BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Ý NGHĨA LÝ LUẬN THỰC TIỄN KHI NGHIÊN CỨU LÝ
THUYẾT KINH TẾ TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG, TRỌNG NÔNG
TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIÊT NAM HIỆN NAY
GVHD:
Nhóm : 01
1. Bùi Thị Miến
2. ĐinhThành Long
3. Lê Thị Hân
4. Phạm ThịTuyết Nhung
5. Huỳnh ThịTrúc Nguyên
6. Nguyễn Trịnh Thùy Dương
7. Tô Ngọc Linh
8. Huỳnh Thị Hoài Phương
9. Phạm ThịThanh
10. Võ Nguyễn Thảo Quỳnh
TP.HỒ CHÍ MINH- NĂM 2015
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA CHỦ NGHĨA TRỌNG
THƯƠNG VÀ CHỦ NGHĨA TRỌNG NÔNG
6
1.1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa
trọng nông
6
1.1.1.Hoàn cảnh lịch sử ra đời của chủ nghĩa trọng thương 6
1.1.2.Hoàn cảnh lịch sử ra đời của chủ nghĩa trọng nông 6
hướng hiện đại”. Để tiến hành mục tiêu nói trên thành công cần có nhiều
tiền đề cần thiết, trong đó nông nghiệp và thương nghiệp là tiền đề quan
trọng nhất trong quá trình phát triển đất nước.
Là một quốc gia nông nghiệp 72% dân số ở nông thôn, gần 70% lao
động làm nông nghiệp, 20% GDP do nông nghiệp tạo ra và trên 30% kim
ngạch xuất khẩu có nguồn gốc từ nông nghiệp thì việc giải quyết tốt những
vấn đề về nông nghiệp có đóng góp to lớn đối với việc phát triển công
nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam. Trong đó, những quan điểm tích
cực của trường phái trọng nông là một học thuyết kinh tế có ý nghĩa to lớn
đối với việc nghiên cứu kinh tế học cũng như thực tiễn phát triển kinh tế xã
hội. Cũng như vậy chủ nghĩa trọng thương ra đời tuy còn nhiều hạn chế,
nhưng với tư cách là học thuyết kinh tế đầu tiên đã có những đóng góp
quan trọng trong việc đặt nền tảng cho họat động ngoại thương phát triển
trong suốt hàng nghìn năm luôn bị xem thường.
Thật vậy theo đại biểu Montechretien (Pháp) coi nội thương là hệ
thống ống dẫn, còn ngoại thương như là chiếc máy bơm. Muốn tăng của cải
thì phải có ngoại thương nhập và dẫn của cải thông qua nội thương.
Lịch sử kinh tế cũng đã nhiều lần cho thấy cái hậu quả của việc đóng cửa
để thực hiện nền kinh tế khép kín, như cái thời bao cấp ở nước ta trước năm
1986 ấy. Đồng thời thực tiễn cũng đã chứng minh việc mua bán mang lại
tốc độ phát triển vượt trội thế nào khi một quốc gia mở rộng quan hệ ngoại
thương với thế giới. Nhất là trong thời kỳ mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế,
4
nước ta đã vận dụng chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa trọng nông như
thế nào và đạt được những thành tựu ra sao.
Đó là lý do nghiên cứu đề tài: “Ý nghĩa lý luận thực tiễn khi nghiên cứu lý
thuyết kinh tế trường phái trọng thương, trọng nông trong công cuộc đổi
mới ở Việt Nam hiện nay”, bài tiểu luận bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Chương I: Tư tưởng kinh tế của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa
trọng nông
rất phát triển. Giai cấp phong kiến không còn phù hợp, tỏ ra lỗi thời
và mâu thuẫn sâu sắc với xu thế đang phát triển của CNTB.
Do Pháp ở vào hoàn cảnh đặc biệt, để đưa kinh tế thoát khỏi bế
tắc cần phải phát triển nông nghiệp, gỡ bỏ những mâu thuẫn, giải
phóng lực lượng sản xuất trong nông nghiệp. Trường phái trọng
nông xuất hiện đáp ứng nhu cầu nói trên, vì vậy chủ nghĩa trọng
nông ra đời trong bối cảnh của nước Pháp vào năm 1756. Pháp
chính là cái nôi ra đời của chủ nghĩa trọng nông.
1.2. Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương
và chủ nghĩa trọng nông.
1.2.1 Những tư tưởng kinh tế chủ yếu của chủ nghĩa trọng thương.
Thứ nhất, họ đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ (vàng
bạc) là tiêu chuẩn cơ bản của của cải. Theo họ “một xã hội giàu có là
có được nhiều tiền”, “sự giàu có tích luỹ được dưới hình thái tiền tệ
là sự giàu có muôn đời vĩnh viễn”.
Tiền là tiêu chuẩn căn bản của của cải, đồng nhất tiền với của cải
và sự giàu có, là tài sản thực sự của một quốc gia. Quốc gia càng
nhiều tiền thì càng giàu, hàng hoá chỉ là phương tiện làm tăng khối
lượng tiền tệ.
Tiền để đánh giá tính hữu ích của mọi hình thức hoạt động nghề
nghiệp.
Thứ hai, để có tích luỹ tiền tệ phải thông qua hoạt động thương
mại, mà trước hết là ngoại thương, họ cho rằng: “nội thương là hệ
thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm”, “muốn tăng của cải phải
có ngoại thương dẫn của cải qua nội thương”. Từ đó đối tượng
7
nghiên cứu của chủ nghĩa trọng thương là lĩnh vực lưu thông, mua
bán trao đổi.
Thứ ba, , họ cho rằng, lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông buôn
bán, trao đổi sinh ra. Do đó chỉ có thể làm giàu thông qua con đường
Họ nêu cao khẩu hiệu “tự do buôn bán, tự do hoạt động” và thừa
nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ sở hữu.
Thứ năm, kêu gọi chính phủ nên đứng ngoài mậu dịch quốc tế và để
nó tự hoạt động nghĩa là để cho tư nhân tự do kinh doanh. Các nhà
trọng nông nhận thấy rằng những quy trình tự động diễn ra đều khiến
cho mậu dịch hỗ trợ dễ dàng cho sự phát triển nền kinh tế năng động
nghĩa là buôn bán lúa gạo sẽ tạo điều kiên thuận lợi cho việc mở
rộng nông nghiệp, cũng như tiền tạo điều kiện cho mậu dịch .
Thứ sáu, nhà nước cần có chính sách đầu tư cho đường sá, cầu cống.
Lợi dụng vận tải đường thủy rẻ để chuyên chở sản phẩm. Cần chống
lại chính sách giá cả nông sản thấp để tích lũy trên lưng nông dân bởi
như thế sẽ không khuyến khích được sản xuất, không có lợi cho xuất
khẩu và đời sống của nhân dân. Cách quản lý giá tốt nhất là duy trì
sự tự do hoàn toàn của cạnh tranh.
1.3. Những đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa trọng thương và chủ
nghĩa trọng nông.
1.3.1 Những đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa trọng thương.
Chủ nghĩa trọng thương ở Anh chia làm 2 giai đoạn phát triển:
Giai đoạn 1 diễn ra trong thế kỉ XV-XVI gọi là giai đoạn học thuyết
tiền tệ.
Đại biểu của chủ nghĩa trọng thương thời kì này là William
Stafford, ông cho rằng nguyên nhân của sự đắt đỏ nằm ở vấn đề
khối lượng tiền trong nền kinh tế. Vì thế, Nhà Nước cần phải có các
9
biện pháp hành chính tác động vào quá trình lưu thông nhằm giữ
khối lượng tiền khỏi bị hao hụt.
Nội dung chủ yếu là bảng cân đối tiền tệ: ngăn chặn không cho tiền
chạy ra nước ngoài, khuyến khích mang tiền vàng từ nước ngoài về.
Biện pháp:
- Quy định tiền của nước Anh là vàng.
trong đó T
2
> T
1
10
Tiền tệ là hiện thân của của cải. Coi thương mại là ngành duy nhất để
kiếm tiền.
Chủ nghĩa trọng thương ở Pháp.
Đại biểu nổi tiếng là Antoine de Montchretien (1575 – 1622).
Quan điểm:
Quan điểm mang màu sắc tiểu tư sản, thông cảm với quần chúng
nhân dân, đặc biệt là nông dân bị đè nặng dưới ách phong kiến, lên
án sự xa hoa của giới quý tộc. Nông dân là chỗ dựa cho Nhà nước và
Nhà nước phải quan tâm đến nông dân. Ông khẳng định “tài sản của
đất nước không chỉ là tiền tệ mà còn bao gồm cả dân số đặc biệt dân
số nông nghiệp”.
Ông cho rằng thương mại là mục đích chủ yếu của nhiều ngành nghề
khác nhau. Thương nhân giữ vai trò liên kết người sản xuất với nhau.
Lợi nhuận thương nghiệp là chính đáng vì nó bù đắp sự rủi ro thua
thiệt trong việc giao dịch mua bán.
Biện pháp:
Hàng hóa nước ngoài bị đẩy ra khỏi nước Pháp, tăng cường thúc đẩy
hoạt động sản xuất trong nước và ngành thương mại, để nước Pháp
có thể tự cung tự cấp. Các nhà sản xuất vải lanh Hà Lan phải kết thúc
hoạt động ở Pháp, cấm nhập khẩu sản phẩm dệt của Anh. Thậm chí
sách nước ngoài cũng bị cấm để ngăn chúng “đầu độc tinh thần
chúng tôi”.
Cho thành lập rất nhiều công trường thủ công sản xuất các sản phẩm
theo mẫu của nước ngoài nhằm tạo việc làm cho người dân lang
thang thất nghiệp.
- Giai cấp không sản xuất
Lý thuyết tái sản xuất
- Giá trị tổng sản phẩm xã hội bao gồm 7 tỷ Fr trong đó
5 tỷ Fr giá trị sản phẩm nông nghiệp
2 tỷ Fr giá trị sản phẩm công nghiệp
Giai cấp sở hữu có 2 tỷ Fr do giai cấp sản xuất nộp địa tô
Học thuyết kinh tế của Anne Robert Jaucques Turgot (1727 –
1781)
Lý thuyết giá trị:
Tán thành quan điểm của Quesnay trong sản xuất ra “ sản phẩm thuần
túy”. Ông phát triển thêm và phân biệt hai loại giá trị :
- Giá trị chủ quan
- Giá trị khách quan
Ông cho rằng giá trị trao đổi phụ thuộc giá trị chủ quan
Sản phẩm thuần túy là sản phẩm thặng dư do lao động của người nông
dân tạo ra
Lý luận về tiền lương và lợi nhuận:
- Đề ra quy luật sắt .
- Ông theo quy luật trả tiền lương thấp.
- Đối với lợi nhuận ông nêu sự khác nhau giữa thu nhập của công
nhân và nhà tư bản .
Lý luận về tư bản và sự phân chia giai cấp
13
- Về tư bản: trong bất cứ ngành lao động nào, người lao động cũng
phải có trước những công cụ lao động và số lượng vật liệu đầy đủ
làm đối tượng lao động của họ
- Về phân chia xã hội thanh 5 giai cấp dựa trên quan hệ về tư liệu sản
xuất và ngành hoạt động sản xuất :
Những người sở hữu ruộng đất .
Tư sản nông nghiệp.
XUẤT NÔNG NGHIỆP
- Là ngành trung gian, không làm tăng hay
giảm khối lượng tiền tệ quốc gia.
- Tạo ra của cải, sản phẩm thuần túy.
- Nhà nước có vai trò kinh tế quan trọng , điều
tiết kinh tế của một quốc gia. Thông qua cơ
- Nhà nước không can thiệp vào nền kinh tế mà để
nền kinh tế tự hoạt động
15
3) VAI TRÒ CỦA NHÀ
NƯỚC
chế thuế suất để điều tiết hoạt động XNK,
thông qua cơ chế pháp luật để ngăn chặn sự
thất thoát vàng bạc ra nước ngoài, Nhà nước
khuyến khích thành lập các công ty độc quyền
XNK hàng hóa, vận chuyển hàng hóa XNK
- Ủng hộ sự can thiệp của nhà nước
- Chống can thiệp của nhà nước (ủng hộ tự do kinh
tế, quy luật khách quan)
4) VAI TRÒ CỦA TIỀN TỆ
- Tiền là của cải duy nhất khuyến khích tích
trữ tiền
- Tiền vừa là phương tiện lưu thông vừa là tư
bản để sinh lời
- Tiền là mục đích, hàng hóa là phương tiện
- Tiền chỉ là phương tiện kỹ thuật của lưu thông
- Tiền không phải là của cải duy nhất nên chống
tích trữ tiền
- Hàng hóa là mục đích, tiền là phương tiện
5) BIỂU HIỆN CỦA SỰ
+ Các chính sách kinh tế có tác dụng rút ngằn giai đoạn chuyển từ
phương thức sản xuất phong kiến lên phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa.
17
+ Tư tưởng nhà nước can thiệp vào kinh tế là một trọng những tư
tưởng tiến bộ. Sau này được kinh tế học tư sản vận dụng và phát
triển thành học thuyết kinh tế.
Hạn chế:
- Những lý luận của chủ nghĩa trọng thương chưa thoát khỏi lĩnh vực
lưu thông, nó mới chỉ nghiên cứu những hình thái của giá trị trao đổi.
Đánh giá sai trong quan hệ trao đổi, vì cho rằng lợi nhuận thương
nghiệp có được do kết quả trao đổi không ngang giá.
- Thành tựu lý luận nhỏ bé, giản đơn: Do phương pháp luận thiếu
khoa học và do điều kiện lịch sử quy định, nên học thuyết chủ nghĩa
trọng thương mới đề cập đến một vài phạm trù kinh tế và chưa có
khái niệm về quy luật kinh tế. Những phạm trù kinh tế mà họ nêu ra
cũng chỉ dừng lại ở hình thức bên ngoài chứ chưa đi vào phân tích
nội dung bên trong, chưa hiểu được bản chất của phạm trù kịnh tế
đó. Như vậy những người theo chủ nghĩa trọng thương chỉ nghiên
cứu hình thức bên ngoài, ở lĩnh vực lưu thông chứ không đi vào
nghiên cứu quá trình sản xuất để tìm ra bản chất và nội dung bên
trong của các phạm trù, các quy luật kinh tế. Lý luận mang nặng tính
chất kinh nghiệm (chủ yếu thông qua hoạt động thương mại của Anh
và Hà Lan).
- Một hạn chế rất lớn của chủ nghĩa trọng thương đó là đã quá coi
trọng tiền tệ (vàng, bạc), đã đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông
hàng hoá để xem xét nền sản xuất TBCN.
- Trong kinh tế đề cao vai trò của nhà nước thì lại không thừa nhận
các quy luật kinh tế.
18
LÝ THUYẾT TRƯỜNG PHÁI TRỌNG THƯƠNG VÀ TRỌNG
NÔNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tư tưởng kinh tế trọng thương đối với
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Thông qua việc phân tích lý luận kinh tế cơ bản của chủ nghĩa
trọng thương ở trên, mặc dù dừng lại ở chủ nghĩa kinh nghiệm nhưng
giá trị cốt lõi của các chính sách kinh tế mà các nhà Trọng thương
vạch ra vẫn có thể tìm thấy trong các chính sách kinh tế đương đại.
Nhiều chính sách kinh tế của các nhà nước ngày nay vẫn kế thừa
những tư tưởng Trọng thương, thậm chí cả những tư tưởng bảo hộ
của các nhà Trọng thương. Đối với nền kinh tế Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới , trên cơ sở các chính sách của chủ nghĩa Trọng thương
cũng rút ra một số gợi ý cho chính sách của Việt Nam như: gợi ý về
giải quyết vấn đề tự do hóa thương mại hay bảo hộ mậu dịch, về
chiến lược phát triển kinh tế sản xuất thay thế hàng nhập khẩu và sản
xuất hướng về xuất khẩu cũng như về vai trò của nhà nước điều tiết
kinh tế và thúc đẩy phát triển ngoại thương. Trong bối cảnh đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế, những gợi ý này vẫn còn nhiều ý nghĩa và khả năng
vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay.
Thứ nhất, Việt Nam xuất phát từ nước kinh tế lạc hậu,chịu hậu
quả nặng nề từ chiến tranh nên thương mại của nước ta kém phát
triển. Trước đổi mới, do sai lầm trong tư duy, nhận thức Đảng và
Nhà nước ta đã thực hiện chính sách đóng cửa nền kinh tế, mọi hoạt
động của nền kinh tế đều nhỏ hẹp. Chính đều này đã kìm hãm sự
20
phát triển kinh tế của đất nước,làm cho kinh tế tụt hậu qúa xa so với
thế giới. Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) Đảng và Nhà
nước quyết định chuyển đổi cơ cấu kinh tế ,từ nền kinh tế kế hoạch
hóa tâp trung sang nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường định
tức là giá trị nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu là một điều khó tránh
khỏi.
Thứ ba, các chính sách điều tiết kinh tế và bảo hộ lao thương mại
tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước thâm nhập
và mở rộng thị trường ra nước ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân
công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế
so sánh của nền kinh tế trong nước, đồng thời cũng bảo vệ thị trường
nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước đứng vững và
vươn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng yêu cầu tăng
cường lợi ích quốc gia. Việt Nam cũng đã thực hiện những chính
sách hướng đến xuất khẩu như miễn giảm thuế, tạo điều kiện về tín
dụng cho các doanh nghiệp và hộ gia đình sản xuất hàng xuất khẩu,
quảng bá thương mại thông qua kênh ngoại giao…Chính phủ cũng
sử dụng hàng rào thuế quan để bảo hộ mậu dịch đối với các ngành
công nghiệp non trẻ như công nghiệp sản xuất thép, công nghiệp sản
xuất ô tô…bằng cách đánh thuế cao các sản phẩm hoàn chế như xe ô
tô nguyên chiếc, các mặt hàng xa xỉ,nhưng lại đánh thuế thấp đối với
các hàng hóa trung gian. Tuy nhiên, bảo hộ sẽ có mặt trái của nó gây
thiệt hại cho Nhà nước và người tiêu dùng; hoặc nếu chính sách nảo
hộ không hợp lý sẽ dẫn đến tâm lý “ỷ lại” của các doanh nghiệp sản
xuất trong nước mà không tự mình tăng cường năng lực cạnh tranh
như ngành ô tô hay điện tử là những ví dụ điển hình cho trường hợp
này. Sau nhiều năm bảo hộ sẽ làm cho các ngành này không những
22
không phát triển mà còn có nguy cơ thụt lùi. Mặt khác, nếu bảo hộ
không hợp lý còn vấp phải sự trả đũa của các quốc gia khác ví dụ
như các vụ kiện chống bán phá giá mà một trong những nguyên nhân
dẫn đến các vụ kiện này là do chính sách bảo hộ không hợp lý. Do
đó, khi hội nhập thì các chính sách bảo hộ vi phạm các nguyên tắc và
cam kết quốc tế cần phải xóa bỏ.
nghiệp đó là kiến nghị Nhà nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn.
Trong những năm qua, Nhà nước đã rất quan tâm và tiến hành
hàng loạt các biện pháp như tăng cường các hoạt động khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư, công tác bảo vệ giống cây trồng, vật nuôi.
Nhìn chung, mặt bằng dân trí của nông dân nước ta còn thấp bởi vậy
Nhà nước càng chú trọng đến việc hướng dẫn, phổ biến cho nông
dân các cách thức thực hiện để đạt được hiệu quả cao.
Cùng với chủ trương coi khoa học công nghệ là quyết sách hàng
đầu Nhà nước cũng đã đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học – công
nghệ trong nông nghiệp, nông thôn. Với chủ trương chung là trang bị
kỹ thuật cho các ngành của nền kinh tế theo hướng hiện đại, Nhà
nước đã vận dụng tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất nông
nghiệp thể hiện tập trung ở những lĩnh vực: từng bước cơ giới hóa
nông nghiệp nông thôn, thủy lợi hóa, điện khí hóa , phát triển công
nghệ sinh học đã từng bước góp phần giải phóng sức lao động của
con người, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng vật
nuôi, cây trồng. Nhà nước cũng đã chủ trương tăng đầu tư vào ngân
sách và đa dạng hóa các nguồn vốn phát triển mạnh kết cấu hạ tầng
nông thông hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn,
đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và
24
khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và
tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch. Đồng thời,
cải thiện chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn vốn có đặc điểm là
trình độ học vấn thấp, phần đông người lao động chưa qua đào tạo,
bằng cách cử cán bộ, kỹ sư nông nghiệp về tận nơi sản xuất, hướng
dẫn nông dân cách sản xuất, canh tác khoa học và hiệu quả.
Thứ hai, nhà nước cần có chính sách giá cả, chính sách tiền
lương hợp lý để hỗ trợ, khuyến khích cho lĩnh vực nông nghiệp.