ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
DƯƠNG HOÀI VĂN
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TĂNG CƯỜNG HỌAT ĐỘNG TỰ
HỌC CỦA SINH VIÊN VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
TRONG BƯỚC PHÁT TRIỂN HIỆN NAY
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60 14 05
HÀ NỘI 2008
LUẬN VĂN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
1
MỤC LỤC
Mở đầu
Trang
1. Lý do chọn đề tài
6
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
7
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
7
5. Giả thuyết khoa học
8
6. Phạm vi nghiên cứu
8
7. Phương pháp nghiên cứu
8
8. Cấu trúc luận văn
1.4.2. Các chức năng quản lý
30
1.4.3. Quản lý giáo dục
32
1.4.4. Quản lý nhà trường
33
1.4.5. Quản lý quá trình dạy học
34 2
1.4.6. Quản lý hoạt động tự học
35
1.4.7. Các nhân tố tham gia vào quá trình quản lý hoạt động tự học
36
1.4.8. Biện pháp quản lý hoạt động tự học
41
Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên Viện
Đại học Mở Hà Nội
43
2.1. Khái quát về Viện Đại học Mở Hà Nội
43
2.1.1. Quá trình thành lập trường
43
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và đội ngũ
43
2.1.3. Ngành nghề đào tạo
44
2.2. Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
47
3.2.1. Biện pháp 1 : Nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng trong và
ngoài trường, đặc biệt cho sinh viên, về tầm quan trọng của tự học
69 3
3.2.2. Biện pháp 2 : Giúp đỡ cho sinh viên biết kế hoạch hóa thời
gian học tập , có ý chí tự học, tự nghiên cứu
72
3.2.3. Biện pháp 3 : Thúc đẩy giảng viên đổi mới phương pháp dạy
học theo hướng hỗ trợ cho sinh viên hăng hái tự học
74
3.2.4. Biện pháp 4 : Quy định trách nhiệm cụ thể cho các phòng ban
giúp sinh viên có điều kiện thuận lợi trong tự học
82
3.2.5. Biện pháp 5 : Tăng cường sự phối hợp đoàn thể trong trường
nhằm giúp cho sinh viên tự học có kết quả
84
3.2.6. Biện pháp 6 : Hoàn thiện các điều kiện vật chất, tài chính để
sinh viên thuận lợi trong tự học
88
3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp
92
3.4. Thăm dò sự nhận thức tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
93
Kết luận và khuyến nghị
96
Kết luận
96
Khuyến nghị
56
Bảng 2.8. Kết quả học tập của sinh viên ngành Hướng dẫn du lịch ;
Quản trị du lịch ; Tin học năm học 2006 – 2007
57
Bảng 2.9. Nhận định của cán bộ giảng viên về hoạt động tự học
của
sinh viên
59
Bảng 3.1. Kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
93 5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Để
đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp
hóa , hiện đại hóa đòi hỏi chúng ta phải phát triển giáo dục , thực sự coi giáo
dục là quốc sách hàng đầu. Nâng cao chất lượng giáo dục nhằm thực hiện
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ quan trọng,
thường xuyên là mối quan tâm hàng đầu của các nhà trường. Chất lượng giáo
dục - đào tạo phụ thuộc vào họat động dạy của thày và họat động học của trò.
Trong đó dưới sự tổ chức, lãnh đạo, điều khiển của thầy , trò tự giác, chủ
động, tích cực tự tổ chức quá trình nhận thức nhằm thực hiện các nhiệm vụ
học tập. Tự học – tự đào tạo là con đường phát triển suốt đời của mỗi người,
đó cũng là truyền thống quí báu của dân tộc Việt Nam, được thể hiện qua các
câu thành ngữ , tục ngữ “học một , biết mười”, “ Đi một ngày đàng học một
Chính vì vậy, việc tìm ra biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động tự học
của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội là một nhiệm vụ cấp thiết đối với
nhà trường trong giai đoạn hiện nay. Với những lý do nêu trên, chúng tôi
chọn đề tài :“ Biện pháp quản lý tăng cường hoạt động tự học của sinh
viên Viện Đại học Mở Hà Nội trong bước phát triển hiện nay.”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
quản lý tăng cường hoạt động tự học nhằm nâng cao kết quả hoạt động tự học
của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tự học của sinh viên .
- Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của
sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Nghiên cứu, khảo sát thực trạng hoạt động tự học, các biện pháp quản
lý tăng cường hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội. 7
- Đề xuất các biện pháp tăng cường hoạt động tự học của sinh viên,
khảo nghiệm các biện pháp quản lý nhằm khẳng định tính cấp thiết và tính
khả thi của các biện pháp để nâng cao kết quả hoạt động tự học cuả sinh viên
Viện Đại học Mở Hà Nội.
5. Giả thuyết khoa học
Hiện nay hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội còn
hạn chế. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Nguyên nhân chủ quan là do sinh viên còn thiếu ý chí và nỗ lực ; nguyên nhân
khách quan là do công tác quản lý còn thiếu các tác động thích hợp. Nếu đề
xuất và áp dụng các biện pháp quản lý tăng cường hoạt động tự học của sinh
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Từ những phần đã trình bày, chúng ta thấy tuy vẫn còn có một số khác
biệt trong nhận định của các nhà giáo dục về vai trò và biện pháp thực hiện
giáo dục nhưng tất cả đều có sự thống nhất trên quan niệm đánh giá cao về vai 10
trò tự giác trong học tập của người học. Các ý kiến cũng xác định động lực
của tự học được hình thành từ tình cảm, từ ý thức của người học. Nhà trường,
gia đình, môi trường chung là những yếu tố có khả năng tác động để giúp cho
nhu cầu này được hình thành, phát triển và nâng cao. Nhà trường bao giờ
cũng đóng vai trò khơi gợi, hình thành phát triển và nâng cao ý thức tự học.
Do vậy, với các nhà giáo dục trước đây, xây dựng biện pháp hiệu quả trong
quản lý giáo dục nhằm nâng cao hoạt động tự học cho người học là một việc
làm quan trọng và cần thiết.
1.1.2. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, vấn đề
học tập và rèn luyện. Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời điểm,
hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác
dụng và hiệu quả to lớn của việc học tập và rèn luyện. Bác cho rằng học tập
giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi
hiệu quả lao động. Đặc biệt, Bác rất nhấn mạnh đến tác dụng của tự học. Tại
Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc
ngày 6 tháng 5 năm 1950 Bác đã khuyên học viên " Không phải có thầy thì
học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập". Trong công tác
huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập : “Lấy tự học làm cốt.
Do thảo luận và chỉ đạo góp vào " [25, 226]. Như vậy, theo Bác việc tự học
giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quả học tập. Việc tự
học phải xuất phát từ động lực thôi thúc của chính bản thân người học, nhưng
vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướng dẫn
của nhà trường, của người thầy.
Các văn bản của Nghị quyết Trung ương II khoá VIII, Nghị quyết đại
trường đào tạo ngành nghề chuyên biệt. Những luận văn này đã đóng góp
trong các công tác quản lý của nhà trường với hoạt động tự học nói riêng và
của giáo dục nói chung.
1.2. Những vấn đề lý luận về sinh viên
1.2.1. Khái niệm “Sinh viên”
Thuật ngữ "Sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La tinh "students" có
nghĩa là người làm việc học tập nhiệt tình, hăng say, người tìm kiếm khám
phá kho tàng tri thức của nhân loại. Nó được dùng cùng nghĩa với từ "student" 12
của tiếng Anh để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học, cao đẳng và
để phân biệt với học sinh các trường phổ thông.
Khái niệm sinh viên được dùng rộng rãi với nghĩa: Sinh viên là đại biểu
của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn
bị tri thức, nghề nghiệp, để trở thành các chuyên gia hoạt động, lao động
trong một lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội [14,20]
X.L Rubinstein quan niệm: "Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội
đặc biệt được đào tạo trong các trường Đại học, Cao đẳng để chuẩn bị cho
hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội. Nhóm sinh viên rất cơ
động tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai
trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội. Sinh viên là
nguồn lực bổ xung cho đội ngũ tri thức được đào tạo trở thành những người
lao động có tay nghề cao, tham gia hoạt động xã hội tích cực" [29,90].
Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu: Sinh viên Việt Nam là những người
đang học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng trong và ngoài nước nhằm
đáp ứng nguồn lao động có tri thức, có tay nghề cao đáp ứng nguồn nhân lực
cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Sinh viên Việt Nam có những đặc điểm sau:
- Là những người đã tốt nghiệp PTTH hoặc bổ túc văn hoá hoặc THCN
kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu
của xã hội.
- Sự phát triển trí tuệ ở giai đoạn này được đặc trưng bởi sự nâng cao
năng lực trí tuệ, phát triển tư duy sâu sắc, sinh viên có khả năng giải quyết
những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn, sinh viên có tiến bộ rõ rệt trong
lập luận logic, trí tưởng tượng, khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả
năng phán đoán. Nhu cầu hiểu biết về học tập được nâng cao.
- Về mặt tình cảm: Là thời kỳ sinh viên có nhiều xúc cảm, nhiều tình
huống mới nảy sinh đòi hỏi sinh viên phải có những phán đoán, những quyết
định chín chắn.
* Về mặt xã hội:
Sinh viên có nhu cầu mở rộng mối quan hệ xã hội, quan tâm nhiều đến
việc phát triển kỹ năng mới, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện 14
với môi trường xã hội ngày một mở rộng. Sinh viên đã quan tâm tới kế hoạch
đường đời, tự xác định và lựa chọn nghề nghiệp cho mình.
Đây là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực sang trưởng thành
về phương diện xã hội, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt
họ có vai trò xã hội của người lớn. Sinh viên bắt đầu có kế hoạch riêng cho
hoạt động của mình và độc lập trong phán đoán và hành vi. Họ xác định con
đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm
mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Điều đó có nghĩa là sinh viên bắt đầu
có tính độc lập, tính tự lập và tính tự quản cao.
1.2.3. Xu hƣớng phát triển nhân cách sinh viên
* Sự phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình biện chứng của sự
nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn, là quá trình chuyển từ các yêu cầu bên
ngoài thành yêu cầu của bản thân sinh viên và là quá trình tự vận động và hoạt
động tích cực của chính bản thân người sinh viên. Các mâu thuẫn chính là :
1.3.1. Khái niệm “Tự học”
Có nhiều tác giả nghiên cứu về tự học, mỗi tác giả có những quan điểm
khác nhau, sau đây là một số quan điểm :
Thông thường khái niệm "Tự học" được hiểu là "Tự học lấy một mình
trong sách chứ không có thầy dạy" (Theo Thanh Nghị, trong Việt Nam tân từ
điển), cũng có thể hiểu là "Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học".
Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Hiến Lê, trong quyển "Tự học, một nhu
cầu thời đại" ông lại cho rằng khái niệm "Tự học" nếu được hiểu là "không ai
bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm" và có thầy hay không,
ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào
tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng”, ông
cũng trích dẫn để làm rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng của tự học "mỗi
người đều nhận hai thứ giáo dục: Một thứ, do người khác truyền cho, một thứ
quan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy". [23, 39].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng thì "Tự học là hình thức học ngoài giờ
lên lớp bằng nỗ lực cá nhân theo kế hoạch học tập chung và không có mặt
trực tiếp của giáo viên. Tự học thường được tiến hành tại gia đình hay thư
viện, cách học là hoàn toàn độc lập theo phương pháp tự nghiên cứu. Nội 16
dung công việc tự học và học bài cũ, chuẩn bị bài mới và làm các bài tập vận
dụng kiến thức, làm các bài tập sáng tạo khác". [35, 33].
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí thì "Tự học" là "Hoạt động độc lập, chủ
yếu mang tính chất cá nhân của học sinh, sinh viên trong quá trình nhận thức
học tập để cải biến nhân cách, nó vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của
quá trình đào tạo nói chung ở nhà trường. Có hai loại tự học là tự học trong
giờ lên lớp và tự học ngoài giờ. Hoạt động tự học của học sinh, sinh viên
trong giờ lên lớp thường được thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên
bộ môn như là một bộ phận, một bước, một hình thức tổ chức của quá trình
Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học. Kết quả của
quá trình nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học
mới, đây thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học. Dạng tự học này phải được
dựa trên nền tảng một niềm khảo sát, say mê khám phá tri thức mới và đồng
thời phải có một vốn tri thức vừa rộng vừa sâu. Tới trình độ tự học này người
học không thầy, không sách mà chỉ cọ xát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có
hiệu quả hoạt động tự học của mình.
- Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.
Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:
+ Tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:
Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong
sách qua đó sẽ phát triển về tư duy. Tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà
mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời.
+ Tự học có thầy ở xa hướng dẫn:
Mặc dù thầy ở xa những vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa
thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới
dạng phản ánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá
- Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày
sau đó sinh viên về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên.
+ Trong quá trình học tập trên lớp, thầy với vai trò là nhân tố hỗ trợ, là
chất xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức. Trò với vai
trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham
gia vào quá trình học tập. Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ 18
giữa Nội lực và Ngoại lực. Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất
xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển.
+ Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy
nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính
hoạt động tự học nói chung, đó là quá trình sinh viên tự giác, tự lực, tích cực
dưới sự hướng dẫn của giáo viên để sinh viên có thể chiếm lĩnh những tri thức
khoa học ở một lĩnh vực chuyên môn nào đó bằng hành động của chính mình
nhằm đạt được mục tiêu đào tạo. Thực chất hoạt động tự học của sinh viên
chính là bản thân sinh viên tự giác, tích cực tham gia vào hoạt động nhận
thức, sinh viên huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý, chức năng tư
duy trong quá trình lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
* Các hình thức tự học của sinh viên
Trong quá trình dạy học, sinh viên tiến hành hoạt động tự học dưới
nhiều hình thức khác nhau:
- Tự học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên trong quá trình dạy
học trên lớp.
- Tự học ngoài giờ lên lớp dưới sự điều khiển và hướng dẫn gián tiếp của
giáo viên thông qua các bài tập nhận thức mà giáo viên cho sinh viên thực hiện.
- Tự học hoàn toàn độc lập theo hứng thú và sở thích riêng của bản thân
sinh viên mà không có sự hướng dẫn và điều khiển của giáo viên, những tri
thức đó nằm ngoài chương trình đào tạo của nhà trường.
Tất cả các hình thức tự học trên của sinh viên đều nhằm mục đích chiếm
lĩnh, lĩnh hội những tri thức mới, làm giầu thêm vốn tri thức của bản thân.
* Hoạt động tự học của sinh viên diễn ra theo các mức độ khác nhau
- Ở giai đoạn đầu sinh viên tiến hành hoạt động tự học một cách thụ
động, miễn cưỡng, gò bó. Sinh viên ít chủ động, tự giác, tích cực tham gia
vào hoạt động tự học nếu không có sự kiểm tra, giám sát, thúc dục của giáo
viên và các lực lượng giáo dục khác. Đây là giai đoạn đầu tiên của hoạt động
tự học, sinh viên chưa phát huy được tính tự giác, tích cực trong học tập, học
theo kiểu gò ép, đối phó do vậy kết quả học tập của sinh viên bị hạn chế.
- Đến một giai đoạn nhất định khi bản thân sinh viên đã tích luỹ được
một lượng kiến thức nhất định, khả năng tư duy của sinh viên phát triển ở
mức độ cao hơn. Ở giai đoạn này những tri thức bản thân sinh viên tích luỹ
- Tổ chức, quản lý sinh viên tự học: Mặc dù hoạt động tự học của sinh
viên mang tính tự giác, độc lập cao nhưng cũng không thể tách rời công tác tổ 21
chức, quản lý. Để nâng cao tính tích cực, tự giác học tập của sinh viên, các
trường đã tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy, thực hiện nghiêm túc
quy chế thi và kiểm tra, quản lý nghiêm túc và chặt chẽ giờ tự học của sinh
viên, thực hiện nghiêm túc quy chế đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của
SV, đổi mới công tác thi đua khen thưởng, chế độ học bổng vv nhằm
khuyến khích, động viên sinh viên tích cực, tự giác tự học.
- Các yếu tố của môi trường xã hội bên ngoài cũng có nhiều ảnh hưởng tới
hoạt động tự học của sinh viên như vấn đề tìm việc làm sau khi ra trường vv
- Sự tác động của gia đình như sự quan tâm của các bậc bố mẹ, truyền
thống học tập của gia đình đều có ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức tự học
của sinh viên.
* Yếu tố chủ quan
Các yếu tố chủ quan (yếu tố bên trong) quyết định trực tiếp đến kết quả
của hoạt động tự học. Trong quá trình tự học yếu tố "nội lực" của cá nhân
người học là yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt
động tự học. Sự trợ giúp của yếu tố "ngoại lực" chỉ có tác dụng hỗ trợ và kích
thích các yếu tố "nội lực" phát triển.
Đối với sinh viên để hoạt động tự học và nghiên cứu đạt kết quả cao
đòi hỏi bản thân sinh viên phải trang bị cho mình một hệ thống kiến thức cơ
bản, hệ thống các kỹ năng tự học, nắm bắt và sử dụng thành thạo các phương
pháp tự học hiện có.
"Nội lực" tự học của sinh viên bao gồm:
- Những yếu tố chủ quan với tư cách là thành phần cấu trúc của hoạt
động tự học như: Nhận thức tự học, thái độ tự học, các kỹ năng tự học.
- Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học với tư cách là tiềm năng tự
triển nhân cách của người học đạt kết quả cao nhất khi "Nội lực" và "Ngoại
lực" cộng hưởng được với nhau. Trong quá trình dạy học tác động dạy của
thầy dù là quan trọng đến mức "Không thày đố mày làm nên" vẫn chỉ là ngoại
lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác và tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển và
trưởng thành.
Để đánh giá tầm quan trọng của hoạt động tự học Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã dạy "Về cách học tập phải lấy tự học làm cốt". Quá trình tự học như
thế có thể hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo 23
dục, là sự biến đổi bản thân mình trở nên có thêm giá trị bằng nỗ lực của
chính mình để chiếm lĩnh những giá trị mới lấy từ bên ngoài, là một hành
trình nội tại được cắm mốc bởi kiến thức, phương pháp tư duy và thực hiện tự
phê bình để tự hiểu bản thân mình.
Như vậy, tự học - hoạt động tự giác của cá nhân trong quá trình học
tập- đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển nhân cách người
sinh viên bởi nhân cách người sinh viên chính là vốn tri thức nghề nghiệp, kỹ
năng và phẩm chất đạo đức được hình thành trong qúa trình học tập và rèn
luyện tại trường cao đẳng và đại học.
1.3.6. Phƣơng pháp dạy - tự học
1.3.6.1. Khái niệm về quá trình dạy - tự học và phương pháp dạy - tự học
Trong quá trình dạy học nếu người học là chủ thể, tự mình tìm ra kiến
thức bằng hành động của chính mình với sự hợp tác của các bạn và sự hướng
dẫn của thầy. Thầy dạy cho trò tự học, tự nghiên cứu nhằm biến quá trình dạy
học thành quá trình tự học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
thì đó chính là quá trình dạy - tự học.
Quá trình dạy - tự học là một hệ thống toàn vẹn gồm 3 thành tố cơ bản:
Thầy (dạy), Trò (tự học), Tri thức. Ba thành tố này luôn tương tác với nhau,
thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết