MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Văn kiện đại hội X, XI của Đảng đã nhấn mạnh đến việc đổi mới hệ thống
giáo dục - Đào tạo nhằm phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao và
nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành nghề, trình độ
đào tạo, dân tộc vùng miền... Do vậy, coi trọng công tác hướng nghiệp và
phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động
nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng
địa phương là nhiệm vụ quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại
hoá đất nước và hội nhập quốc tế. Công tác hướng nghiệp phải bám sát xu thế
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương thì mới
thực hiện được nhiệm vụ của GD trong phát triển nguồn nhân lực. Chỉ thị số
33/2003/CT - BGD&ĐT ngày 23/7/2003 về việc tăng cường GDHN cho học
sinh phổ thông đã nêu rõ: “...Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của nội
dung giáo dục phổ thông toàn diện đã được xác định trong Luật giáo dục. Chủ
trương đổi mới chương trình GDPT hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu
tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả
vào phân luồng học sinh chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống lao động
hoặc được tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực của bản thân và nhu cầu của
xã hội...”
Giáo dục dân tộc, vùng cao có vị trí quan trọng trong công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Chỉ có bằng con đường phát triển giáo
dục mới có thể nhanh chóng đưa vùng cao và vùng dân tộc thoát khỏi nghèo
nàn lạc hậu, giảm dần khoảng cách giữa vùng cao và vùng dân tộc với vùng
đồng bằng.
Đảng và nhà nước ta đã xác định GDHN đóng vai trò quan trọng trong
việc thực hiện nhiệm vụ tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số của nhà
1
trường Trung học phổ thông nhằm giáo dục đào tạo con em các dân tộc ở
vùng cao trở thành những hạt giống tốt, những cán bộ cốt cán, những người
lao động giỏi, biết tổ chức cuộc sống gia đình văn minh ấm no, hạnh phúc,
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, khảo sát thực trạng quản lý GDHN ở các
trường THPT huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai để đề xuất các biện pháp
QL GDHN của hiệu trưởng nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị tạo nguồn đào
tạo cán bộ xã của các trường THPT huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai.
Chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh THPT phụ thuộc một phần
vào chất lượng giáo dục hướng nghiệp. Theo đó, nếu đề xuất và vận dụng các
biện pháp quản lý GDHN của Hiệu trưởng sẽ góp phần nâng cao chất lượng
GDHN cho học sinh nhằm tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường
Khương, tỉnh Lào Cai.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
3.1. Khách thể nghiên cứu: Giáo dục hướng nghiệp của trường trung học
phổ thông theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường Khương
tỉnh Lào Cai.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí GDHN ở các trường
THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường Khương
tỉnh Lào Cai.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Áp dụng đồng bộ những biện pháp quản lý GDHN ở các trường THPT
huyện Mường Khương sẽ đạt những hiệu quả nhất định, đáp ứng mục tiêu
giáo dục trong trường THPT, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ dân tộc
thiểu số ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
3
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
5.1. Những vấn đề lí luận liên quan đến QL giáo dục hướng nghiệp ở các
trường THPT.
5.2. Thực trạng QL GDHN ở các trường THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo
cán bộ xã ở huyện Mường Khương tỉnh Lào Cai.
5.3. Đề xuất các Biện pháp QL GDHN ở các trường THPT huyện Mường
Khương tỉnh Lào Cai theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về quản lý giáo dục hướng
nghiệp ở các trường THPT.
Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp ở các trường
THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường Khương tỉnh
Lào Cai
Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng
các trường THPT theo hướng tạo nguồn đào tạo cán bộ xã ở huyện Mường
Khương tỉnh Lào Cai
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. VÀI NÉT SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Giáo dục hướng nghiệp một số nước trên thế giới
Ở lĩnh vực nghề nghiệp, việc chọn nghề và nhất là mối quan hệ giữa
người lao động với nghề nghiệp, đã được nhiều nhà khoa học của nhiều quốc
gia quan tâm nghiên cứu nhằm giúp cho thanh thiếu niên học sinh có sự chọn
lựa nghề nghiệp sao cho phù hợp với năng lực, thể lực, trí tuệ, hứng thú cá
nhân và yêu cầu kinh tế của đất nước.
Cộng hòa Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học,
hướng nghiệp và tư vấn nghề sớm nhất trên thế giới.Thế kỷ 19 (năm 1848),
những người làm công tác hướng nghiệp ở Pháp đã xuất bản cuốn sách:
“Hướng nghiệp chọn nghề” nhằm giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn
nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ. Ngày
25/12/1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành
nghị định về công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở Hướng
nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi; tới ngày 24/5/1938 công tác hướng
nghiệp đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng
nghiệp bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành
người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp.
thanh niên ở đó chọn được những nghề thích hợp với khả năng của bản thân
và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong xã hội.
7
1.1.2. Giáo dục hướng nghiệp và vấn đề tạo nguồn cán bộ DTTS ở
Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta rất coi trọng việc vận dụng sáng tạo
các quan điểm giáo dục của chủ nghĩa Mác - Lê nin nhằm đào tạo lớp người
lao động mới. Từ năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trong việc giáo
dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội
chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Người cũng đã khẳng định:
“Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm.”.
Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập
đến một yếu tố mới của giáo dục. Đó là, “Việc cung cấp cho học sinh những
tri thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những
ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội. Đó cũng chính là những nội dung giáo
dục kỹ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ.
Ngày 19/3/1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
126/CP về “Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng
học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra
trường”. Có thể coi quyết định này là một mốc quan trọng đối với sự phát
triển giáo dục trong hệ thống nhà trường phổ thông, bởi từ thời điểm ấy,
hướng nghiệp được chính thức coi như là một môn học và đồng thời được coi
như một hoạt động có trong các tiết dạy của các môn học.
Những vấn đề GDHN ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau như: Phạm Tất Dong [10,
11], Trần Khánh Đức [13], Hà Thế Truyền [36,37], Đặng Danh Ánh [01, 02],
Nguyễn Viết Sự [26, 27], Nguyễn Bá Minh [22], Nguyễn Đức Trí [34,35],
thức đào tạo cho các trường PTDTNT nhằm đáp ứng được yêu cầu của giáo
dục học sinh dân tộc trong thời kỳ mới
+ Nghiên cứu về lý luận GDHN cho học sinh dân tộc nội trú đặc biệt là
học sinh THPT ở trường DTNT Tỉnh
+ Đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề ở các trường
PTDTNT trên toàn quốc và đề ra các giải pháp thực hiện nhằm đáp ứng nhu
cầu về nguồn cán bộ dân tộc cho các địa phương.
Các công trình nghiên cứu đã đề cập tương đối toàn diện tới các mặt
giáo dục đào tạo của trường PTDTNT đặc biệt là công tác hướng nghiệp
dạy nghề cho học sinh được coi là một trong những hoạt động cơ bản hình
thành nhân cách người cán bộ dân tộc nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị
của trường PTDTNT tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các địa phương từ năm
1990 trở lại đây.
Song hiện nay, trong bối cảnh KT - XH của đất nước có nhiều thay đổi,
yêu cầu về nguồn cán bộ dân tộc được nâng lên cả về số lượng với những tiêu
chí cao hơn về năng lực và phẩm chất cộng với sự cải cách về quản lý hành
chính đang được thực hiện ở khắp các địa phương trên cả nước thì nhu cầu về
nguồn cán bộ cấp xã trở nên cấp thiết. Giáo dục hướng nghiệp để đáp ứng nhu
cầu này trong các trường THPT là vấn đề chưa được đề cập một cách sâu sắc
và có tính rộng rãi trong các công trình nghiên cứu nêu trên. Các trường
THPT trong huyện thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương là đào tạo học
sinh theo hướng nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực nên công tác GD nói
chung và GDHN nói riêng phải đáp ứng được yêu cầu của GD THPT, đồng
thời đáp ứng nhiệm vụ tạo nguồn đào tạo nhân lực cho địa phương. Đó chính
là quan điểm mà nhóm nghiên cứu đề tài đúc rút được qua các công trình nêu
10
trên để thực hiện trong việc giải quyết các nhiệm vụ đã đặt ra.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH
LÀO CAI
- Hướng nghiệp qua dạy kỹ thuật công nghệ và dạy nghề phổ thông.
- Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp (SHHN).
- Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khóa (HĐNK)
4) Nguyên tắc của giáo dục hướng nghiệp
a) Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục
Đảm bảo tính giáo dục là nguyên tắc cao nhất của GDHN trong trường
THPT, nó đòi hỏi GDHN trong trường phổ thông phải vừa góp phần hình
thành nhân cách toàn diện cho học sinh vừa phải tiến hành đồng bộ với các
mặt giáo dục khác nhằm đảm bảo giáo dục toàn diện.
Đảm bảo tính giáo dục trong GDHN còn có nghĩa là phải tránh các tư
tưởng lệch lạc xảy ra trong trường học, tư tưởng cường điệu hoá hay coi nhẹ
một mặt nào đó trong quá trình giáo dục.
b) Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục KTTH trong GDHN
Trong quá trình giáo dục ở trường THPT thì giáo dục lao động
(GDLĐ), giáo dục kỹ thuật tổng hợp (KTTH) và GDHN là 3 quá trình giáo
dục riêng biệt song chúng có mối quan hệ khăng khít với nhau, cùng nhau
thực hiện mục tiêu chung là đào tạo con người lao động mới. Mối quan hệ
này được biểu diễn bằng sơ đồ 1.1
12
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa GDLĐ, GDHN và giáo dục KTTH
GDLĐ trong trường phổ thông phải tuân theo tinh thần KTTH trong đó
nội dung chính là trang bị cho học sinh những nguyên lý cơ bản chung nhất
của quá trình sản xuất đồng thời rèn luyện cho học sinh sử dụng và điều khiển
được công cụ sản xuất cơ bản của một số ngành nghề chính.
Giáo dục KTTH có mục đích góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện,
có khả năng lao động sáng tạo và có tiềm lực để chuyển đổi nghề khi kỹ thuật
và qui trình công nghệ đổi mới.
Do vậy GDLĐ, giáo dục KTTH, GDHN tuy không đồng nhất với nhau
nhưng đều có chung mục tiêu là đào tạo con người không những sẵn sàng lao động
mà còn lao động sáng tạo có khoa học và đạt kết quả cao. Chính vì vậy GDHN phải
của mình.
- GDHN phải phát huy tác động giáo dục ý thức chính trị và lý tưởng
nghề nghiệp
- GDHN gắn với làm chủ công nghệ mới
- GDHN chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị trường nguồn
nhân lực
14
1.2.1.2. Quản lý giáo dục hướng nghiệp
1) Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý là cách làm, cách thực hiện, tiến hành giải quyết một
công việc hợp qui luật của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý để
điều khiển, hướng dẫn các hành vi của đối tượng quản lý nhằm đạt được mục
tiêu quản lý.
2) Quản lý giáo dục hướng nghiệp
GDPT là một tiểu hệ thống trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt
Nam. Hệ thống này có một vai trò và vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo
dục hình thành nhân cách con người Việt Nam mới. Cơ sở GDPT gồm trường
tiểu học, trường THCS, trường THPT, trường phổ thông nhiều cấp, trung tâm
kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp. Mục tiêu giáo dục ở trường THPT đã được
Luật giáo dục 2009 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu lên ở
điều 27: “Giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục
THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ
thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn
hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động. [20]
Hướng nghiệp ở trường phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong
quá trình phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy quản lý GDHN ở trường THPT
trong giai đoạn hiện nay là quản lý các thành tố và mối quan hệ giữa các
thành tố cấu trúc của quá trình GDHN nhằm đạt mục tiêu GDHN. Các thành
tố và mối quan hệ này được biểu diễn bằng sơ đồ 1.2 sau đây:
16
1.2.2.2. Một số đặc điểm của học sinh THPT vùng cao
Học sinh THPT vùng cao chủ yếu là người dân tộc thiểu số ngoài
những đặc điểm chung của học sinh THPT còn có những đặc điểm khác biệt
mang tính đặc thù cần được quan tâm chú ý trong quá trình GD học sinh:
1) Những đặc điểm về KT - XH
- Xuất thân trong cộng đồng các dân tộc thiểu số với dân số ít và phân
bố không đồng đều; sinh sống tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên
giới; kinh tế phát triển chậm; phát triển giáo dục gặp nhiều khó khăn.
- Xuất thân trong cộng đồng tộc người có một đời sống văn hoá truyền
thống phong phú và đa dạng. Nhưng trong sự phong phú và đa dạng ấy cũng
bộc lộ một số hạn chế nhất định trước nhu cầu phát triển và hội nhập vào sự
phát triển chung của quốc gia, khu vực và thế giới.
- Đời sống còn nhiều khó khăn, tỷ lệ nghèo đói cao đã ảnh hưởng không
nhỏ đến sự phát triển của học sinh dân tộc thiểu số về thể chất và tinh thần.
- Điều kiện tiếp cận thông tin hiểu biết về văn hoá xã hội, khoa học
công nghệ còn hạn chế; Ít có điều kiện trong việc giao tiếp với tuổi trẻ trong
nước và quốc tế
- Xây dựng gia đình sớm, nhiều con do nhận thức và tập quán nên đã
ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bản thân và cộng đồng.
- Trình độ học vấn thấp kéo dài trong nhiều năm đã ảnh hưởng không
nhỏ đến sự phát triển của bản thân cộng đồng và xã hội; Tỷ lệ biết tiếng phổ
thông chưa cao, chưa thuần thục đã ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ, học
tập và giao lưu văn hoá, tiếp thu khoa học công nghệ vào sản xuất, phát triển
kinh tế cho bản thân gia đình, cộng đồng địa phương và quốc gia.
2) Những đặc điểm về tâm lý học sinh
Khi học tại các trường THPT học sinh dân tộc thiểu số có sự thay đổi
17
về hình thức sinh hoạt, tiếp cận với các hoạt động xã hội khác với một số thói
quen sinh hoạt hằng ngày, được mở rộng tầm nhìn. Các em phải rèn luyện
nhân dân cấp xã có trách nhiệm giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước về các
lĩnh vực công tác (Tài chính, Tư pháp, Địa chính, Văn phòng, Văn hoá - Xã
hội, Công an, Quân sự) và thực hiện các nhiệm vụ khác do chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp xã giao.[7, tr9]
1.2.3.2. Những năng lực cần thiết của người cán bộ, công chức cấp xã
người DTTS trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Theo tác giả Nguyễn Duy Hùng: “Nếu trình độ lý luận và chuyên môn
có thể đào tạo được, thì những năng lực sau lại thuộc về tư chất vốn có của
mỗi người mà một người cán bộ lãnh đạo ở cơ sở rất cần. Đó là năng lực tổ
chức thực hiện, năng lực vận động quần chúng, năng lực xử lý tình huống”
[15, tr65]. Những năng lực trên không thể được hình thành và phát triển trong
khoảng thời gian đào tạo chuyên môn nghiệp vụ của các chức danh cán bộ,
công chức cấp xã, phường đó chính là nhiệm vụ của các nhà trường THPT
trong công tác giáo dục và phát triển nhân cách cho học sinh. Nhiệm vụ đó
phải được cán bộ quản lý nhà trường đưa vào theo chương trình, mục tiêu cụ
thể mang tính chuyên biệt để khi ra trường học sinh có thể tiếp cận ngay với
những công việc mang tính xã hội cao, bởi cán bộ xã là lực lượng thường
trực hàng ngày hàng giờ tiếp xúc với dân, trực tiếp triển khai những chủ
trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến với người
dân, trong điều kiện đời sống vật chất ở cơ sở còn nhiều khó khăn cùng với
tính đa dạng biến động của thực tiễn luôn đặt ra những tình huống hết sức
phong phú. Trước những tình huống muôn màu, muôn vẻ đó năng lực giải
quyết tình huống, kỹ năng hoà giải cũng trở nên một công cụ - phẩm chất cần
thiết và đắc lực giúp người cán bộ ở cơ sở hoàn thành nhiệm vụ của mình.
19
Như vậy GDHN ở trường THPT không chỉ dừng lại ở việc tư vấn để
học sinh chọn nghề theo nguyện vọng của cá nhân mà là một quá trình giáo
dục có định hướng rõ ràng. Sứ mệnh của học sinh khi tốt nghiệp ra trường là
làm cán bộ từ cấp cơ sở trở lên, cho nên GDHN còn phải chuẩn bị những
năng lực phẩm chất cần thiết cho học sinh đáp ứng được những yêu cầu về
góp phần phát huy vai trò của các lực lượng giáo dục trong quá trình hình thành
và phát triển toàn diện nhân cách học sinh đáp ứng được mục tiêu của GDHN
trong các trường THPT hiện nay.
1.3. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QL GDHN TRONG TRƯỜNG THPT
1.3.1. Chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về GDHN đối với học sinh trung học
phổ thông
Chỉ thị số 33/2003/CT-BGDĐT, ngày 23/07/2003 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh phổ thông chỉ rõ:
“Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm mục đích bồi
dưỡng, hướng dẫn học sinh, ngay từ trong nhà trường, chọn nghề phù hợp với
yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đồng thời phù hợp với năng lực cá nhân.
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông có nghiệm vụ: giáo dục
thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho học sinh làm quen
với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa
phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh
để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp
nhất; động viên học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần.
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bằng các hình thức:
tích hợp nội dung hướng nghiệp vào các môn học, lao động sản xuất và học
21
nghề phổ thông, hoạt động sinh hoạt hướng nghiệp và các hoạt động ngoại
khóa khác.
Các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trung tâm kỹ thuật
tổng hợp - hướng nghiệp cần phân công một đồng chí lãnh đạo phụ trách công
tác giáo dục hướng nghiệp và cử giáo viên có năng lực tổ chức sinh hoạt
hướng nghiệp cho học sinh.” [4]
1.3.2. Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hoạt động của
trường THPT
1.3.2.1. Vị trí của trường trung học trong hệ thống giáo dục quốc dân
duyệt đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức xã, phường, thị trấn người
dân tộc thiểu số giai đoạn 2006 - 2010 đã xác định rõ mục tiêu như sau: “Đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số, đặc biệt
là cán bộ chủ chốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và năng lực,
bảo đảm về tiêu chuẩn, cơ cấu dân tộc, trình độ, tính kế thừa giữa các thế hệ
nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở,
thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở vùng dân tộc thiểu số”
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2011 - 2016, trong
phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ các giải pháp chủ yếu đã nêu:
Về phát triển văn hoá - xã hội đồng bộ, bảo đảm an sinh xã hội và xoá
đói, giảm nghèo bền vững: Xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển
nguồn nhân lực để từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
23
Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, tạo bước đột phá về chất lượng nguồn
nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa; đặc biệt là lực lượng lao động có trình độ cao.
Về nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn
nhân lực có chất lượng: Xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển nguồn
nhân lực của tỉnh, trong đó xác định rõ cơ cấu ngành nghề, tỷ trọng trong các
lĩnh vực và cấp bậc đào tạo. Đẩy mạnh công tác xã hội hoá về giáo dục, huy
động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển giáo dục, đào tạo.[29]
Như vậy, các nội dung nêu trên đều tập trung đề cập đến việc xác định
rõ nhiệm vụ của các trường THPT là tạo nguồn đào tạo cán bộ cấp cơ sở cho
các địa phương, chỉ đạo chú trọng đến công tác phân luồng học sinh và đào
tạo theo địa chỉ, nhu cầu về cán bộ dân tộc thiểu số của địa phương. Quan
điểm của các cấp chỉ đạo đều xác định rõ công tác GDHN trong các trường
THPT không những đảm bảo theo quy định chung của GDHN mà còn đạt
mức cao hơn về GD nghề nghiệp, trong khi học sinh THPT vùng thấp, vùng
phát triển khi ra trường được trang bị kiến thức hiểu biết về nghề nghiệp và
phường, thị trấn,[7] đã nêu tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức chuyên trách
cấp xã về phẩm chất, năng lực, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, trình
độ lý luận chính trị, và quy định cơ cấu nghề nghiệp của các chức danh trong
chính quyền cấp xã: Để thực hiện nhiệm vụ ở các vị trí trong chính quyền cấp
xã đòi hỏi người cán bộ, công chức cần phải có trình độ chuyên môn thuộc
các nhóm ngành - nghề: Quản lý hành chính, Kế toán, nông lâm nghiệp, văn
25