Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Ngu
yê
n h
tt
p :
//
ww w .
l
r
c
-
t
nu .
e
d u .
v
n
ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN MỘNG HOÀI
BIỆN PHÁP PHỐI HỢP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
n
ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN MỘNG HOÀI
BIỆN PHÁP PHỐI HỢP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
BỒI DƯỠNG CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN
THPT CỦA BCH CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC QUẢNG
NINH
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO
DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần
Kiểm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Ngu
yê
n h
tt
p :
//
ww w .
l
r
c
nu .
e
d u .
v
n
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc PGS.TS. Trần Kiểm đã
tận tình hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn các thày, cô giáo thuộc:
- Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
- Lãnh đạo Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Ninh
- Lãnh đạo, cán bộ Công đoàn, giáo viên các trường THPT tỉnh Quảng
Ninh.
- Bạn bè đồng nghiệp
Đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện để tác giả
học tập, nghiên cứu hoàn thành khoá học và hoàn thành luận văn.
Thái nguyên, tháng 10 năm 2010.
Tác
giả
Trần Mộng
Hoài
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Ngu
yê
n h
tt
và công nghệ, phải được xem là quốc sách hàng đầu”. Hội nghị lần thứ hai
Ban chấp hành trung ương khoá VIII đã khẳng định: Giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ là “ khâu đột phá” của thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ mục tiêu là
"Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao". Để thực hiện được mục tiêu đó phải đổi mới toàn diện giáo dục và đào
tạo, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam làm cho giáo dục và đào tạo cùng
khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu.
Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, có sự biến đổi nhảy vọt về
trình độ khoa học công nghệ và cơ sở vật chất kỹ thuật. Giáo dục - Đào tạo
đang có nhiều cơ hội, đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức mới.
Ngành Giáo dục - Đào tạo của cả nước nói chung và của từng tỉnh, thành phố
nói riêng phải tìm ra phương hướng và giải pháp để đạt mục đích nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Để đáp ứng những
biến đổi to lớn không ngừng xảy ra trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ
thuật, văn hoá và xã hội.v.v vai trò và chức năng của người giáo viên càng
nặng nề hơn. Điều 15 Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ: “Nhà giáo giữ vai trò
quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”.
Từ yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn hiện nay, hoạt động của giáo viên
các trường THPT phải hướng tới giúp học sinh học tập tích cực, chủ động.
sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc; Phải đổi mới
các hình thức tổ chức dạy học, chuyển từ dạy học hướng vào người dạy sang
dạy học hướng vào người học (người học là trung tâm, là chủ thể nhận thức
và hành động), dạy học theo nhóm, hoặc tương tác giữa các cá nhân; Đa dạng
hoá các hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học trở nên sinh động, thân
thiện; Gắn việc học tập trong sách vở và nhà trường với cuộc sống thực tiễn,
kinh nghiệm sống của cá nhân người học, giúp cho học sinh vận dụng kiến
thức đã học ở THPT tiếp tục học cao hơn hoặc để lao động sản xuất. Yêu cầu
dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động phối hợp của Ban chấp hành Công đoàn ngành với Sở Giáo
dục và Đào tạo quản lý toàn ngành giáo dục trên địa bàn tỉnh.
b. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp phối hợp quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên trung
học phổ thông của Ban chấp hành Công đoàn Giáo dục tỉnh.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
a. Giới hạn về chủ thể:
Các biện pháp đề xuất dành cho Ban Chấp hành công đoàn giáo dục
cấp tỉnh phối hợp với lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý hoạt động bồi
dưỡng giáo viên THPT của tỉnh Quảng Ninh.
b. Giới hạn nội dung nghiên cứu:
Việc bồi dưỡng giáo viên có hai khía cạnh chủ yếu: phẩm chất và năng
lực. Do điều kiện hạn chế, tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý
hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung học phổ thông.
c. Giới hạn thời gian: Các số liệu khảo sát thu thập từ năm học 2007-
2008 đến 2009- 2010.
5. Giả thuyết khoa học
Trong việc phối hợp với Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý hoạt
động bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông, nếu Ban chấp hành Công đoàn
giáo dục tỉnh sử dụng các biện pháp theo tinh thần:
- Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của công đoàn và với cơ
chế phối hợp hợp lý với Lãnh đạo Sở,
- Phù hợp với tinh thần chỉ đạo của các cấp quản lý,
- Phù hợp với đặc điểm của đội ngũ giáo viên THPT
thì sẽ góp phần nâng cao trình độ của giáo viên THPT trên địa bàn tỉnh.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
dục tỉnh phối hợp quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo
viên trung học phổ thông.
Chng
1
Cơ sở lý luận của việc Công đoàn phối hợp quản lý
hoạt động bồi dỡng nghiệp vụ s phạm cho giáo viên
THPT
1.1. Khỏi quỏt vn nghiờn cu .
Sinh thi Ch tch H Chớ Minh ó dy: "Bi dng th h cỏch mng
cho i sau l mt vic rt quan trng v rt cn thit". Theo Bỏc thỡ khụng
th ỏp ng c yờu cu cht lng giỏo dc v o to th h tr, tr ct
xõy dng t nc mai sau, nu khụng cú mt nn giỏo dc tt. Ngi thc
s quan tõm xõy dng nn giỏo dc ton dõn, chỳ trng xõy dng i ng
giỏo viờn v s lng v c cu v m bo cht lng phc v phỏt trin
s nghip giỏo dc, s nghip cỏch mng ca ng ngay sau khi Cỏch mng
Thỏng tỏm thnh cụng.
Chin lc phỏt trin giỏo dc 2001-2010 Chớnh ph ó ch rừ: phi
i mi qun lý giỏo dc coi vic o to v bi dng thng xuyờn i
ng cỏn b qun lý giỏo dc cỏc cp v kin thc, k nng qun lý l khõu
then cht thc hin mc tiờu giỏo dc.
ỏnh giỏ tm quan trng ca i ng giỏo viờn, cỏn b qun lý giỏo dc
trong vic nõng cao cht lng giỏo dc v o to, ti Hi ngh ln th hai
Ban chp hnh Trung ng ng khoỏ VIII, nguyờn Tng bớ th Mi ó
núi: Khõu then cht thc hin chin lc giỏo dc l phi c bit chm
lo, o to, bi dng v tiờu chun hoỏ i ng giỏo viờn cng nh cỏn b
qun lý giỏo dc c v chớnh tr, t tng, o c v nng lc chuyờn mụn,
nghip v. u tiờn xõy dng cỏc trng s phm, cú chớnh sỏch thu hỳt ngi
gii vo ngnh s phm.[21,tr13]
Ngh quyt Hi ngh ln th chớn Ban chp hnh Trung ng ng
khúa IX ó cp vn ny nh sau: Tp trung ch o nõng cao rừ rt
cơ cấu, đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ nghiệp vụ,
từng bước hiện đại hoá theo yêu cầu mới vừa cấp bách, vừa lâu dài trong công
cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng
giáo viên có tầm quan trọng lớn, có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục nói chung.
Bồi dưỡng giáo viên là nhiệm vụ phải được tiến hành trong suốt quá trình
công tác của người giáo viên để bổ sung, cập nhật, đào tạo tiếp tục và đào tạo
lại về chuyên môn, nghiệp vụ, giúp cho người giáo viên có trình độ chuyên
môn sâu, rộng và trình độ sư phạm lành nghề. Công tác bồi dưỡng giáo viên
là một trong các nhiệm vụ trong tâm nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới.
Trong thời gian qua, nhiều nhà nghiên cứu lý luận đã nghiên cứu các
vấn đề về văn hoá-giáo dục, bồi dưỡng giáo viên. Nhiều tạp chí, chuyên san,
báo ngành.v.v có nhiều nội dung phong phú bàn về vấn đề nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên và chất lượng đào tao, bồi dưỡng giáo viên. Một số
tác giả như: Vũ Quốc Chung- Đại học sư phạm Hà nội, Nguyễn Quốc Chí-
Vụ Giáo viên- Bộ GD&ĐT đã có bài viết về vấn đề tự học trong đào tạo và
bồi dưỡng giáo viên. Đề tài khoa học cấp Nhà nước có mã số KX 07-04 về:
"Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới" đã nghiên
cứu sâu về vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên hiện nay.
Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước, Chính phủ, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Quảng Ninh có nhiều
biện pháp quan tâm xây dựng, bồi dưỡng khuyến khích nâng cao chất lượng
và thu hút đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên THPT. Trước thực trạng
chất lượng đội ngũ giáo viên, thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi
dưỡng chuyên môn, nhu cầu được bồi dưỡng của giáo viên THPT tỉnh Quảng
Ninh đã có nhiều đề án, đề tài nghiên cứu về các giải pháp nâng cao chất
lượng bồi dưỡng giáo viên THPT của tỉnh như: Đề án “xây dựng, nâng cao
chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh Quảng Ninh
r
c
-
t
nu .
e
d u .
v
n
tượng bị quản lý, sao cho đảm bảo sự cân đối cả hai mặt ổn định và phát triển
của bộ máy. Trong quản lý nếu xét theo phạm vi thì có quản lý vĩ mô và quản
lí vi mô.
Quản lí vĩ mô tương ứng với việc quản lý một hoặc một loạt đối tượng có
quy mô lớn, bao quát toàn bộ hệ thống, còn quản lý vi mô tương ứng với quản
đối tượng ở phạm vi nhỏ hẹp. Tuy nhiên việc phân định giữa quản lí vĩ mô và
quản lý vi mô chỉ mang tính tương đối vì khi quản lý một hệ thống nào đó thì
đó là quản lý vĩ mô nếu đặt trong phạm vi này nhưng lại là vi mô khi đặt trong
phạm vi khác.
Nếu xét theo đối tượng của quản lý thì sẽ có các cấp quản lý như: quản lý
một ngành học, bậc học, cấp học đó. Nếu xét theo phạm vi địa lý thì có quản
lý theo phạm vi cả nước, phạm vi tỉnh, phạm vi huyện, phạm vi xã.
Vì vậy trong quản lý, điều quan trọng là khi xem xét vấn đề quản lý phải
xác định chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và mối quan hệ giữa chủ thể
quản lý và đối tượng quản lý.
nu .
e
d u .
v
n
Các định nghĩa trên về hình thức có thể khác nhau nhưng nó không mâu
thuẫn nhau mà còn bổ sung cho nhau. Tất cả đều nói lên sự tác động của chủ
thể quản lí giáo dục lên hệ thống giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
ngày càng cao hơn.
Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt nên quản lí giáo dục cũng là một
loại quản lý xã hội, nó tuân thủ theo những nguyên tắc, chức năng của quản
lý. Tuy nhiên, đối tượng của quản lý giáo dục là con người, quản lí giáo dục
là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được những mục đích đã đề
ra. Mục đích giáo dục là mục đích do con người đề ra, đó là một mẫu nhân
cách trong tương lai mà người học cần đạt được. Mục đích giáo dục cũng
chính là mục đích của quản lí ( nhưng không phải là mục đích duy nhất). Đây
là mục đích có tính khách quan. Nhà quản lí, cùng với đội ngũ giáo viên, học
sinh, các lực lượng xã hội,v.v bằng hành động của mình hiện thực hoá mục
đích đó. Quản lý giáo dục có những đặc trưng riêng biệt là:
- Quản lý giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội, thu hút
sự tham gia của đông đảo các thành viên xã hội và là hoạt động mang tính
nhân văn sâu sắc.
- Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, vì mục tiêu phát triển giáo dục là
nhằm giáo dục các vấn đề: dân trí- nhân lực – nhân tài, đang thu hút sự quan
tâm tham gia của toàn xã hội.
- Quản lý giáo dục là hoạt động trí óc, vì con người cùng với các mối quan
n
Quản lí giáo dục gồm có quản lí vĩ mô và quản lí vi mô. Quản lí giáo dục
cấp vĩ mô là quản lí toàn bộ hệ thống giáo dục; còn quản lí giáo dục cấp vi
mô là quản lí trường học hay tổ chức giáo dục cơ sở. Trong quản lí giáo dục
thì quản lí nhà trường là quản lí vi mô so với quản lí từ cấp Sở GD&ĐT trở
lên.
Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường đều phải thực hiện đầy đủ các
chức năng quản lý là: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra đánh
giá, thông tin. Các chức năng này có mối liên hệ ràng buộc, bổ sung, hỗ trợ
cho nhau, tạo sự kết nối từ chu trình này sang chu trình sau theo hướng phát
triển, trong đó yếu tố thông tin là trung tâm, là nhân tố quan trọng trong việc
thực hiện các hoạt động của công tác quản lý giáo dục và quản lý nhà trường,
là cơ sở cho việc ra quyết định quản lý. Các chức năng quản lý không phảỉ là
cái "nhất thành bất biến", trái lại nó luôn biến đổi cho phù hợp . Mối quan hệ
giữa các chức năng quản lý được thể hiện trong sơ sơ đồ sau đây:
Kế
hoạch
Kiểm tra
Thông tin
Tổ chức
Chỉ
đạo
Sơ đồ
1.1
1.2.3. Bồi dưỡng
- “Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ
nhằm nâng cao năng lực trình độ nghề nghiệp”[35, tr 216]]
- Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung những thiếu, hụt về tri thức, kỹ
năng hoặc để nâng cao trình độ, mở mang và phát triển những gì đã có, làm
năng lực dạy học và giáo dục qua hình thức đào tạo nào đó, nhằm nâng cao
chất lượng và hiệu quả trong công tác giáo dục và dạy học.
Hoạt động bồi dưỡng giáo viên bao gồm 3 loại hình :
- Hoạt động bồi dưỡng chuẩn hoá và nâng chuẩn.
- Hoạt động bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ (1,2,3) do Bộ chỉ đạo.
- Hoạt động bồi dưỡng tự bồi dưỡng cá nhân.
Mục tiêu bồi dưỡng giáo viên : Bất kỳ loại hình bồi dưỡng nào đều không
ngoài mục tiêu nâng cao trình độ hiện có của mỗi giáo viên, nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu của xã hội. Tuỳ đối tượng, hoàn cảnh và
yêu cầu đặt ra mà công tác bồi dưỡng nhằm thực hiện mục tiêu sát thực. Nhìn
chung, công tác bồi dưỡng giáo viên nhằm thực hiện các mục tiêu sau :
+ Bồi dưỡng để chuẩn hoá trình độ đào tạo (Bồi dưỡng chuẩn hoá)
+ Bồi dưỡng để cập nhật kiến thức (Bồi dưỡng thường xuyên)
+ Bồi dưỡng để dạy theo chương trình và sách giáo khoa (SGK) mới (Bồi
dưỡng thay sách)
+ Bồi dưỡng để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn sau chuẩn về đào
tạo.
- Nội dung của bồi dưỡng giáo viên : là tiếp nối những tri thức đã được
đào tạo ở trình độ ban đầu. Do đó, nội dung bồi dưỡng phải phong phú, phù
hợp với mục tiêu và hình thức của từng loại hình bồi dưỡng và nội dung bồi
dưỡng cần đáp ứng nhu cầu của giáo viên trên từng địa bàn bên cạnh những
nội dung quy định chung của cả nước. Mức độ yêu cầu bồi dưỡng giáo viên
khác nhau đối với các cấp học.
- Phương thức bồi dưỡng giáo viên : Từ quan niệm bồi dưỡng giáo viên
tương đương với đào tạo tiếp tục, có nhiều phương thức bồi dưỡng giáo viên
nhưng phổ biến như sau :
+ Bồi dưỡng tập trung, định kỳ: Bồi dưỡng theo khoá dài ngày hay theo
từng đợt ngắn ngày tại cơ sở đào tạo hay cơ sở bồi dưỡng giáo viên. Giúp cho
giáo viên vượt qua những lạc hậu về tri thức do không được cập nhật tri thức
thường xuyên. Ví dụ như bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên.
đã được đào tạo qua những lớp ngắn hạn và dài hạn nhất định.
1.3 Nhà trường THPT và đặc điểm hoạt động chuyên môn của giáo
viên.
1.3.1. Nhà trường THPT và hoạt động dạy và học.
1.3.1.1. Nhà trường - Thiết chế hiện thực hoá sứ mệnh của nền giáo dục
trong đời sống kinh tế- xã hội. Nhà trường là nơi tổ chức, thực hiện và quản lý
quá trình giáo dục. Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người được
giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy). Trong quá trình giáo
dục, hoạt động của người học (hoạt động học theo nghĩa rộng) và hoạt động
của người dạy (hoạt động dạy theo nghĩa rộng) luôn luôn gắn bó, tác động
qua lại nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để cùng thực hiện mục tiêu giáo
dục.
Cũng có thể hiểu nhà trường là nơi diễn ra học tập của tất cả mọi người
trong xã hội với một mục tiêu đã được đặt ra.
Xét theo khía cạnh xã hội học, nhà trường được coi là cơ quan chủ yếu
thực hiện xã hội hoá cá nhân. Nhà trường trong lịch sử gồm có:
Nhà trường trong xã hội nguyên thuỷ; Nhà trường thời chiếm hữu nô
lệ; Nhà trường thời phong kiến; Nhà trường thời kỳ văn hoá phục hưng; Nhà
trường thời Tư bản chủ nghĩa; Nhà trường khi có chủ nghĩa Mác - Lênin; Nhà
trường hiện đại trong thời kỳ văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp.
Nhà trường trong các thời kì đều có những bản chất:
Bản chất sư phạm: bản chất sư phạm của nhà trường thể hiện là nhà
trường là môi trường học tập có mục đích; có tính tổ chức và kế hoạch cao; có
tính hiệu quả nhờ quá trình diễn ra có ý thức; có tính lý tưởng hoá giá trị xã
hội; có tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính phân biệt đối xử theo
đặc điểm tâm - sinh lý của học sinh (dạy sát đối tượng).
Bản chất xã hội của nhà trường
Xét theo khía cạnh xã hội học, nhà trường được coi là cơ quan chính
yếu thực hiện xã hội hoá cá nhân. “Xã hội hoá là quá trình cá nhân hoà nhập
vào xã hội hay vào một trong các nhóm của họ thông qua quá trình học các
Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm". [24, tr 219]
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân của chúng ta có các loại:
- Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
- Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động;
- Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ
chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo
đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài nhân sách Nhà nước.
Nhiệm vụ và quyền hạn nhà trường: Điều 58 Luật Giáo dục năm 2005
quy định nhà trường có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục
tiêu, chương trình giáo dục; xác nhận hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ theo thẩm
quyền;
- Tuyển dụng, quản lý nhà giáo, cán bộ, nhân viên; tham gia vào quá trình
điều
động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với nhà giáo, cán bộ,
nhân viên;
dục;
hoạt
- Tuyển sinh và quản lý người học;
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật;
- Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá;
- Phối hợp với gia đình người học, tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo
- Tổ chức cho nhà giáo, cán bộ, nhân viên và người học tham gia các
động xã hội;
- Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo