃ PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN THỊ TUYẾT OANH
Hà Nội – 2010
ii
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm cuả một học viên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của
mình tới các thầy giáo, các cô giáo trong trường Đại học Giáo dục, Đại học
Quốc gia Hà Nội đã giảng dạy và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Trần Thị
BD Bồi dưỡng
BDGV Bồi dưỡng giáo viên
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Nxb Nhà xuất bản
XHCN Xã hội chủ nghĩa
TT GDTX Trung tâm giáo dục thường
xuyên
TT HNKTTH Trung tâm hướng nghiệp kỹ
thuật tổng hợp
QLGD Quản lý giáodục
GD Giáo dục
KHQL Khoa học quản lý
CNH Công nghiệp hóa
HĐH Hiện đại hóa
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1- Lý do chọn đề tài 1
2- Mục đích nghiên cứu: 4
3- Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
2.1.1. Một số đặc điểm về địa lý, kinh tế, xã hội thị xã Phú Thọ 36
2.1.2. Tình hình giáo dục THPT ở thị xã Phú Thọ 37
2.2. Thực trạng dạy và học môn tiếng Anh và đội ngũ giáo viên tiếng Anh
tại các trường THPT của thị xã Phú Thọ 39
2.2.1. Nhận thức của học sinh và Phụ huynh về dạy và học tiếng Anh 39
2.2.2. Quy mô, số lượng học sinh THPT học tiếng Anh ở Thị xã Phú Thọ 41
2.2.3. Loại hình đào tạo và các điều kiện đảm bảo hoạt động dạy và học ngoại
ngữ ở các trường THPT của Thị xã Phú Thọ 42
2.2.4.Thực trạng đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT của Thị xã
Phú Thọ 44
2.2.5. Chất lượng dạy và học tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú
Thọ 45
2.3. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú Thọ 47
2.3.1. Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục và của giáo viên về
hoạt động bồi dưỡng chuyên môn 47
2.3.2.Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh ở
các trường THPT của Thị xã Phú Thọ 48
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
tiếng Anh THPT ở thị xã phú Thọ 62
Tiểu kết chương 2 67
Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI
DƢỠNG CHUYÊN MÔN CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG ANH Ở
CÁC TRƢỜNG THPT CỦA THỊ XÃ PHÚ THỌ 69
vi
3.1. Định hướng đề xuất biện pháp 69
3.2. Nguyên tắc đề xuất biện pháp 75
3.3. Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo
viên tiêng Anh tại các trường THPT của Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ 76
quốc gia, Đảng cộng sản Việt Nam luôn xác định Giáo dục và đào tạo là bộ
phận quan trọng trong sự nghiệp cách mạng quang vinh của Đảng, của dân
tộc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã khẳng định: “Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi
phải phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người-
yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Trong báo cáo chính trị
của Ban chấp hành trung ương Đảng tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
vai trò của giáo dục một lần nữa được khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng
với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực
thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Trong những năm gần đây, với những thành tựu quan trọng đã đạt được
trong sự nghiệp đổi mới, những thành công về chính sách đối ngoại, Việt nam
đã sẵn sàng và vững bước tiến vào thế kỷ 21, đóng góp tích cực vào các thể
chế và hoạt động đa phương với tư cách là một chủ thể chứ không phải là một
khán giả trong các cuộc hội họp quốc tế lớn. Chính vì vậy mà việc sử dụng
thành thạo một hay nhiều ngoại ngữ có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự hợp
tác, phát triển của đất nước. Chưa bao giờ nhu cầu học tập, nghiên cứu ngoại
ngữ lại cấp thiết như hiện nay. Chúng ta không còn bằng lòng khi chỉ biết có
tiếng mẹ đẻ, chỉ giao tiếp trong một cộng đồng duy nhất, tiếng Anh, là một
trong 6 ngôn ngữ chính thức và một trong 2 ngôn ngữ làm việc của Liên hiệp
quốc. Việt Nam nằm trong một khu vực chủ yếu sử dụng tiếng Anh, việc sử
dụng tiếng Anh là một yêu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
2
hoá đất nước. Việc sử dụng tiếng Anh và các ngoại ngữ khác góp phần mở
rộng khả năng của Việt Nam trong việc hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật và
trao đổi văn hoá với bên ngoài. Phát triển giảng dạy tiếng Anh sẽ tạo cho lớp
trẻ Việt Nam tìm thấy một “Lợi thế bổ sung” trong chính sách đối ngoại, tự
chủ, rộng mở, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ đối ngoại, vì hoà bình,
độc lập, phát triển, góp phần nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam,
giáo dục, hoạt động thực tiễn của giáo viên và công tác đào tạo và bồi dưỡng
chuyên môn có một mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau.
Trong thực tiễn giáo dục của nước ta hiện nay, hoạt động bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên có nhiều mục đích khác nhau, vừa nằm đáp ứng
yêu cầu của đổi mới phương pháp giáo dục và dạy học, sử dụng sách giáo
khoa mới; vừa nhằm đáp ứng yêu cầu về chuẩn hóa trình độ được đào tạo và
thỏa mãn nhu cầu phát triển nghề nghiệp của giáo viên. Điều đó đặt ra cho các
đơn vị quản lý cơ sở những đòi hỏi phức tạp đối với hoạt động bồi dưỡng
chuyên môn, đặc biệt trên những địa bàn mà đội ngũ giáo viên không ổn định
và có những nhu cầu khác nhau.
Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên THPT nói chung và đội
ngũ giáo viên tiếng Anh không đồng đều, còn nhiều hạn chế đã gây cản trở
không nhỏ đến việc thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa phân ban
và là nguyên nhân dẫn đến chất lượng môn tiếng Anh chưa cao.
Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, đặc biệt là giáo viên
tiếng Anh ở Phú Thọ đã được quan tâm nhưng chưa thường xuyên, đồng bộ,
kịp thời và còn bị động do đó chưa đem lại hiệu quả. Vì thế, cải tiến quản lý
hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT
của thị xã Phú Thọ là vấn đề cấp bách để vừa nâng cao năng lực trình độ giáo
viên vừa nâng cao chất lượng giáo dục.
4
Vì những lý do trên tôi chọn: “Biện pháp quản lý hoạt động bồi
dƣỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trƣờng Trung
học phổ thông của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ” làm đề tài nghiên cứu
với mong muốn nắm chắc thực trạng và đề xuất những biện pháp quản lý hoạt
động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ở các trường THPT của thị
xã phú Thọ, tỉnh Phú Thọ một cách hiệu quả.
2- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận khoa học quản lý giáo dục và thực tiễn
5.3- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú
Thọ.
6- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài khảo sát hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên
tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ trong 3 năm:
2007-2008, 2008-2009, 2009-2010. Đề xuất biện pháp trong giai đoạn 2010
đến 2015
7- Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.1- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổng hợp các văn kiện của
Đảng về giáo dục, các văn bản, các tài kiệu có liên quan đến đề tài.
7.2- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng phiếu hỏi ý kiến cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên.
- Tọa đàm, phỏng vấn cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên
7.3- Phương pháp sử dụng toán thống kê: Thống kê các số liệu và phân tích
các số liệu
6
8- Cấu trúc luận văn:
Luận văn này gồm: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và
khuyến nghị. Phần nội dung, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho
giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh ở các trường THPT của thị xã Phú Thọ, tỉnh
Phú Thọ
và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng xuất cao hơn trong công
việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý…
tức là phải có người đứng đầu - người quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa
là nghệ thuật bởi quản lý nghiên cứu các luật lệ, các nguyên tắc và phải linh
hoạt trước nhiều tình huống, phải đương đầu với cách ứng xử của con người:
Thương lượng, thuyết phục, vận động sao cho đạt tới mục tiêu. Có rất nhiều
định nghĩa khác nhau về quản lý, trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ
đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu, có liên quan đến hoạt động quản lý.
- Thuật ngữ “Quản lý” thể hiện được bản chất hoạt động này trong thực
tiễn, nó gồm hai quá trình tích hợp vào nhau “Quản” chỉ sự coi sóc, gìn giữ,
duy trì ở trạng thái “ổn định” và quá trình “Lý” chỉ sự sửa sang, sắp xếp, đổi
mới hệ, đưa hệ vào thế “Phát triển”.
- C.Mác viết: “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến
hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu cần có một sự chỉ đạo để điều hoà
sự hoạt động… Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn
nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [12, Tr. 29-30]
- F. W.Taylor khẳng định “Quản lý là biết được chính xác điều bạn
8
muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc
một cách tốt nhất và rẻ nhất.” [16, tr.89]
- Còn H.Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo
đảm sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [23,
tr.31]. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con
người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất
mãn cá nhân ít nhất”.
Ở Việt Nam, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý, có thể nêu ra
một số định nghĩa như sau:
Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, thì định nghĩa kinh điển nhất về hoạt
động quản lý là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý
Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý
Hiện nay các giáo trình KHQL thường thống nhất quản lý có 4 chức
năng cơ bản: Kế hoạch hoá - Tổ chức – Chỉ đạo – Kiểm tra và thường biểu
diễn theo chu trình quản lý ở sơ đồ 1.1. Với quan niệm đó chúng ta có thể
hiểu các chức năng đó như sau:
Kế hoạch hoá
Kiểm tra
Thông tin
Tổ chức
Chỉ đạo
10
hiểu như việc thực hiện đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra đối với toàn bộ các hoạt động giáo dục. Quá trình của hệ quản lý
này dựa trên cơ sở của việc ra quyết định đúng đắn, việc điều chỉnh linh hoạt
và việc xử lý thông tin về các hoạt động giáo dục một cách kịp thời. Quan hệ
cơ bản của quản lý giáo dục là quan hệ của người quản lý với người dạy và
người học trong hoạt động giáo dục. Các mối quan hệ khác biểu hiện trong
quan hệ giữa các cấp bậc quản lý, giữa người với người (giáo viên - học sinh);
giữa người với việc (hoạt động giáo dục); giữa người với vật( cơ sở vật chất,
điều kiện cho giáo dục).
Vậy QLGD về thực chất là quản lý quá trình giáo dục- đào tạo. Quản
lý quá trình GD-ĐT là quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý
các tổ chức sư phạm ở cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch và
chương trình GD-ĐT nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã đặt ra. Quản lý
giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của các nhà quản lý
giáo dục trong việc vận dụng những nguyên lý, phương pháp chung nhất cuả
khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã
đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà
trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình
dạy học- giáo dục theo mục tiêu đào tạo.
Trong giai đoạn hiện nay nhiều sự thay đổi đang diễn ra trong giáo dục
nói chung, ở nhà trường nói riêng. Đó là thay đổi về tư duy giáo dục, mục tiêu
giáo dục, nội dung chương trình giáo dục, và phương pháp giảng dạy… .Việc
thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng lấy người
học làm trung tâm, phát huy tính tích cực của học học sinh theo tinh thần
Nghị quyết 40/2000/QH10 đòi hỏi người thày phải không ngừng học hỏi nâng
cao trình độ chuyên môn. Các nhà quản lý giáo dục muốn đảm bảo được chất
lượng giáo dục, quy mô phát triển của nhà trường phải quan tâm, quản lý
13
Nhà trường phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân được Luật giáo
dục năm 2005 nêu 3 loại trường : Trường tiểu học - Trung học cơ sở -
Trường THPT, ở trong luận văn này khi nhắc đến nhà trường chủ yếu bàn về
trường THPT.
Nhiệm vụ của nhà trường được nêu rõ ở điều 58 - Luật giáo dục 2005:
Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường THPT được nêu rõ trong Điều3 -
Điều lệ trường Trung học ban hành theo quyết định 23/2000/QĐ - BGD& ĐT
ngày 11/7/2000.
* Quản lý nhà trường
Theo tiến sĩ Hoàng Minh Thao (Học viện quản lý giáo dục) “ Nhà
trường luôn luôn là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng
tái tạo nguồn nhân lực theo đơn đặt hàng của xã hội, nhằm phục vụ cho sự
duy trì và phát triẻn xã hội”. [41, tr.65].
Là thiết chế xã hội nên việc quản lý nhà trường phải tuân thủ các quy
luật các nguyên tắc, các khoa học về quản lý xã hội. Tuy vậy,đây là một thiết
chế chuyên biệt để thực hiện chức năng, nhiệm vụ giáo dục nên nhà trường là
một tổ chức sư phạm - xã hội, do đó quản lý trường học vừa có bản chất xã
hội vừa có bản chất sư phạm. Quản lý nhà trường có khác với quản lý đời
sống xã hội và sản xuất. Quản lý nhà trường “Không thể đơn giản thực hiện
sự phân công, phối hợp các lực lượng, các mối quan hệ mà có ý nghĩa hàng
đầu là các vấn đề những tác động tổ chức sư phạm có tính hướng đích đến
toàn bộ các mặt của quá trình giáo dục”. [28, tr.6]
Nhà trường là một thực thể sinh động tạo ra một sản phẩm đặc biệt là
nhân cách con người văn hoá. Nhân cách người được hình thành không phải
là sản phẩm của một giáo viên đơn lẻ mà là sản phẩm của cả một tập thể giáo
viên.
Ma-ca-ren-cô đã từng nói:” Phải là một tập thể các nhà giáo dục và
không ở đâu mà giáo dục không gắn với tập thể và tập thể không có một
Bồi dưỡng được coi là quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu hoặc lạc
hậu, bổ túc văn hóa, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố những kỹ
15
năng về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm theo các chuyên đề. Các hoạt động
này tạo điều kiện cho người giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có điều
kiện củng cố, mở rộng hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp
vụ sư phạm hoặc quản lý giáo dục đào tạo cho lao động nghề nghiệp có hiệu
quả hơn.
“Thuật ngữ bồi dưỡng giáo viên (BDGV) chỉ việc nâng cao , hoàn thiện
trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho các giáo viên đang dạy học”
[26, tr.10]
Bồi dưỡng giáo viên được xem là đào tạo lại (nếu có sự thay đổi chương
trình . SGK, nội dung giáo dục ) hoặc nâng cao nhận thức. Cập nhật kiến thức
và kỹ năng nghề nghiệp, hoặc để đạt chuẩn GV hoặc để nâng chuẩn giáo viên
Khái niệm bồi dưỡng giáo viên trong luận văn này giới hạn ở bồi
dưỡng cho giáo viên về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm để đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục.
Đồng thời bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến đối
tượng giáo dục làm cho làm cho đối tượng giáo dục tăng thêm năng lực, phẩm
chất và phát triển theo hướng tốt hơn. Công tác bồi dưỡng phải được thực
hiện trên nền kiến thức đã được trang bị từ trước.
Mục đích của hoạt động bồi dưỡng là nhằm nâng cao phẩm chất năng
lực nghề nghiệp cuả đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo về phẩm chất tư
tưởng chính trị, kiến thức và kỹ năng sư phạm. Ngoài ra còn bồi dưỡng những
tri thức về khoa học công nghệ hay những thay đổi về hệ thống các văn bản
pháp quy của Đảng và nhà nước về giáo dục.
1.1.2.2. Bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên:
Hiện nay trong thời đại văn minh tri thức, đòi hỏi đối với người giáo
viên lại càng cao. Nhà trường cổ truyền của thời kỳ văn minh nông nghiệp
môn là vấn đề được họ đặc biệt quan tâm. hoạt động của nhà trường luôn
xoay quanh việc phát triển các năng lực đổi mới cho toàn bộ giáo viên của
trường bằng cách thành lập cộng đồng chuyên môn và chia sẻ tri thức. Họ
17
thực hiện nhiều hình thức bồi dưỡng phong phú: Cho giáo viên đi học hỏi
kinh nghiệm từ giáo viên khá, giỏi cử giáo viên đi đào tạo nơi khác để về đào
tạo mẫu; cam kết phát triển tay nghề dài hạn cho giáo viên; cung cấp kiến
thức về công nghệ dạy học và đánh giá (Theo quản lý dựa vào nhà trường con
đường nâng cao chất lượng và công bằng giáo dục - Tiến sĩ Trần Thị Bích
Liễu).
Nền giáo dục Việt Nam trong những năm qua đã có những thành tựu
to lớn nhưng chứa đựng nhiều vấn đề còn bất cập trong đó có vấn đề chất
lượng đội ngũ giáo viên.Trong Hội nghị lần thứ VI - BCH TW Đảng (khoá
IX) kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết TW 2 khoá VIII chỉ rõ những yếu
kém của chất lượng giáo dục “ Vấn đề nổi cộm là giáo dục toàn diện, đặc biệt
là giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa,đạo đức, lối sống cho học sinh,sinh viên
và cả một phần đội ngũ nhà giáo CBQLGD còn chưa đáp ứng nhu cầu, định
hướng giá trị chưa kịp thời” [2, tr.23]
“Phương pháp giáo dục nặng về áp đặt, thường khuyến khích tiếp thu một
cách máy móc, chưa khuyến khích sự năng động sáng tạo của người học, chưa
coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên năng lực tư duy độc lập và năng
lực thực hành” [2, tr.23]
Hội nghị cũng đã vạch rõ vấn đề đặt ra đối với giáo dục hiện nay trong
đó có vấn đề đội ngũ nhà giáo. Hội nghị thẳng thắn nhìn nhận “Đội ngũ nhà
giáo không đồng bộ, vừa thiếu vừa thừa, có một bộ phận nhỏ chưa đạt chuẩn
đào tạo , một số thiếu năng lực giảng dạy và tinh thần trách nhiệm; Tác động
của cơ chế thị trường đã làm mai một phẩm chất của một số nhà giáo gây
ảnh hưởng xấu đến uy tín người thầy trong xã hội. Nhiều trường, nhiều nhà
giáo chưa tích cực chủ động tham gia đổi mới phương pháp , nội dung , chưa
động tạo ra hiệu quả đích thực, nhanh về kinh tế, vật chất” [3, tr.13]
Theo tiến sĩ Philip Jackson: “Giáo viên là người ra quyết định có hiểu
biết, hiểu được học sinh và có khả năng cấu trúc lại nội dung giảng dạy để học
sinh có thể tiếp thu được nội dung đó, đồng thời trong khi dạy biết khi nào
phải dạy cái gì” [3, tr.25]