Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

DƢƠNG VĂN CHỦNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN NGHĨA HƢNG
TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BGD & ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
BGH Ban Giám Hiệu
CBQL Cán bộ quản lý
GD-ĐT Giáo dục – Đào tạo
GV Giáo viên
HS Học sinh
Nxb Nhà xuất bản
SGD- ĐT Sở Giáo dục – Đào tạo
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
Tr Trang
UBND Uỷ ban nhân dân
9
1.2.2. Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục
12
1.2.3. Đạo đức, giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức
16
1.3. Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách của
học sinh Trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay

19
1.3.1. Giáo dục đạo đức góp phần hình thành những giá trị cơ bản của
nhân cách con người xã hội của mỗi thời kỳ lịch sử

20
1.3.2. Giáo dục đạo đức góp phần xác định mục tiêu hành động của mỗi
con người

22
1.3.3. Giáo dục đạo đức góp phần xây dựng quan hệ xã hội công bằng,
dân chủ, phát triển bền vững trong và ngoài nhà trường

23
1.4. Ý nghĩa và mục tiêu của việc quản lý giáo dục đạo đức.
28
1.4.1. Quản lý tốt tạo ra sự thống nhất phát huy những yếu tố tích cực,
những thuận lợi, hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát
triển nhân cách học sinh 28
1.4.2. Quản lý giáo dục đạo đức làm tăng thêm hiệu quả của giáo dục

44
2.1.2. Tình hình giáo dục (chủ yếu giáo dục trung học phổ thông)
45
2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng
49
2.3. Kết quả khảo sát
50
2.3.1. Đánh giá thực trạng đạo đức học sinh trung học phổ thông ở
huyện Nghĩa Hưng (theo đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học
sinh) 50
2.3.2. Nhận thức của các đối tượng khảo sát về
52
2.3.3. Hiểu biết về quản lý giáo dục đạo đức
58
2.3.4. Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức
62
2.4. Những nguyên nhân, hạn chế, những tồn tại cần giải quyết
70
Tiểu kết chương 2
73
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA
HIỆU TRƢỞNG TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
HUYỆN NGHĨA HƢNG, TỈNH NAM ĐỊNH 75
3.1. Một số nguyên tắc để xây dựng biện pháp quản lý giáo dục đạo đức .


87
3.2.4. Xây dựng chương trình, nội dung và tổ chức bồi dưỡng cho các
chủ thể tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ
thông 90
3.2.5. Xây dựng kế hoạch sử dụng hợp lý cơ sở vật chất , điều kiện trong
và ngoài nhà trường phục vụ hoạt động giáo dục đạo đức

95
3.2.6 Chỉ đạo đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục đạo đức
96
3.2.7. Tổ chức xây dựng các phong trào,các điển hình tiên tiến trong
giáo dục đạo đức

99
3.3. Đánh giá, khảo sát tính khả thi của biện pháp đề xuất
101
Tiểu kết chương 3
103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
104
1. Kết luận
104
2. Khuyến nghị
105
TÀI LIỆU THAM KHẢO
108

dân tộc bị mai một dần. Bên cạnh đó những tệ nạn xã hội và ma túy đã và đang xâm
nhập học đường và có xu thế gia tăng, tệ nạn sử dụng ma túy trong học sinh, sinh
viên sẽ làm hủy hoại thể lực, trí tuệ, đạo đức của thế hệ chủ nhân tương lai của đất
2
nước. Và điều này đã gây ra nhiều khó khăn phức tạp trong công tác giáo dục của
nhà trường.
Lứa tuổi học sinh THPT là thời kỳ quan trọng của sự phát triển thể chất và
nhân cách. Cụ thể sự phát triển thể chất đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh, các tố
chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sự dẻo dai được tăng cường, là thời kỳ trưởng
thành về giới tính. Sự phát triển về mặt tâm lý của học sinh THPT có những nét mới
về chất, nếu không được giáo dục sẽ có những hành vi tự phát, thiếu văn hóa, phi
đạo đức do ý thức không kiềm chế được bản năng. Vì vậy, trong những năm gần
đây một số học sinh nữ phải bỏ học vì có thai, hiện tượng bạo lực học đường có
triều hướng gia tăng.
Trong chức năng quản lý giáo dục phải quan tâm đồng thời tới việc quản lý
học tập và quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách. Hai mặt trên có quan hệ
hỗ trợ, tác động lẫn nhau, cần khẳng định giáo dục đạo đức có tác động mạnh mẽ
đến chất lượng học văn hóa nhất là trong điều kiện hiện nay, khi từng ngày, từng
giờ những cám dỗ, những ảnh hưởng tiêu cực của xã hội dội vào nhà trường.
Nghĩa Hưng là một huyện của tỉnh Nam Định, cách thành phố Nam Định
khoảng 20Km; cách bãi tắm Thịnh Long của huyện Hải Hậu và cách bãi tắm Quất
Lâm của huyện Giao Thủy không xa, trường THPT B Nghĩa Hưng cách bãi tắm
Thịnh Long chưa đầy 1km, trường THPT C Nghĩa Hưng và trường THPT Trần
Nhân Tông của Huyện Nghĩa Hưng cách bãi tắm Thịnh Long hơn 2km nên học sinh
dễ dàng và nhanh chóng tiếp thu ảnh hưởng những mặt tích cực cũng như tiêu cực
xảy ra, nhất là trong cơ chế thị trường và quá trình hội nhập. Vì vậy các nhà quản lý
giáo dục cần nhận thức sâu sắc về vấn đề này đặc biệt là việc nghiên cứu quản lý
giáo dục đạo đức cho học sinh trên địa bàn huyện. Cho đến nay chưa có tác giả nào
nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm để rút ra những kết luận khoa học về việc nâng
cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông huyện

trường Trung học phổ thông huyện Nghĩa Hưng.
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đạo
đức cho học sinh.

4
6. Hệ thống các phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu lý thuyết về giáo dục, giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục, quản
lý giáo dục đạo đức bao gồm nghiên cứu tài liệu, các công trình, các văn bản …
nhằm phân tích đặc trưng của giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức đồng thời
xác định những yếu tố khách quan, chủ quan liên quan đến công tác quản lý giáo
dục đạo đức trong hoàn cảnh hiện nay.
6.2.Phương pháp nghiên cứu thực trạng bao gồm những phương pháp sau
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.
+ Xác định hai loại phiếu hỏi:
Loại 1: Phiếu hỏi cho cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh.
Loại 2: Phiếu hỏi cho học sinh.
+ Khảo sát:
Cán bộ quản lý ( cấp trường và cấp phòng Giáo dục – Đào tạo).
Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên.
Cha, mẹ học sinh
Một số cán bộ quản lý xã hội.
Loại 2: Khảo sát học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 ở các trường
+ Yêu cầu của khảo sát qua phiếu:
Đánh giá nhận thức tầm quan trọng của giáo dục đạo đức,quản lý giáo dục đạo
đức.
Sự hiểu biết về nội dung, biện pháp giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo
đức.
Thực trạng việc quản lý giáo dục đạo đức ở các trường.
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động nhà trường: Hội đồng giáo dục,

tại và phát triển của tồn tại xã hội. Đạo đức có ý nghĩa và có vai trò quan trọng
trong sự phát triển nhân cách và thiết lập tới quan hệ xã hội giữa con người với con
người, giữa các tập thể và quốc gia, đó là quy luật phát triển của con người và xã
hội. Chính vì vậy, đã từ lâu nhân dân lao động đặc biệt các học giả đã có nhiều ý
kiến về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức. Nói về vai trò của đạo đức, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã dạy “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”, Người thường nói
có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì có khi
hại nước, hại dân.
Vì vai trò của đạo đức mà nhiều nhà nghiên cứu đã để tâm nghiên cứu về
đạo đức, và giáo dục đạo đức, trong đó phải kể đến những tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về lý luận “đạo đức cách mạng” mà toàn Đảng, toàn dân đang có phong
trào thi đua “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Phải khẳng
định lý luận về đạo đức cách mạng của Người là những cống hiến vĩ đại, đặt nền
móng cho phương pháp luận để nghiên cứu và tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức
cho toàn Đảng, toàn dân, cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức của con
người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, trong đó có giáo
dục đạo đức cho học sinh trong các trường học.
Bàn về đạo đức, phải kể đến Vũ Khiêu, Phạm Hưu, Phan Văn Diễn, song
tiêu biểu nhất là Vũ Khiêu với tư cách là đạo đức học, ông đã làm sâu sắc nguồn
gốc của đạo đức xã hội chủ nghĩa, bản chất và đặc điểm của đạo đức xã hội chủ
nghĩa và các con đường hình thành, phát triển của đạo đức xã hội chủ nghĩa. Những
7
quan điểm của ông được thể hiện trong tác phẩm “Đạo đức mới” (Nhà xuất bản
Khoa học xã hội, Hà Nội – 1974);
Bàn về giáo dục đạo đức thì tiêu biểu nhất là GS Nguyễn Lân; Hà Thế Ngữ;
Nguyễn Thị Đoan; Nguyễn Khánh. Đó là những cán bộ giảng dạy của trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, đã viết giáo trình về lý luận giáo dục đạo đức, giáo dục đạo
đức cho học sinh, sinh viên, giáo dục gia đình từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX.
Trong những công trình nghiên cứu của các cán bộ nghiên cứu ở thời kỳ này cũng
đã bàn về mục tiêu, nội dung, phương pháp, các nguyên tắc của quá trình giáo dục

đến lớp mười hai); dựa trên năm quan hệ của chủ thể (với bản thân, người khác,
công việc, môi sinh, và lý tưởng cộng đồng).
- Xác định những phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo
dục đạo đức cho học sinh phổ thông.
- Xây dựng được một hệ thống đồ dùng dạy học cho mỗi bài .
Cho đến nay những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức chủ yếu là
nghiên cứu: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện, chức năng nhiệm vụ của
các chủ thể tham gia quá trình giáo dục đạo đức (giáo viên, giáo viên chủ nhiệm,
cha mẹ học sinh, con cái…).
Chưa có công trình nào bàn luận về việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
nhằm tạo ra sự thống nhất hoạt động toàn trường trong quá trình tổ chức giáo dục
đạo đức ở các cấp học. Đặc biệt nghiên cứu quản lý giáo dục đạo đức của Hiệu
trưởng các trường trung học phổ thông ở Nam Định nói chung, ở huyện Nghĩa
Hưng nói riêng.
Tác giả luận văn hy vọng nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định” sẽ
góp phần làm phong phú thêm lý luận quản lý giáo dục đạo đức - một mặt của quản
lý giáo dục toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức nói riêng, hiệu
quả giáo dục ở trường trung học phổ thông nói chung.
Tóm lại, từ những nội dung đã trình bày, có thể nhận thấy vấn đề quản lý đạo
đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng góp phần vào việc quản
lý đạo đức cho học sinh trong tỉnh Nam Định và học sinh trong cả nước là một việc
làm cấp bách và thiết thực, thu hút sự nghiệp nghiên cứu của các nhà khoa học,
9
nhiều cán bộ quản lý. Đã có một số tác giả nghiên cứu về biện pháp quản lý giáo
dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông nhưng mới chỉ chuyên sâu vào một
lĩnh vực nhất định hoặc một khu vực địa lý nhất định; chưa có tác giả nào nghiên
cứu về biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở
huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định hoặc ở một địa bàn Huyện có vị trí địa lý, điều
kiện kinh tế - xã hội tương tự như ở huyện Nghĩa Hưng. Đó là nội dung chính mà

đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình
lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối
hợp lại. C.Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên
một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt
động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc
thì phải có nhạc trưởng”. [20, tr .326].
Theo W.Taylor (1856 – 1915) thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn
muốn người khác làm ,và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học:
1. Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định
phương pháp tốt nhất để hoàn thành;
2. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương
pháp khoa học;
3. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm
bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn;
4. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản
lý. [20, tr. 327]
Theo Henry Fayol (1841 – 1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu
của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh
đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối
quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các
nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”[15,tr. 10].
Ông đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành
năm chức năng cơ bản: “Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra” và sau
này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch, tổ chức, chỉ
11
đạo, kiểm tra. Ông đã đưa ra mười bốn nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao
động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân
phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền
hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội… Những

được các mục tiêu đó.
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên,
giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế
hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác
và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ
chức.
Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân,
một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành
những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.
1.2.2. Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục
Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện các chức năng kiến
tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó.
Trường học là tổ chức mang tính quyền lực Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm
công tác giáo dục, đào tạo, thực hiện việc giáo dục cho thế hệ đang dần lớn lên.
Ngày nay nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã
hội để Giáo dục – Đào tạo thế hệ trẻ thành những người có tri thức, sức khoẻ, phẩm
chất chung của hệ thống giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò trọng yếu tạo ra
sức lao động mới cho xã hội, đặc biệt là đòi hỏi lượng chất xám trong lao động
ngày càng cao.
Nhà trường, theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo : “Trường học là một thiết chế xã
hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai
nhân tố Thầy – Trò. Trường học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của
hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở.” [3, tr 63]
Nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết chế sư phạm
đơn thuần. Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành
“Nhân cách - Sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn vốn
13
con người (human capital), vốn tổ chức (organizational capital) và vốn xã hội
(social capital).“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “cộng

Một là: Quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định
hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển (các
cấp quản lý nhà trường và sự hợp tác, giám sát của xã hội/cộng đồng).
Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức
các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo
và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra (thực hiện các chức
năng quản lý của một tổ chức).
Mục tiêu đề ra của nhà trường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học. Hiện
nay các nhà quản lý trường học quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội
dung, phương pháp, tổ chức quản lý và kết quả. Đó là các thành tố trung tâm của
quá trình sư phạm, nếu quản lý và tác động hợp quy luật sẽ đảm bảo một chất lượng
tốt trong nhà trường.
Quản lý giáo dục: P.V Khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động
có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp
khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD – ĐT đến trường học) nhằm
đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển
toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo
dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”. [20, tr .341]
Theo GS.VS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói
chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của
mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và đối với từng học
sinh”.
Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS Nguyễn Quốc Chí thì: “Quản lý giáo
dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp
quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt
được mục tiêu của nó”. [8, tr.12]
Quản lý giáo dục theo hướng tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các
lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển
15

16
- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi).
- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.
- Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.
+ Một số đặc điểm, đặc thù của Giáo dục – Đào tạo.
- Đặc điểm kết hợp quản lý hành chính và quản lý chuyên môn trong các hoạt
động quản lý giáo dục.
- Đặc điểm về tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý.
- Đặc điểm kết hợp Nhà nước – xã hội trong quá trình triển khai quản lý nhà
nước về giáo dục. [27, tr .66].
1.2.3. Đạo đức, giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức
Đạo đức: Khái niệm đạo đức trong đời sống hàng ngày là để nhận xét nhân
phẩm của mỗi người so với những chuẩn mực đạo đức xã hội, thể hiện trong quan
hệ giao tiếp ứng xử với mọi người xung quanh và so với bổn phận, trách nhiệm xã
hội đòi hỏi.
Các nhà nghiên cứu Đạo đức học phân tích khái niệm đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội đặc trưng của xã hội loài người, nó có tính lịch sử xã hội, bị chế
ước, chi phối bởi những điều kiện khách quan của kinh tế xã hội, dân tộc, lịch sử.
Đạo đức có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nhân cách con người trong các
thời kỳ lịch sử.
- “Đạo đức là quy tắc chung trong xã hội và hành vi của con người, quy định
những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội. Đạo đức là
hình thái của ý thức xã hội… Chủ nghĩa Mác – Lê nin xây dựng quan điểm về đạo đức
và những yêu cầu của đạo đức không phải trên những định nghĩa chung và trừu tượng
mà trên những điều kiện lịch sử cụ thể. Không có đạo đức nào ở ngoài xã hội loài
người. Trong một xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Những hình thức kết cấu
xã hội và cơ sở kinh tế mà biến đổi thì đạo đức cũng biến đổi theo”. [37, tr. 7]
Theo Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng trình bày trong cuốn Đạo đức
học – Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001 thì “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là
tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh

18
Giáo dục đạo đức là một quá trình tổ chức giáo dục xã hội và tự giáo dục rèn
luyện, trong đó mỗi cá nhân vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình giáo dục
đạo đức nói riêng và quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách nói chung. Tuyệt
nhiên không nên coi giáo dục đạo đức là việc riêng của nhà trường, của thầy cô giáo
và đối tượng của nó chỉ là thế hệ trẻ. Song, phải khẳng định rằng giáo dục đạo đức
trong nhà trường đối với thanh, thiếu niên học sinh, sinh viên có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng.
Quản lý giáo dục đạo đức: Hiện nay chưa có một chuyên gia nghiên cứu đạo
đức nào đưa ra một khái niệm “Quản lý giáo dục đạo đức”.
Thực sự khó tìm được một công trình riêng về quản lý giáo dục đạo đức.
Thường các chuyên gia nghiên cứu về giáo dục đạo đức đặt vấn đề giáo dục đạo
đức như một mặt của giáo dục toàn diện.
Điển hình nhất là tập thể tác giả của công trình nghiên cứu về con người thời
kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá của hội đồng lý luận Trung ương do GSVS Phạm
Minh Hạc làm chủ nhiệm. Chương trình mang mã số KHXH – 04 – 04 , kết quả
nghiên cứu tập thể tác giả đề xuất “Những giải pháp giáo dục đạo đức cho con
người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hoá”, tập thể tác giả xác định 06
nhóm giải pháp:
1. Tiếp tục đổi mới nội dung hình thức giáo dục đạo đức trong các trường
học
2. Củng cố, tăng cường giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ
với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho mọi người (không chỉ thế
hệ trẻ).
3. Kết hợp chặt chẽ việc giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm minh
pháp luật của các cơ quan thi hành pháp luật.
4. Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn
luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho các cán bộ, đảng viên, cho thầy
trò trong các trường học.
5. Xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo

đồ vật do con người sáng tạo ra với xã hội và với bản thân”. [2, tr.17].

Trích đoạn Xây dựng cơ chế tổ chức và điều hành hoạt động giáo dục đạo Xây dựng chương trình, nội dung và tổ chức bồi dưỡng cho các Chỉ đạo đa dạng hoá các hình thức hoạt động giáo dục đạo đức Tổ chức xây dựng các phong trào,các điển hình tiên tiến trong Đánh giá, khảo sát tính khả thi của biện pháp đề xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status