Luận văn tốt nghiệp: Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên Trường Tiểu họcNguyễn Bỉnh Khiêm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục - Pdf 31

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là sự nghiệp quan trọng của đất nước và được coi là nền
tảng của sự phát triển khoa học kỹ thuật. Điều 2 Luật Giáo dục 2005 (sửa
đổi năm 2009) đã ghi: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam
phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Đất nước chúng ta đang bước vào hội nhập, việc
đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng và
phát triển đất nước là nhiệm vụ quan trọng của ngành
giáo dục và đào tạo. Đề tài “Đổi mới căn bản, toàn
diện Giáo dục và Đào tạo” của Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã khẳng định: Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục có vai trò quyết định chất lượng giáo dục,
trong đó đội ngũ các thầy cô giáo ở các nhà trường
nói chung và trong trường tiểu học nói riêng quyết
định trực tiếp đến chất lượng giáo dục.
Trong những năm qua, đứng trước yêu cầu phát
triển đất nước, yêu cầu đổi mới giáo dục và yêu cầu
hội nhập, ngành giáo dục và đào tạo đã có những bước
phát triển, song về quy mô và chất lượng, hiệu quả
giáo dục - đào tạo còn bộc lộ những hạn chế, chưa
đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn và ngày càng cao
về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế xã hội. Về
đội ngũ giáo viên thì: “còn nhiều bất cập về chất
lượng, số lượng và cơ cấu; thiếu động lực tự học và
đổi mới; chưa bắt kịp yêu cầu của đổi mới giáo dục”
[4, tr. 45]. Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiệm vụ quan

chất lượng dạy học và giáo dục của nhà trường sẽ
được nâng cao.
Trong

những

năm

qua,

Trường

Tiểu

học

Nguyễn

Bỉnh Khiêm đã chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao
trình độ cho giáo viên, nhưng nhìn chung chất lượng

2


vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Giáo dục và
đào tạo ngày càng cao theo xu thế hiện đại. Một bộ
phận giáo viên còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, chưa
có trách nhiệm cao, chưa thực sự tâm huyết với nghề,
chưa chú trọng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp
với yêu cầu đổi mới giáo dục tiểu học hiện nay. Vì

công nhất định, song còn nhiều hạn chế. Nếu đề xuất
và áp dụng những biện pháp quản lý hoạt động bồi
dưỡng chuyên môn trong đề tài này thì sẽ nâng cao
chất lượng chuyên môn của đội ngũ giáo viên Tiểu học
Nam Hải đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động
bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tiểu học.
5.2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng công
tác quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm .
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi
dưỡng

chuyên

môn

cho

giáo

viên

Trường

Tiểu

học



viên tiểu học được diễn ra như thế nào ?
- Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên tiểu học đáp ứng những yêu cầu nào?
- Những biện pháp quản lý hoạt động bồi
dưỡng

chuyên

môn

cho

giáo

viên

Trường

Tiểu

học

Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian qua có những tồn
tại gì?
9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm các phần: Mở đầu, 3 chương nội
dung, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và
phụ lục.
3 chương nội dung bao gồm:


học

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận Bình Thạch, Thành phố Hồ Chí

5


Minh

đáp ứng yêu cầu đổi mới

giáo dục.

6


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
CHUYÊN MÔN CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1.Trên thế giới
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng
chuyên môn giáo viên là vấn đề cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo
mọi điều kiện để mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học
tập suốt đời để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp giảng
dạy để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội là phương châm hành
động của các cấp quản lý giáo dục.
Ở Ấn độ vào năm 1988 đã quyết định thành lập hàng loạt các trung



đào tạo lại một lần theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới
phương pháp dạy học.
Tại Thái Lan, từ năm 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở
các trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn
luyện kỹ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã
hội.
Tại Triều Tiên một trong những nước có chính sách rất thiết thực về
bồi dưỡng và đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên. Tất cả giáo viên đều phải
tham gia học tập đầy đủ các nội dung về chương trình nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ theo quy định. Nhà nước đã đưa ra “Chương trình bồi
dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng đội ngũ giáo viên được thực hiện trong
10 năm và “Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn ở nước
ngoài.
Tại

Liên



(cũ)

các

nhà

nghiên

cứu

bước phát triển mới”[38, tr. 76].
Kể từ sau cách mạng tháng Tám thành công và các cuộc cải cách giáo
dục năm 1950, 1956, 1979 và trong những năm “Đổi mới” nhiều công trình
nghiên cứu đã để lại những bài học quý giá về xây dựng và phát triển đội
ngũ GV như: Nguyễn Thị Phương Hoa [27], Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh
Thị Kim Thoa [5]; Bùi Văn Quân, Nguyễn Ngọc Cầu [43],…Các công trình này
nghiên cứu phát triển đội ngũ theo 3 hướng:
a) Nghiên cứu phát triển đội ngũ GV dưới góc độ phát triển nguồn

8


nhân lực.
b) Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới
giáo dục.
c) Nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp xây dựng phát triển
đội ngũ giáo viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, các công trình kể trên hầu hết vẫn còn để lại khoảng
trống nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về chính sách tuyển dụng, sử dụng và
về vai trò, vị trí mới của đội ngũ giáo viên trong tiến trình phát triển
nhà trường Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu
hóa.
Bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động để duy
trì, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, là điều kiện quyết
định để nhà trường có thể đứng vững, thắng lợi trong môi trường cạnh
tranh và hội nhập quốc tế. Vì vậy, công tác bồi dưỡng và phát triển nhân
sự cần phải thực hiện một cách có tổ chức, có kế hoạch và luôn đổi mới
cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển
đội ngũ giáo viên là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi nhà

và phát triển đội ngũ giáo viên hiện nay là công việc hết sức quan trọng.
Công việc này không phải chỉ của riêng ngành giáo dục mà đang được sự
quan tâm lớn của Đảng, nhà nước và của toàn xã hội.
Đối với nhà trường, đơn vị trực tiếp quản lý và sử dụng đội ngũ
giáo viên, thì công tác bồi dưỡng phải được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và
tổ chức thực hiện tốt. Chúng ta đặc biệt chú trọng đến hoạt động bồi
dưỡng của nhà trường vì vai trò, ý nghĩa lớn lao của công việc này:
- Việc bồi dưỡng giáo viên mang tính chiến lược, đây là công việc
phải làm thường xuyên, liên tục, lâu dài để xây dựng một đội ngũ giáo
viên đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu và có chất lượng cao, phục vụ cho
chiến lược phát triển lâu dài của nhà trường, của ngành. Mặt khác, công
tác bồi dưỡng còn mang tính cấp bách bởi nhà trường phải thực hiện ngay
những yêu cầu của năm học, những chỉ đạo của ngành nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục như đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy
học,…
- Công tác bồi dưỡng sẽ đẩy mạnh sự phát triển về chuyên môn,
nghiệp vụ của tất cả mọi giáo viên, nâng cao chất lượng hoạt động dạy và
học trong nhà trường.
Sau nhiều năm đổi mới, các giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội
ngũ giáo viên ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng rộng
rãi. Đặc biệt từ khi có chủ trương của Đảng và Nghị quyết của Quốc hội về
đổi mới chương trình giáo dục phổ thông thì một số dự án, công trình
nghiên cứu khoa học lớn liên quan đến đội ngũ GV ở tất cả các cấp học,
bậc học đã được thực hiện.

Căn cứ Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban
Bí thư về việc “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” và thực
hiện Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của
Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Quy hoạch phát triển

Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “quản lý”. Dưới đây là
một số quan niệm chủ yếu.
Henri Fayol (1841-1925), người Pháp, người đặt nền móng cho lý luận
tổ chức cổ điển, cho rằng: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ
huy, phối hợp và kiểm tra”. Đây là khái niệm mang tính khái quát về chức
năng quản lý [25, tr. 87].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ
chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [41, tr.10].
Xét với tư cách là một hành động, theo các tác giả Bùi Minh Hiền
[26], Vũ Ngọc Hải [24], Đặng Quốc Bảo [4]: Quản lý là tác động có tổ
chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt
mục tiêu đề ra.
Có rất nhiều tác giả với những định nghĩa khác nhau về quản lý tùy
theo cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau như: góc độ tổ chức, quản
lý, hành động…
Như vậy theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con
người, có thể hiểu quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn

11


các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, phát triển phù
hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra.
Cần phải hiểu khái niệm quản lý đầy đủ, bao hàm những khía cạnh
sau:
-

Đối tượng tác động của quản lý là một hệ thống hoàn chỉnh. Hệ


theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo
dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà
cho mọi người. Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục
quốc dân” [4, tr.31]; còn theo Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục
là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ
thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường

12


xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo
dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất” [41, tr.7].
Như vậy, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch,
hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục được quản
lý, vận hành theo đúng đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện
được các mục tiêu giáo dục đề ra.
1.2.2. Quản lý trường học
Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục ở
cấp nào (từ trung ương đến địa phương). Trường học là đối tượng cuối cùng
và cơ bản nhất của quản lý giáo dục. Nó là tổ chức giáo dục cơ sở trực
tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục con người. Trường học
là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý nói trên, lại vừa
là một hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Các cấp quản lý giáo dục tồn
tại không phải vì bản thân chúng, mà trước hết là phải vì chất lượng và
hiệu quả hoạt động của trường học. Thành tích thực chất của trường học
làm nên chất lượng giáo dục. Như vậy, chất lượng của giáo dục chủ yếu do
chất lượng của trường học tạo nên. Chúng tôi thống nhất khái niệm quản lý
trường học của Phạm Minh Hạc như sau: “Quản lý trường học là tác động có

thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục.
Mục tiêu quản lý nhà trường thường được cụ thể hóa trong kế hoạch
năm học, những mục tiêu này là các nhiệm vụ chức năng mà tập thể nhà
trường thực hiện suốt năm học.
Trên cơ sở hoạch định mục tiêu một cách cụ thể, quản lý nhà trường
phải cụ thể hóa cho từng mục tiêu. Những nội dung này là sức sống cho mục
tiêu, là điều kiện để mục tiêu trở thành hiện thực.
Tóm lại, quản lý trường học được thực hiện trong phạm vi xác định
của một đơn vị giáo dục nhà trường, thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ
trẻ theo yêu cầu của xã hội. Hiện nay các nhà quản lý trường học quan tâm
nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý
và kết quả; đó là các thành tố trung tâm của quá trình sư phạm, nếu quản
lý và tác động hợp quy luật sẽ đảm bảo cho một chất lượng tốt trong nhà
trường.
Một trong các nội dung quản lý trường học là quản lý bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên.

1.2.3. Bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng chuyên môn
1.2.3.1. Chuyên môn
Theo từ điển Tiếng Việt [47, tr. 44]: Chuyên môn là lĩnh vực riêng,
những kiến thức riêng nói chung của một ngành khoa học, kỹ thuật.
Một số đặc điểm chuyên môn của giáo viên tiểu học
Cấp tiểu học tiếp nối giáo dục mầm non và mở đầu cho quá trình giáo
dục trong nhà trường phổ thông gồm: hình thức tổ chức, nội dung, phương
pháp. Có thể nói, ở đây diễn ra sự kế thừa và phát triển kết quả giáo dục
mẫu giáo, đảm bảo dạy học được liên thông từ mẫu giáo lên tiểu học. Ở bậc
học này, học sinh phải học cách học. Nhờ biết cách học mà trẻ có thể lĩnh
hội được những khái niệm khoa học, kĩ năng, kĩ xảo được chọn lọc từ nền
văn minh nhân loại. Ở lớp 1- 2- 3 học sinh được hình thành cách học với
những thao tác trí óc cơ bản. Học sinh lớp 4 – 5 các em đã có thể định

trò hoạt động” sao cho phát huy tính độc lập, tự giác và tích cực học
tập.
Công cụ lao động của người giáo viên là trí tuệ và phẩm chất của
chính mình.

Công cụ này sẽ tác động có hiệu quả khi người thầy có uy tín

cao - phẩm chất và năng lực, đức và tài của thầy càng cao thì sức thuyết
phục của học sinh càng lớn-. Giáo viên tiểu học là “thần tượng” của học
sinh đang dạy. Vì vậy, các em luôn nghe theo thầy. Trong tâm trí các em
người thầy là “đúng nhất” nên lao động của giáo viên tiểu học phải có
tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo.
1.2.3.2. Bồi dưỡng
+ Bồi: Nghĩa chữ Hán là vun bón; nghĩa bóng là dưỡng dục nhân tài.
+ Dưỡng: Nuôi lớn.
Theo quan niệm của UNESCO: “Bồi dưỡng có ý nghĩa là nâng cao nghề
nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng
cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn - nghiệp vụ cho bản thân nhằm đáp
ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”.
Theo Từ điển Tiếng Việt [47, tr.126]:
Bồi dưỡng theo nghĩa rộng : Quá trình giáo dục, đào tạo nhằm hình
thành nhân cách và những phẩm chất riêng biệt của nhân cách theo định
hướng mục đích đã chọn. Thí dụ : bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng chí khí
chiến đấu, bồi dưỡng các đức tính cần kiệm, liêm chính, v.v…
Nghĩa hẹp : Trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng
cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể. Thí dụ :
bồi dưỡng kiến thức, bồi dưỡng lý luận, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, v.v…
Như vậy, mục đích của bồi dưỡng là nhằm nâng cao năng lực phẩm chất
và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng và
nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn - nghiệp vụ đã có,

* Hoạt động:
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Hoạt động là tiến hành những việc làm có
quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã
hội” [47, tr. 65].
* Biện pháp quản lý: Là cách làm, cách giải quyết của chủ thể quản
lý đến khách thể quản lý (thông qua các chức năng quản lý) một cách hợp
quy luật nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi
trường.
* Biện pháp quản lý giáo dục: Cách làm, cách giải quyết những vấn đề
giáo dục của người quản lý giáo dục tác động đến khách thể quản lý giáo
dục (thông qua các chức năng quản lý) nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã
đề ra.
* Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn là: Cách làm,
cách giải quyết của người quản lý (thông qua các chức năng quản lý : lập
kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) về các hoạt động bồi dưỡng chuyên
môn cho khách thể quản lý (đội ngũ) nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra (về
nâng cao năng lực chuyên môn).

1.3. Giáo dục tiểu học
1.3.1. Vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung, phương
pháp của giáo dục TH
1.3.1.1.Vị trí

16


Giáo dục TH là một cấp tương đối độc lập, là một bộ phận trong hệ
thống giáo dục quốc dân, cùng với Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
hình thành một nền giáo dục thống nhất, chất lượng, hiệu quả, hội nhập
với nền giáo dục các nước trong khu vực và trên thế giới

1.3.2. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và yêu cầu đối với
giáo viên TH
Vị trí: Giáo dục ngày nay đưa lên vị trí hàng đầu trong chiến lược
phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Trong giáo dục, giáo viên giữ vị trí
quan trọng nhất. Không có thầy giáo, không có giáo dục. Giáo viên tiểu
học có vị trí đặc biệt, cùng với giáo viên các cấp học đặt nền tảng cho
sự phát triển giáo dục.
Vai trò: Nền giáo dục của quốc gia nào cũng vậy, giáo viên giữ vai

17


trò to lớn trong sự phát triển của giáo dục: “Giáo viên giữ vai trò quyết
định trong quá trình nhận biết học- dạy và đặc trưng trong việc định
hướng lại giáo dục. Người ta luôn nhận thấy rằng thành công của các cuộc
cải cách giáo dục phụ thuộc dứt khoát vào “ ý chí muốn thay đổi” cũng như
chất lượng giáo viên.” [29, tr. 58].
Điều 15 - Luật Giáo dục 2005 – sửa đổi năm 2009:
“Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo
dục. Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho
người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử
dụng, đãi ngộ, đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần
để nhà giáo thực hiện vai trò và trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát
huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”.
Riêng đối với giáo viên tiểu học có vai trò quyết định đến chất
lượng dạy và học. Tất cả mọi hành vi, cử chỉ, lời nói, việc làm... của họ
đều ảnh huởng đến sự phát triển nhân cách học sinh.
Nhiệm vụ: Được quy định trong Điều 34 chương IV Điều lệ Trường tiểu
học:
- Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

a) Chịu trách nhiệm chính trong việc đánh giá học sinh, chất lượng
giáo dục học sinh trong lớp; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh theo quy
định; thực hiện nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh;
b) Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh học
tập, rèn luyện hàng tháng;
c) Cuối học kì I, cuối năm học hoặc khi được yêu cầu, có trách
nhiệm thông báo đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập
của học sinh cho cha mẹ học sinh. Không thông báo trước lớp và trong cuộc
họp cha mẹ học sinh những điểm chưa tốt của học sinh. Duy trì mối liên hệ
với cha mẹ học sinh để phối hợp giáo dục học sinh.
2. Giáo viên không làm công tác chủ nhiệm:
a) Chịu trách nhiệm đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết
quả học tập của học sinh

đối với môn học, hoạt động giáo dục theo quy

định;
b) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên cùng lớp, cha mẹ học
sinh lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh học
tập, rèn luyện đối với môn học, hoạt động giáo dục;
c) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp đánh giá quá trình học tập,
rèn luyện và kết quả học tập của học sinh; hoàn thành hồ sơ đánh giá học
sinh; nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh.
Yêu cầu: Giáo viên tiểu học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo
dục trong trường tiểu học ; được đào tạo theo trình độ chuẩn quy định; có
đủ các tiêu chuẩn:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp
vụ;
c) Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;

học trong suốt quá trình dạy học. Nhiệm vụ của học sinh là độc lập, tích
cực trong học tập; học sinh làm việc theo cặp hoặc nhóm nhỏ; các em có cơ
hội thực hành, tương tác với bạn, với môi trường xung quanh; học sinh có
cơ hội học tập thông qua quan sát, tìm hiểu, khám phá, thử nghiệm, giao
tiếp trao đổi với nhau và tự rút kinh nghiệm.
- Chương trình giáo dục cấp tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển hài hoà về thể chất
và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giá trị gia
đình, dòng tộc, quê hương, những thói quen cần thiết trong học tập và
sinh hoạt; có được những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất để tiếp tục học
trung học cơ sở.

21


- Thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số
lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương trình hiện hành để tạo
thành môn học tích hợp; thực hiện tinh giản, tránh chồng chéo nội dung
giáo dục, giảm hợp lý số môn học.
- Mỗi ngày học 2 buổi, buổi sáng học không quá 4 tiết và buổi chiều
học không quá 3 tiết. Mỗi tuần học không quá 32 tiết, mỗi tiết học trung
bình 35 phút, giữa các tiết học có thời gian nghỉ.
- Đổi mới cách đánh giá học sinh. Việc Bộ Giáo dục và đào tạo ban
hành Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT [14] quy định đánh giá học sinh tiểu học
theo đúng định hướng đổi mới. Tinh thần của Thông tư 30 rất mở, giao
quyền chủ động cho nhà trường và các giáo viên. Năm học 2014 – 2015 là
năm học đầu tiên thực hiện đánh giá bằng nhận xét đối với học sinh toàn
cấp học theo Thông tư số 30/2014/TT – BGDĐT.

1.5. Yêu cầu đối với bồi dưỡng chuyên môn GVTH trong

22


- Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm
1.5.2. Bồi dưỡng GVTH cách đánh giá học sinh theoThông tư số 30/2014/TTBGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

* Yêu cầu GVTH nắm được ý nghĩa của lý do thay đổi cách đánh giá
học sinh tiểu học: Trước đây, việc dùng điểm số để đánh giá thường xuyên
đã gây không ít áp lực cho cả học sinh và phụ huynh. Giờ đây, quy định
đánh giá thường xuyên bằng nhận xét không chỉ nhằm vào kết quả mà còn
động viên, khuyến khích học sinh phát huy hết khả năng của mình. Ngoài
ra, trong quá trình học còn chú trọng đến việc học sinh tự đánh giá lẫn
nhau, cha mẹ học sinh cũng tham gia đánh giá. Với cách làm này sẽ góp
phần làm tăng sự gắn kết giữa gia đình với nhà trường trong giáo dục học
sinh.
* Yêu cầu GVTH hiểu và thực hiện cách đánh giá học sinh tiểu học:
- Không đánh giá bằng cách chấm điểm từng môn học hàng ngày, không
đánh giá trên 2 tiêu chí học lực và hạnh kiểm nữa.
- Nội dung đánh giá mới:
+ Đánh giá thường xuyên: đánh giá dựa trên 3 nội dung sau:
Hoạt động học tập: đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết
quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và
hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu
học.
Năng lực: đánh giá sự hình thành và phát triển một số năng lực của
học sinh như: Tự phục vụ, tự quản; Giao tiếp, hợp tác; Tự học và giải
quyết vấn đề.
Phẩm chất: đánh giá sự hình thành và phát triển phẩm chất của học

bồi dưỡng, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả
bồi dưỡng, đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất –
tài chính cho hoạt động bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến
thức và kĩ năng nghề nghiệp cho giáo viên TH.
Nội dung cơ bản của quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo
viên TH bao gồm:
1.6.1. Quản lý việc xác định mục tiêu, nội dung, hình thức bồi dưỡng
chuyên môn cho giáo viên TH
1.6.1.1. Quản lý việc xác định mục tiêu bồi dưỡng
Để thực hiện việc quản lý mục tiêu bồi dưỡng hiệu trưởng phải thực
hiện các hoạt động sau:
* Chỉ đạo việc xác định mục tiêu bồi dưỡng hướng đến đáp ứng yêu cầu
đổi mới GD Tiểu học
-

Thực hiện xác định mục tiêu bồi dưỡng dựa trên sự phân tích thực

trạng mục tiêu bồi dưỡng chuyên môn cho GVTH hiện hành; dựa trên Chuẩn
nghề nghiệp GVTH và yêu cầu đổi mới GDTH, cụ thể là:
+ Nâng cao phẩm chất, kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp cho đội ngũ
giáo viên nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp Giáo dục và Đào
tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chú trọng bồi dưỡng cho
GVTH đổi mới cách đánh giá học sinh theo Thông tư 30/2014 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo.
+ Thông qua bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên, giúp giáo
viên có một phương pháp, một thói quen và nhu cầu tự học, tự nghiên cứu,
thực hành và vận dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng ,
hiệu quả giáo dục.
- Xác định các nguồn lực, các điều kiện đảm bảo cho thực hiện mục
tiêu: cơ sở vật chất, trang thiết bị; đội ngũ giảng viên

độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ.
- Bồi dưỡng để cập nhật và nâng cao kiến thức (có kiến thức khoa học
cơ bản để dạy các môn học trong chương trình TH; có kiến thức cơ bản về
Tâm lý học sư phạm và trẻ em, Giáo dục học và phương pháp dạy học các bộ
môn ở TH; có hiểu biết về những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà
nước đối với kinh tế, văn hoá, xã hội và giáo dục, có kiến thức phổ thông
về những vấn đề xã hội như: môi trường, dân số, an ninh quốc phòng, an
toàn giao thông, quyền trẻ em, y tế học đường, phòng chống ma tuý và các
tệ nạn xã hội; có hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội của địa phương nơi trường đóng.
- Bồi dưỡng về kỹ năng sư phạm (kỹ năng giáo dục, dạy học, tổ chức,
kĩ năng đánh giá học sinh,…). Cụ thể: biết lập kế hoạch bài học, tổ chức
hoạt động dạy học theo hướng đổi mới phương pháp dạy học nhằm đảm bảo
thực hiện các mục tiêu của bài học; biết làm công tác chủ nhiệm lớp và tổ
chức các hoạt động giáo dục như sinh hoạt tập thể, hoạt động ngoài giờ
lên lớp, hoạt động của Đội Thiếu niên; biết giao tiếp, ứng xử với học
sinh, cha mẹ học sinh, đồng nghiệp và cộng đồng, … biết lập hồ sơ, lưu
giữ

và sử dụng hồ sơ vào việc giảng dạy và giáo dục học sinh.
- Cần chỉ ra hoạt động bồi dưỡng nhằm vào đối tượng nào, bồi

dưỡng để người tham dự bồi dưỡng thu nhận được những kiến thức, kỹ năng

25


Trích đoạn Khái quát về giáo dục TH Quận BÌNH THẠCHvà Trường TH Nguyễn Bỉnh Khiêm Phân tích các kết quả trưng cầ uý kiến cho thấy hình thức bồi dưỡng chuyên môn cho GV vẫn chưa phù 50 20 5 Giảng viên sử dụng phương pháp thuyết trình 80 20 Phát huy những mặt tích cực của công tác bồi dưỡng giáo viên trong giai đoạn đã qua, bổ sung, Bộ Giáo dục & Đào tạo (2007), Quyết định số 14/2007/QĐ BGDĐT ngày 04 tháng 5 năm 2007 của Bộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status