BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
HỌC PHẦN ĐA DẠNG TÀI NGUYÊN CÂY THUỐCHà Nội, 2014
MỞ ĐẦU
Khi xã hội loài người hình thành con người đã biết sử dụng các loài thực vật để sinh tồn
và chống chọi với thiên nhiên, bệnh tật, họ đã biết sử dụng các loài cây cỏ trong tự nhiên để
phục vụ cuộc sống của mình: như sử dụng làm thức ăn, nhà ở, làm thuốc, mồi săn bắt…Cùng
với sự phát triển của xã hội, con người đã đúc rút thành kinh nghiệm sử dụng các loài cây cỏ làm
thuốc và việc sử dụng cây cỏ làm thuốc ngày càng được con người quan tâm và sử dụng rộng
rãi.
Hiện nay với sự phát triển sinh học hiện đại đã và đang có những ứng dụng to lớn trong
việc nghiên cứu đa dạng cây thuốc và những ứng dụng chuyên sâu như phân tích hoạt tính, tách
chất từ cây thuốc từ đó khẳng định định được vai trò của thực vật đối với ngành y học hiện đại.
Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của y học hiện đại và của tây y thì đông y không mất đi
vị trí của mình mà ngày càng được con người quan tâm vì tính an toàn khi sử dụng và giá thành
hợp lí.
Việt Nam là trong những nước có nền y học cổ truyền phát triển và vấn đề nghiên cứu đa
dạng cây thuốc đang được các nhà nghiên cứu quan tâm và mang lại những lại những thành tựu
to lớn.
1.Lịch sử nghiên cứu cây thuốc trên thế giới
1.1 Tình hình điều tra, thống kê nguồn tài nguyên cây thuốc
Khi xã hội loài người hình thành con người đã biết sử dụng các loài thực vật để sinh tồn
và chống chọi với thiên nhiên, bệnh tật, họ đã biết sử dụng các loài cây cỏ trong tự nhiên để
phục vụ cuộc sống của mình: như sử dụng làm thức ăn, nhà ở, làm thuốc, mồi săn bắt…Cùng
với sự phát triển của xã hội, con người đã đúc rút thành kinh nghiệm sử dụng các loài cây cỏ làm
thuốc và việc sử dụng cây cỏ làm thuốc ngày càng được con người quan tâm và sử dụng rộng
rãi.
Theo thống kê của WHO, đến năm 1985 trên thế giới có khoảng 20.000 loài thực vật
(bao gồm cả thực vật bậc cao và thực vật bậc thấp) trong số các loài đã biết, được sử dụng trực
dọc theo bờ sông Indus ở miền nam Ấn độ. Trong bộ sử thi Vedas được viết năm 1500 TCN,
chứa đựng những kiến thức phong phú về thảo dược thời kỳ đó. Trong đó, nhiều loài cây được
xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle
marmelos) là cây dành cho thánh thần của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu
có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây được trồng gần các đền thờ.
Những công dụng của cây thuốc này được ghi lại trong cuốn sách dược thảo “ Charaka
Samhita”, viết năm 400 TCN. Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giả người Ấn Độ đã
mô tả chi tiết 341 loại dược thảo cũng như những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và
động vật [4]
Thảo dược ở Châu Âu cũng rất đa dạng và phần lớn dựa vào nền tảng của y học truyền
thống cổ điển. Ở thế kỷ thứ 1 SCN, một thầy thuốc của Hoàng đế La mã Marcus Aurelius có tên
là Galen (131 – 200 SCN) ông là người đã tìm ra những vị thuốc bào chế từ thảo mộc và có ảnh
hưởng sâu sắc đến sự phát triển của Y học truyền thống châu Âu. Ông viết hàng trăm cuốn sách
và được áp dụng hơn 1500 năm trong Y học châu Âu 4]. Tác giả Dioscorides người Hy Lạp đã
viết cuốn sách thảo dược có tên “De material Medica”. Cuốn sách này đã thống kê hơn 600 loài
thực vật làm thuốc gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến Y học phương Tây và là sách tham khảo chính
được dùng ở châu Âu đến thế kỷ XVII. Cuốn sách được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau như:
tiếng Anh, tiếng Ba Tư, Hebrew.[2].
Ai cập là nước có nền văn minh cổ Đại và có nhiều tài liệu về sử dụng cây thuốc được
ghi chép lại cách đây khoảng 3600 năm với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc từ cây cỏ
[13], v.v.
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của châu Âu nghiên cứu
về thực vật Đông Dương, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều loài cây
thuốc có giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật nơi
đây, Perry đã công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần
đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách: “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” [15], v.v.
Châu Úc được coi là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới. Thổ dân Châu
Úc đã định cư ở đây khoảng hơn 60.000 năm trước với nhiều kiến thức thực tiễn về cây thuốc
bản xứ như Bạch đàn xanh ( Eucalyptus globolus) duy nhất chỉ có ở châu Úc và được đánh giá
hiệu quả cao trong việc chữa bệnh. Tuy nhiên phần lớn kiến thức bản địa bị mất khi người châu
điều trị bệnh ở Mỹ. Các phân tử dùng làm thuốc khác là Xue bao PG2 (thuốc bổ tổng hợp từ
Astragalus membracaceus) và camptothecin tương tự như CPT11 và topotecan (thuốc chống
ung thư từ loài Camptotheca accuminata) có thị trường rất lớn. Năm 2002, người ta thống kê
được khoảng 1141 loại thuốc thực vật truyền thống khác nhau có hoạt tính chữa bệnh, trong đó
có một số hoạt chất mới từ thực vật như artemisinin (chống sốt rét), indirubin (chống ung thư),
vv Một trong 12 điểm trọng tâm trong kế hoạch 5 năm của Bộ Khoa học và Công nghệ Trung
Quốc là hiện đại hóa nghiên cứu trong y học cổ truyền.
Theo đông y Trung Quốc cây Psychotria rubra (Lour.) Poir. dùng toàn thân giã nhỏ làm
thuốc chữa gãy xương, tiêu sưng, rửa mụn nhọt độc rất hay [18]. Ngải cứu (Artemisia vulgaris
L.) được dùng trị thổ huyết, trực tràng xuất huyết, tử cung xuất huyết, đau bụng, bế kinh, phụ nữ
có mang bị động thai kiêm tác dụng cường tráng, trị chứng xuất huyết thuộc hàn và hư [18]. Tỏi
được dùng để chống bệnh đau màng óc, xơ động mạch, huyết áp cao, ung thư, viêm đường
ruột Lá của cây Psychotria rubra (Lour.) Poir. được phụ nữ Philippin dùng chữa kinh nguyệt
không đều, lá và hoa chữa ho, trị giun, giúp tiêu hoá tốt. Galien đã xem tỏi (Allium sativum L.)
là một loại thuốc chữa bệnh của người nông thôn có tác dụng lợi tiểu, trị giun, giải độc, chữa
hen suyễn, vàng da, đau răng và các bệnh về da.
Ấn Độ có kỹ năng điêu luyện trong tổng hợp hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc,
sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể
con người. Hiện nay chính phủ ấn Độ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cấy cây
thuốc. Hầu hết các Viện nghiên cứu về dược của ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa
các loại thuốc và các hợp chất có hoạt tính từ thực vật, như Reserpin (từ Rawolfia) có giá trị cao
trong hệ thống Ayuvedic. Curcumin [12] (chống viêm từ nghệ) Withaferin A, Kutkoside,
androgpholide và Vosicine là những hợp chất hóa học có nhiều triển vọng chữa bệnh.
Ở Châu Phi, thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng
đối với sức khỏe của hàng triệu người. Tỷ lệ người làm nghề thuốc cổ truyền và các bác sỹ được
đào tạo ở các trường Đại học có liên quan tới toàn bộ dân số của các nước Châu Phi. Người ta
ước tính số lượng thầy lang ở Tanzanmia khoảng 30.000 – 40.000 người, trong đó Bác sỹ làm
nghề y chỉ có 600 người. Tương tự ở Malawi có 17.000 người làm nghề thuốc cổ truyền và chỉ
có 35 bác sỹ thực hành. Sự tham gia của y học cổ truyền trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của
các quốc gia ở Châu Phi có ảnh hưởng lớn đối với việc chăm sóc sức khỏe ban đầu trong cộng
GTTM
(1000.USD)
1987 1988 1989 1990 1991 Trung bình
Nhập khẩu 960,39 1.046,61 1059,38 1.122,87 1.080,12 853,87
Xuất khẩu 733,38 829,64 795,79 901,87 694,25 590,99
(Nguồn COMTRADE data base), GTTM: giá trị thương mại
Trung Quốc là nước xuất khẩu cây thuốc lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 30% tổng giá
trị thương mại của thế giới (1991), tiếp theo là Hàn Quốc, Mỹ, ấn Độ và Chi Lê Singapo và
Hồng Kông là những nước tái xuất khẩu cây thuốc ở Châu á, Hồng Kông hàng năm nhập lượng
dược liệu trị giá 190 triệu USD, trong đó có 70% được sử dụng tại địa phương và có 30% được
tái xuất. Nhật Bản, Mỹ, Đức, Pháp, ý, Malaixia và Hy Lạp là những thị trường chính về cây
thuốc của thế giới. Hamburg là trung tâm thương mại về cây thuốc lớn nhất thế giới. Người ta
ước tính khoảng 4.000 – 6.000 loài thực vật có tầm quan trọng về thương mại, trong đó có tới
500 – 600 loài cây thuốc đang được buôn bán tại thị trường Hamburg. Ngoài ra còn một số
lượng rất lớn các loài cây thuốc được mua bán ở thị trường nội địa các nước mà chúng ta chưa
thống kê hết được.
Thị trường dược liệu toàn cầu đạt giá trị khoảng 550 tỷ USD vào năm 2004 [51] và có
thể đạt mức 900 tỷ USD vào năm 2008, trong đó ngành công nghiệp chế biến dược liệu chiếm
62 tỷ USD và có tiềm năng phát triển rất tốt. Những thống kê của Ngân hàng thế giới cho thấy,
các sản phẩm dược từ thực vật và nguyên liệu thô trong những năm gần đây tăng từ 5-10 %
[26.].
Khi nghiên cứu về giá trị thương mại của cây thuốc, thì thấy rằng nhu cầu sử dụng cây
thuốc ở các nước công nghiệp phát triển không ngừng tăng lên. Nếu năm 1976 đã nhập khẩu 335
triệu USD thì đến năm 1980 đã tăng lên 551 triệu USD,… . Chỉ tính riêng giá trị của 12 loại
dược liệu có nhu cầu sử dụng cao ở Mỹ là: Bạch quả, Sâm Triều tiên, Tỏi,… năm 1998 đã là
552 triệu USD [19], v.v.
Mặc dù, chiếm tỷ lệ nhỏ hơn thuốc có nguồn gốc từ hoá học và công nghệ sinh học nhưng
cây cỏ làm thuốc vẫn được buôn bán khắp nơi trên thế giới. Trên quy mô toàn cầu, doanh số
mua bán cây thuốc ước tính khoảng 16 tỉ Euro mỗi năm [5]. Đã có 119 chất tinh khiết được chiết
tách từ khoảng 90 loài thực vật bậc cao được sử dụng làm thuốc trên toàn thế giới, trong đó có
nhiên có thể coi năm 2838 trước Công nguyên là năm hình thành bộ môn nghiên cứu cây thuốc
và dược liệu. Vào năm này Thần nông viết cuốn “Bản thảo đầu tiên”.
Năm 1595, trước Công nguyên Lý Thời Trân thu góp tất cả kinh nghiệm về cây thuốc và
dược liệu từ trước soạn quyển “Bản thảo cương mục”. Đây là cuốn sách vĩ đại nhất của Trung
Quốc về lĩnh vực này. Trong tài liệu này ông đã mô tả và giới thiệu 1094 cây thuốc và vị thuốc
từ cây cỏ. Ngoài ra còn giới thiệu 798 vị thuốc từ động vật và khoáng vật.
Ở Việt Nam tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu trong nhân dân. Tập cây thuốc và
dược liệu đầu tiên của Việt Nam là tập “Bản thảo thực vật toàn yếu” do Phan Phu Tiên biên
soạn, hoàn thành vào năm 1429.
Tập sách thứ 2 xuất hiện trong lịch sử nghiên cứu cây thuốc nước ta là tập “Nam Dược
thần hiệu” do Nguyễn Bá Tĩnh (Tuệ Tĩnh) soạn và được in vào năm 1725. Tuệ Tĩnh là một đại
sư nước Việt chuyên dùng thuốc nam làm giảm giá trị của thuốc Bắc do vậy nhà Minh đã mời
cụ sang Trung Quốc (1412) chữa bệnh cho Tống Vương Phi và giam giữ ở Kim lăng không cho
về nước đến lúc chết. Tất cả tài liệu do Tuệ Tĩnh viết ra đã bị thu đốt. Hiện chỉ còn 4 quyển
(Nam dược thần hiệu, Tuệ Tĩnh y thư, Thập tam phương gia giảm, Thương hàn tam thập thất
trùng pháp).
Sau này, khi Lê Hữu Trác (1721 - 1792) nghiên cứu và truyền bá về cây thuốc và dược
học, nghề thuốc Việt Nam mới thực sự phát triển trở lại. Tư liệu vĩ đại nhất của ông là “Hải
thượng y tâm lĩnh” gồm 66 quyển.
Ngoài các bộ sách nói trên còn kế đến tập “Vạn phương tập nghiệm” của Nguyễn Nho và
Ngô Văn Tĩnh gồm 8 tập xuất bản năm 1763, tập “Nam bang thảo mộc” của Trần Nguyệt
Phương mô tả 100 loài cây thuốc nước Nam xuất bản năm 1858.
Trong thời Pháp thuộc nhiều nhà thực vật học người Pháp và người Việt góp công nghiên
cứu cây thuốc Việt Nam. Đáng kể hơn cả là các công trình công bố của Ch. Crévost và A.
Pétélot.
Sau kháng chiến chống Pháp, việc nghiên cứu và sử dụng cây thuốc nước ta đã được Đảng
và Nhà nước quan tâm. Một đội ngũ đông đảo các nhà nghiên cứu cây thuốc được hình thành,
nhiều chuyên gia giỏi xuất hiện và đạt được những kết quả to lớn.
2.2. Ý nghĩa kinh tế - xã hội của cây thuốc
Con người thường xuyên tiếp xúc với môi trường bất lợi và các nguồn gây bệnh. Vì vậy có
Việt Nam 3.200
Qua những số liệu trên thấy rõ số lượng các loài thực vật được sử dụng làm thuốc ở các
nước châu Á rất to lớn. Hiện nay nhiều loài cây thuốc trên thế giới còn chưa được ghi nhận, vì
vậy trong tương lai số loài thực tế làm thuốc ở thế giới cũng như ở mỗi quốc gia còn tăng lên
nhiều.
Ngoài các nước nhiệt đới châu Á, các nước châu Phi, các nước nhiệt đới châu Mỹ và một
số nước khác (Nhật Bản, Tây Á, Đông Âu) cũng có tiềm năng to lớn về cây cỏ làm thuốc.
Không chỉ châu Á, một số nước châu Âu hàng năm cũng sử dụng một lượng cây thuốc rất lớn.
Bảng 3. Tình hình khai thác một số loài cây thuốc ở Ucraina
Tên cây Năm thu số liệu Lượng khai thác tấn/năm
Aesculus hypostalum 1966 189,1
Fragula alnus 1969 407,0
Tilia cordata 1960 295,4
Juniperus communis 1968 199,9
Matricaria recutila hàng năm 200 - 250
Artemisia absinthium 1958 55,3
Ở nước ta số lượng các loài cây làm thuốc được ghi nhận không ngừng tăng lên trong
những năm gần đây:
1952: 1350 loài (toàn Đông Dương)
1986: 1863 loài (Việt Nam)
1996: 3200 loài (Việt Nam)
2004: 3.948 loài (Việt Nam)
2011 4.600 loài (Việt Nam), theo Võ Văn Chi
Hiện nay nhiều loài cây thuốc của Việt Nam được sử dụng trong y học cổ truyền của các
dân tộc chưa được điều tra nghiên cứu, do vậy đây chưa phải là số liệu cuối cùng về số loài cây
làm thuốc của nước ta.
Số loài thực vật làm thuốc của nước ta được phân bố trong khoảng 270 họ thực vật. Những
họ có số lượng lớn loài cây làm thuốc gồm:
Dương xỉ (Polypodiaceae) 26
Na (Annonaceae) 38
Nguồn: Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1998.
Trong số các loài cây thuốc Việt Nam, nhiều loài có phân bố rộng và trữ lượng lớn
(Stephania spp., Dioscorea, Homalomena occulta…) với những loài này nếu tổ chức tốt hàng
năm có thể khai thác với sản lượng ổn định hàng trăm tới hàng ngàn tấn.
Khi đánh giá tiềm năng cây thuốc Việt Nam, cần nhận thấy rằng nhiều loài cây thuốc nước
ta là các loài đặc hữu (Panax vietnamensis), hoặc các loài có khu phân bố hẹp và quý hiếm của
thế giới (Coptis, Nervilis, Berberis…). Đây thực sự là một đặc tính thuận lợi trong nghiên cứu
và phát triển cây thuốc của nước ta sau này:
2.4. Thành phần hoá học của cây thuốc và biến động của chúng
Khác biệt cơ bản nhất giữa đông y và tây y là ở chỗ, với các loại thuốc tây y, tác dụng
chữa bệnh thường được quyết định do một hợp chất hoá học, trong một số ít trường hợp do một
số hợp chất cùng tác động. Trong y học cổ truyền, thường dùng nhiều loại dược liệu phối hợp,
mỗi loại dược liệu lại chứa hàng trăm hợp chất khác nhau. Các hợp chất hoá hoặc có tác dụng
phối hợp hoặc tương hỗ với nhau trong quá trình chữa bệnh. Vì vậy không ít trường hợp việc
xác định vai trò điều trị của các hợp chất hữu cơ trong y học cổ truyền rất khó khăn.
Tuy nhiên người ta đã cố gắng làm rõ bản chất hoá học cũng như cơ chế điều trị của y học
cổ truyền.
Về bản chất hoá học có thể chia ra 2 nhóm chính: nhóm các hợp chất vô cơ và nhóm các
chất hữu cơ.
2.4.1. Nhóm các hợp chất vô cơ
Các chất vô cơ thường gặp trong dược liệu là một số muối khoáng (kali, iốt và selen…).
Tác dụng của nhóm chất này có thể quy ra hai hướng:
- Tác dụng toàn thân nhằm xúc tác các chuyển hoá của cơ thể (ví dụ: kali trong râu ngô,
mã đề; iốt trong tảo biển, Ké đầu ngựa). Ngoài ra có thể chống mỏi mệt do tham gia quá trình
cân bằng chất điện giải trong cơ thể.
- Tác dụng cục bộ: hàm lượng kali cao có thể làm máu chóng đông, chữa đau dạ dày do
thừa axít, sát trùng… gần đây nói nhiều tới selen trong hầu hết các vị thuốc. Nhiều tài liệu về vai
trò của selen trong cơ thể: nó tham gia vào nhiều hệ men, làm chậm quá trình ôxy hoá và lão hoá
của tế bào, tham gia quá trình tổng hợp protein của hồng cầu, tổng hợp AND, ARN, điều khiển
tổng hợp globulin miễn dịch… Ngoài ra có tác dụng tổng hợp vitamin C, kích thích miễn dịch,
H
20
O
9
+ H
2
O C
6
H
12
O
5
+ C
15
H
10
O
5
Frangulin Rhamnose Emodin
Tuỳ theo tác dụng của glucosit và hợp chất không đường có thể chia ra các nhóm:
- Glucosit chữa tim: thường gặp trong Thông thiên, Trúc đào. Thường rất đắng và độc.
- Glucosit đắng: đó là chất đắng trong vỏ Cam quýt, Bồ công anh, Thạch xương bồ, nhưng
không phải ancaloit. Vai trò chủ yếu làm ngon miệng, giúp tiêu hoá, chữa đau dạ dày.
- Saponin: là những glucosit có tác dụng tạo bọt trong nước, về tác dụng có tính phá vỡ
hồng cầu trong máu. Với những hợp chất này chú ý không để thấm vào đường máu có thể gây
phá hồng cầu. Thường gặp trong các cây Bồ kết, Viễn chí, Cát cánh, Cam thảo.
- Flavonoit và antocyannoit là các glucosit có màu. Các flavonoit có màu vàng,
antocyannoit có màu tím trong môi trường trung tính. Cho tới nay vai trò của antocyannoit với
cơ thể còn chưa rõ ràng. Flavonoit là chất thường gặp nhất (nhiều cây họ Gừng, Hoàng cầm,
Hoa hoè). Trong số này đặc biệt quan trọng là rutin có trong hoa hoè, có tác dụng làm bền thành
- Dẫn xuất của nhân indol:
Ví dụ: Stricnin (C
21
H
22
N
2
O) trong quả Mã tiền (Strychnos nux-vomica L.)
- Dẫn xuất của nhân piridin:
Ví dụ: A recolin (C
8
H
13
NO
2
) trong cây Cau (Areca catechu L.)
- Dẫn xuất của nhân tropan:
Ví dụ: Cocain (C
17
H
21
NO
4
) trong lá cây Coca
- Dẫn xuất của nhân quinolein:
Ví dụ: Quinin (C
20
H
24
N
18
H
21
NO
3
, H
2
O) trong thuốc phiện
- Dẫn xuất của nhân imidazon:
Ví dụ: Pilocarpin (C
11
H
16
N
2
O
2
) chưa thấy ở Việt Nam
- Dẫn xuất của nhân purin:
Ví dụ: Theophyllin (C
5
H
2
(NH
3
)
2
N
4
O
khí…). Vì vậy để đảm bảo chất lượng dược liệu ổn định trong quá trình bảo quản là một công
tác hết sức quan trọng.
- Trong quá trình chế biến nhiều trường hợp làm giảm chất lượng dược liệu, một số ít
trường hợp có thể làm thay đổi dược tính. Công việc chế biến dược liệu ở nước ta nhìn chung
chưa đạt trình độ cao do vậy chất lượng thường thấp so với sản phẩm cùng loại của một số nước
(Triều Tiên, Trung Quốc, Nhật Bản).
3. Tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc ở nước ta
Trong những năm 1960 - 1970 phong trào phát triển và sử dụng cây thuốc Nam được
khuyến khích và phát triển rầm rộ. Vào thời gian này 605 số xã ở miền Bắc có vườn thuốc nam.
Ngoài ra do công nghiệp dược phẩm của nước ta chưa phát triển, kinh tế đóng cửa ít có khả
năng nhập tây dược từ nước ngoài, do vậy trong các cơ sở y tế địa phương và trong dân gian sử
dụng cây thuốc trong nước để phòng và chữa bệnh là chính và có nhiều kết quả tốt.
Hiện nay sử dụng cây thuốc trong nước chủ yếu vẫn được duy trì ở các vùng dân tộc núi
cao và một số bộ phận cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ.
Trong công tác điều trị bằng y học cổ truyền, mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề của y học
Trung Quốc (thuốc Bắc) nhưng các vị thuốc khai thác trong nước vẫn có vị trí quan trọng. Nhiều
vị thuốc hoàn toàn trồng và khai thác tại Việt Nam, chưa bao giờ nhập của Trung Quốc (Kim
tiền thảo, Bồ công anh, Cát căn, Sài đất, Kim ngân, Hồi hoa, Quế, Thiên niên kiện…).
Bên cạnh đó, nhiều loài cây thuốc có thể thay thế cho dược liệu nhập nội, mặc dù chất
lượng chưa cao nhưng hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu chữa bệnh (Đảng sâm, Đương quy,
Ngưu tất, Bạch truật, Cát cánh, Kỷ tử…).
Nhiều loài cây thuốc đã khai thác ở Việt Nam có chất lượng cao bằng hoặc hơn các sản
phẩm cùng loại ở Trung Quốc. Trong số này đáng chú ý là các loài Bạch chỉ (Angelica dahurica
(Fisch. ex Hoffm.) Maxim), Xuyên khung (Ligusticum sp.), Thảo quả (Amomum aromaticum
Roxb.), Sa nhân, Quế (Cinnamomum cassia Presl), Hồi (Illicium verum Hook.f.)…
Ở các vùng miền núi nước ta và một bộ phận dân cư nông nghiệp, việc phòng và chữa
bệnh chủ yếu là sử dụng cây thuốc trong nước. Rõ ràng là cây thuốc Việt Nam đã có khả năng
đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh bằng y học cổ truyền.
Ngoài ra, trong những năm vừa qua một số loài cây thuốc đã là những nguyên liệu không
thể thiếu trong công nghiệp dược liệu hiện đại. Thành tựu quan trọng biểu hiện trong các công
các cây thuốc toàn diện, có hệ thống và sâu sắc ở nhiều lĩnh vực trong thời gian tới.
4. Bảo tồn đi đôi với việc khai thác hợp lý và phát triển trồng thêm cây thuốc
Do khai thác liên tục trong nhiều năm, ít chú ý tới bảo vệ tái sinh và cùng với nhiều nguyên
nhân tác động khác, đã làm cho nguồn cây thuốc tự nhiên ở Việt Nam bị giảm sút nghiêm trọng.
Nhiều vùng rừng ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Thanh
Hóa, Nghệ An và nhất là ở Tây Nguyên… trước đây phát hiện có nhiều loài cây thuốc mọc tập
trung đến nay đã không còn nữa. Hầu hết các loài cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao,
mặc dù vốn có vùng phân bố rộng, khai thác được nhiều, như Ba kích, Đảng sâm, Hà thủ ô đỏ,
Hoàng tinh (các loại), Hoàng đằng, Vàng đắng… hiện không còn khả năng khai thác lớn và
thậm chí đã trở nên hiếm rõ rệt. Nghiêm trọng hơn là đối với một số loài cây thuốc quý, vốn có
phạm vi phân bố hạn chế và số cá thể không nhiều, lại bị tìm kiếm và khai thác gay gắt, như các
loài Sâm mọc tự nhiên (Panax spp.); các loài Hoàng liên (Coptis spp., Berberis spp., Mahonia
spp.); Lan một lá (Nervilia spp.); Cỏ nhung (Anoectochilus spp.)… Những loài cây thuốc quý
hiếm này hiện đã ở trong tình trạng bịđe dọa tuyệt chủng cao tại Việt Nam.
Để duy trì khả năng khai thác lâu dài nguồn tài nguyên cây thuốc của nước ta, trước hết cần
phải xác lập kế hoạch khai thác một cách hợp lý những loài cây thuốc đã được xác định có khả
năng khai thác tự nhiên (không nằm trong danh sách bảo tồn). Việc khai thác những loài cây
thuốc này phải tuân thủ theo quy trình khai thác, đảm bảo tái sinh tự nhiên. Mặt khác, phối hợp
với các Vườn Quốc gia và khu Bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ các loài cây thuốc có tên trong Sách
Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (2006) đã phát hiện được trong hệ
thống rừng đặc dụng của nước ta. Đồng thời tiến hành nghiên cứu nhân giống và đưa vào trồng
thêm tại chỗ, trên đất phi nông nghiệp những loài cây thuốc, mà tái sinh tự nhiên không đáp ứng
được nhu cầu khai thác sử dụng và xuất khẩu.
Bảo tồn đi đôi với phát triển trồng thêm cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao là một
trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững nguồn tài nguyên dược
liệu hiện nay.
5. Một số loài cây thuốc thông dụng của Việt Nam
1/ Ba chẽ - Desmodium triangylare (Retz.) Merr. - họ Đậu (Fabaceae).
Thành phần hoá học: lá chứa alcaloid, axít hữu cơ, tanin.
Công dụng: chữa lỵ, ỉa chảy, chữa rắn cắn.
dưới 2 dạng aglycon và glycoside. Ngoài ra còn có tannin và các chất vô cơ khác.
9/ Cỏ sữa - Euphorbia spp. - họ Thầu dầu (Euphorbiaceae).
Thành phần hoá học: Phần trên đất chứa tinh dầu, một số axít hữu cơ, glucosid, vitamin C.
Công dụng: Tác dụng quan trọng nhất là kháng khuẩn dùng trong điều trị lỵ. Ngoài ra dùng
chữa mụn nhọt, phụ nữ băng huyết, tắc tia sữa. Có khả năng ngưng kết hồng cầu.
10/ Dâu - Morus acidosa Griff. - họ Dâu tằm (Moraceae).
Thành phần hoá học: - Lá: Các hợp chất glucid, axít hữu cơ, tanin, tinh dầu.
- Quả: Chủ yếu chứa đường, axít hữu cơ, chất màu, vitamin
- Vỏ rễ: Tanin, axít hữu cơ, flavonoid, steroid.
Công dụng: Chữa hen, ho gà, viêm họng, lợi tiểu. Dùng trong một số dạng nhiễm trùng (đau
mắt, mụn nhọt), cao huyết áp (cành, lá). Quả dâu có thể chữa bệnh đái đường, lao hạch,
chống lão hoá.
11/ Dây đau xương - Tinospora tomentosa (Colebr.) Mier. - họ Tiết dê (Menispermaceae).
Thành phần hoá học: Mới phát hiện thấy alcaloid.
Công dụng: Chữa sai khớp, bong gân, thấp khớp, trị đau lưng do thận hư. Có thể chữa rắn
cắn (phối hợp với Thài lài, Rau sam, Tía tô…).
12/ Đảng sâm - Codonopsis javanica (Blume.) Hook f. - họ Hoa chuông (Campanulaceae).
Thành phần hoá học: Mới phát hiện thấy đường, chất béo.
Công dụng: Tác dụng bổ toàn thân, kích thích hệ miễn dịch, tăng khả năng tiết sữa, chống
viêm, tăng hồng cầu trong máu, hạ huyết áp.
13/ Đinh lăng - Tieghemopanax fruticocus Vig. - Thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae).
Thành phần hoá học: Rễ chứa các saponin, lá chứa tanin.
Công dụng: Làm thuốc bổ tăng lực, chữa ho ra máu, đau tử cung, kiết lỵ, lợi tiểu, cảm sốt,
đau lưng, khớp.
14/ Gai - Boehmeria nivea (L.) Gaud - họ Gai (Urticaceae).
Thành phần hoá học: Rễ gai chứa nhiều axít hữu cơ.
Công dụng: Chữa động thai, băng huyết (do thúc đẩy quá trình đông máu). Điều trị các
chứng viêm, sa tử cung, trĩ, mụn nhọt.
15/ Gừng - Zingiber officinale Rosc. - họ Gừng (Zingiberaceae).
Thành phần hoá học: Chủ yếu là tinh dầu, lipid, tinh bột.
oxyacanthin, isotetrandri, palmatin, jatrorrhizin, magnoflorin, columbamin.
22/ Hoàng tinh cách (Disporopsis longifolia Craib) – họ Mạch môn (Convallariaceae)
Bộ phận dùng: Thân rễ (củ), được chế biến thành «thục địa».
Thục địa chế từ Hoàng tinh cách (cũng như Hoàng tinh vòng) được coi là một vị thuốc bổ
dùng cho người mới ốm dậy, cơ thể suy kiệt cần bồi bổ sức khỏe.
Loài này có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (2007) –
Phân hạng sẽ nguy cấp (VU).
23/ Hoàng tinh hoa đỏ (Polygonatum kingianum Coll. et Hemsl.) - họ Thiên môn (Asparaceae).
Thành phần hoá học: Nụ hoè chứa hàm lượng cao rutin (34%). Ngoài ra còn chứa saphorin
(A, B, C) saphoradiol, bertulin.
Công dụng: Công dụng quan trọng nhất là giảm tính thẩm thấu của mao mạch gây hạ
huyết áp, chữa một số dạng xuất huyết.
24/ Hồi (Illicium verum Hook. f.) - họ Hồi (IIliciaceae).
Thành phần hoá học: Quả hồi chủ yếu chứa tinh dầu. Thành phần chính của tinh dầu là
anethol (80 - 85%).
Công dụng: Chữa trúng phong, bại liệt một bên cơ thể, sai khớp, bong gân, đại tiểu tiện
không lợi, thuỷ thũng.
25/ Huyết giác (Dracaena cambodiana Pierre ex Gagnep.) - họ Huyết dụ (Dracaenaceae).
Thành phần hoá học: Chưa được nghiên cứu, mới chỉ phát hiện thấy có chất màu đỏ.
Công dụng: Tác dụng hoạt huyết, chữa máu ứ, khó lưu thông, tụ máu do bị thương.
26/ Hương phụ (Cyperus rotundus L.) - họ Cói (Cyperaceae).
Thành phần hoá học: Trong nguyên liệu làm thuốc chứa tinh bột, chất béo, tinh dầu và một
ít alcaloid (thay đổi theo vùng).
Công dụng: Dùng trong thuốc điều kinh, giảm đau, viêm nội mạc tử cung, tiêu hoá kém, ỉa
chảy, đau dạ dày. Trong thực tế thường dùng loài C. stoloniferus Vahl…
27/ Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium L.) - họ Cúc (Asteraceae).
Thành phần hoá học: Phần trên đất nhất là lá chứa nhiều iod, vitamin C, còn chứa alcaloid,
steroid, một số axít hữu cơ. Trong hạt chứa dầu béo, trong rễ chứa một số chất thuộc nhóm
alcaloid.
Công dụng: Chữa các bệnh phong hàn, dị ứng, bệnh ngoài da, viêm khớp, đau răng, thuỷ
Công dụng: Kích thích tuần hoàn và hô hấp, tăng nhu động ruột, tăng co bóp tử cung, co
mạch máu. Dùng trong các thuốc cảm mạo, đau bụng do lạnh, bế kinh, tiểu tiện bất lợi.
35/ Rau sam (Portulaca oleracea L.) - họ Rau sam (Portulacaceae).
Thành phần hoá học: Trong rau sam có vitamin A, C, glucosid, axít hữu cơ, chất béo, tro.
Công dụng: Tác dụng quan trọng nhất là chữa lỵ, ngoài ra dùng trong điều trị mụn nhọt,
bạch đới (phụ nữ ), trừ giun.
36/ Thanh hao hoa vàng (Artemisia annua L.) - họ Cúc (Asteraceae).
Thành phần hoá học: Phần trên đất chứa tinh dầu (0,6%), quan trọng nhất là artemisinin (2
- 4%). Ngoài ra còn có alcaloid.
Công dụng: Là nguyên liệu chiết xuất artemisinin chữa sốt rét. Ngoài ra còn để chữa cảm
mạo, mồ hôi trộm, ghẻ lở, thanh nhiệt.
37/ Vàng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.) - họ Tiết dê (Menispermaceae).
Thành phần hoá học: Nhiều alcaloid thuộc nhóm isoquinolein, chủ yếu là berberin (tới
3%).
Công dụng: Chữa cảm sốt, sốt rét, lỵ, đau mắt, một số bệnh do nhiễm khuẩn. Là nguồn
nguyên liệu chủ yếu để chiết berberin.
6. Kết luận
Như vậy tình hình nghiên cứu cây thuốc hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam
nói riêng đều đang rất được quan tâm. Từ những nghiên cứu về tác dụng của từng loại cây đến
nghiên cứu sâu hơn như thử các hoạt tính của cây thuốc hay tách các hợp chất có trong thành
phần của cây thuốc. Điều này đã càng làm rõ vai trò của từng loài cây thuốc và từ đó được con
người ngày càng quan tâm và sự dụng nhiều hơn vì tính an toàn của nó.
Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 13.000 loài thực vật được sử dụng là thuốc, điều đó
chứng tỏ nguồn tài nguyên cây thuốc của Việt Nam rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên việc