LỜI MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Nghiên cứu về triết học phương Đông nói chung, triết học Trung Quốc nói riêng,
thì Trung Quốc thời cổ đại tồn tại 3 tư tưởng triết học lớn, được gọi là Tam giáo, đó là
Đạo giáo, Nho giáo và Phật giáo. Trong đó Đạo là một khái niệm rất cổ xưa. Những ý
niệm về Đạo đã góp phần hình thành nên nền văn minh và kho tàng triết lý phương
Đông. Khởi đầu từ Lão Tử, các bậc thánh triết của Đạo gia đã xây dựng triết thuyết
của mình trên nền tảng ý niệm về Đạo như một nguyên lý tuyệt đối, tiên nguyên, vô
hình vô danh, huyền diệu và bất khả tư nghị. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, những
triết thuyết của Đạo gia không những không bị phai mờ mà còn có thể được vận dụng
kết hợp với nhiều triết thuyết khác, tạo nên kho tàng tri thức minh triết phương Đông,
thể hiện trọn vẹn cái nhìn của con người về thế giới vũ trụ và nhân sinh. Tuy nhiên, bất
cứ một học thuyết nào cũng đều có cái ưu và cái nhược. “TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC
ĐẠO GIA, GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ” sẽ nói một cách rõ hơn về những triết thuyết và
cái ưu, nhược điểm mà Đạo gia mang lại cho người Trung Quốc nói riêng và nhân loại
nói chung. Thông qua bài tiểu luận này, nhóm xin trình bày sự hiểu biết của mình về
tư tưởng Đạo gia và những giá trị, hạn chế của nó. Trong quá trình thu thập thông tin,
tài liệu liên quan, nhóm không tránh khỏi những thiếu sót, mong Thầy góp ý và chỉ
bảo thêm. Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn.
Mục tiêu của đề tài:
Trên cơ sở làm rõ hoàn cảnh ra đời và lý luận của triết học Đạo gia; ảnh hưởng của
nó với xã hội phương Đông, đề tài hướng đến mục tiêu: làm rõ yếu tố triết lý Đạo gia
trong đời sống xã hội hàng ngày của người phương Đông đặc biệt là người Việt Nam,
cũng như nhưng giá trị và hạn chế của trường phái Đạo gia.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Thuyết Đạo gia và sự ảnh hưởng của nó đến xã hội Châu Á và Việt Nam ngày nay.
Giá trị và hạn chế của Đạo gia
Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất: Phương pháp luận: người viết sử dụng phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho đề tài
Thứ hai, vận dụng phương pháp tổng hợp phân tích để phân tích, khái quát kết quả
người nước Tống phát triển thêm vào thời Chiến quốc.
1.1. Lão Tử và Đạo Đức Kinh
Theo sử ký Tư Mã Thiên, Lão Tử họ Lý, tên Nhĩ, tự là Đam, người làng Khúc
Nhân, hương Lệ, huyện Hỗ nước Sở. Ông có thời làm quan sử, giữ kho chứa sách của
nhà Chu. Với cương vị ấy, Lão Tử có cơ hội tiếp xúc với các văn bảng cổ cũng như
các tác phẩm vĩ đại đương thời, xây dựng hiểu biết uyên thâm đối với kho tang tri thức
thời Hoàng đế (2697 TCN) cho đến thời ông.
Lão Tử trao dồi đạo đức, học thuyết của ông ở cốt giấu mình, ẩn danh. Tương
truyền, ông ở nước Chu đã lâu, thấy nhà Chu suy, bèn bỏ đi. Đến của quan, viên quan
coi cửa Doãn Hi bảo:” Ông sắp đi ẩn, rang vì tôi mà viết sách để lại”. Thế là Lão Tử
viết một cuốn gồm 2 phần thượng, hạ nói về ý nghĩa Đạo và Đức. Viết xong rồi đi,
không ai biết sống chết sao, như thế nào và ở đâu.
Đạo Đức Kinh gồm 2 quyển, khoảng 5000 từ, tổng cộng 81 chương, trình bày 2
chủ đề lớn: Thượng thiên nói về Đạo, cái gốc của muôn sự tạo hóa, quy luật vận hành
của vạn vật. Hạ thiên nói về Đức, năng lực vận hành và thành tựu của Đạo.
Tác phẩm trình bày quan hệ giữa con người và thiên nhiên, "người thuận theo đất,
đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên", rằng con người cần
sống hòa hợp với thiên nhiên và tạo hóa, tuân theo quy luật của thiên nhiên, tu luyện
để sống lâu và gần với Đạo
Lão Tử đã phát triển khái niệm "Đạo", với nghĩa là "Con đường", thời Lão Tử mọi
ngành nghề đều có một chữ "Đạo" đằng sau, Lão Tử nói Đạo của mình là "Đạo khả
Đạo phi thường Đạo. Danh khả danh phi thường danh" (Đạo mà nói ra được thì không
còn là đạo bình thường nữa, Tên mà đặt ra được thì không còn là tên bình thường nữa.
Chữ Đạo ngoài nghĩa là "Đường" còn có nghĩa là "Nói", Danh ngoài nghĩa là "Tên"
còn có nghĩa là "Đặt tên") và mở rộng nghĩa của nó thành quy luật hay nguyên lý của
vũ trụ tuần hoàn và tác động lên vạn vật: "đạo là cách thức của thiên nhiên". Ông nhấn
mạnh khái niệm vô vi, "Hư vô thanh tĩnh, tự nhiên vô vi", hay "hành động thông qua
không hành động", "hành động thuận theo tự nhiên không có mục đích phi tự nhiên".
Điều này không có nghĩa là người ta chỉ nên ngồi một chỗ và không làm gì cả, mà là
hành động thuận theo tự nhiên, hành động theo nguyên lý vũ trụ, không bị ràng buộc
Kinh trình bày rất nhiều mẩu chuyện mà trong đó các bật thánh triết thuyết giảng lẽ
Đạo (theo tinh thần đạo Lão) cho các học giả thuộc trường phái khác.
CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA
2.1.Nội dung về Đạo và Đức
Theo Lão tử, Đạo là nguồn gốc chung vủa thế giới muôn vật và cũng nghĩa là “
quy luật tự nhiên”hoặc “ quy luật khách quan của thế giới vật chất”. đức là đặc tính
của sự tồn tại cụ thể, và cũng là sự thể hiện của đạo trong các sự vật cụ thể.
+ Đạo được tạm hiểu như là cái tự nhiên tĩnh mịch, yên lặng mộc mạc, hỗn độn, mập
mờ, thấp thoáng, không có đặc tính, không có hình thể, là cái mắt không thấy, tai
không nghe, tay không nắm bắt, ngôn ngữ không thể diễn đạt, tư duy không nhận thức
được, là cái năng động tự sinh sôi nãy nở…
+ Đạo vừa là cái có trước vừa là cái nằm trong bản thân sự vật nhưng khi có sự can
thiệp của con người thì đạo không còn là đạo nữa.
+ Đạo sinh ra vạn vật, đức nuôi nấng, bảo tồn vạn vật. Vạn vật nhờ đạo mà được sinh
ra, nhờ đức mà thể hiện, và khi mất đi là lúc vạn vật quay trở về với đạo. Đạo sinh ra
Một (khí thống nhất), Một sinh ra Hai (âm, dương đối lập), Hai sinh ra Ba (trời, đất,
người), Ba sinh ra vạn vật
+ Đạo không chỉ lả nguồn gốc, bản chất mà còn là quy luật của mọi cái đã, đang và sẽ
tồn tài trong thế giới.
Lão tử muốn dùng hai quan niệm đạo và đức để thuyết minh tính thống nhất và tính đa
dạng của các hiện tượng tự nhiên, thuyết minh nguyên nhân thúc đẩy chúng hình thành
và thay đổi biến hóa.
2.2. Quan niệm biện chứng về thế giới
Ông nêu lí luận Đạo thường là vô vi, đạo sinh ra vạn vật nhưng không hề có ý chí,
co dục vọng, có mục đích; quy luật của bản thân tự nhiên chính là quy luật mà đạo dựa
vào để sinh thành muôn vật. Những quan điểm đó đều bao hàm những nhân tố duy vật,
đối lập với thế giới quan tôn giáo truyên thống. Phần nổi bật nhất trong tư tưởng triết
học của Lão tử đó là những nguyên tắc quan trọng của phép biện chứng mà ông đã
cảm nhận một cách khá rõ ràng. Theo ông mọi vật đều tồn tại hai mặt: chính và phản
đối lập nhau, nương tựa vào nhau mà tồn tại. lão tử cũng biết đẹp là đẹp tức là có xấu;
người có thể bị hủy hoại nhưng thiên đạo thì vĩnh hằng. Theo Lão Tử thái độ sống “vô
vi” của con người đó là con đường duy nhất trừ đi “tạo tác của con người” để trở về
với tự nhiên. Con đường này chính là “đạo pháp tự nhiên” cũng chính là vô vi.
Vô vi là sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, không
gò ép bản thân mình ngược với bản tính tự nhiên; là từ bỏ tính tham lam, vị kỷ để
không làm mất đức. Chỉ khi nào từ bỏ được thói tư lợi thì mới nhận thấy đạo; và chỉ
nhận thấy đạo mới có thể vô vi được. Lão tử phản đối mọi chủ trương hữu vi, vì ông
cho rằng hữu vi chỉ làm xáo trộn trật tự tự nhiên vốn mang tính hài hòa, làm mất bản
tính tự nhiên của con người, dẫn đến sự xa lánh và làm mất đạo. Từ thuyết vô vi Lão
Tử đã rút ra nghệ thuật sống cho con người là từ ái, cần kiệm, khiêm nhường, khoan
dung.
Cái Đạo “phi thường Đạo” được Lão Tử nói đến là thiên nhiên, năng lượng sức
sống và sự vận hành của thiên nhiên. Cũng có thể gọi là tự nhiên hoặc thiên lý. Và
Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lý mà lưu hành. Trong cái Đạo của
vũ trụ ấy, thiên nhiên và những qui luật của chúng tập hợp thành cái trụ cốt, cái bản
thể, còn đất trời và sinh linh, v.v. là những thực thể có vị trí thích hợp và chức năng
thích hợp, thao tác theo một thể thức tự nhiên. Đạo ấy chỉ được biết bằng trực quan,
không bằng lý trí. Lão Tử không lập luận về Đạo vì ông chống lý trí. Theo ông, lý trí
khiến ta nhìn cuộc đời với con mắt nhị nguyên, phân chia thế giới nội tâm và ngoại lai,
con người với thiên nhiên, thế gian với vũ trụ, thiện và ác, vinh và nhục, đúng và sai,
cao và thấp , làm ta xa lìa đạo. Lão Tử không mất công giảng giải về Đạo, ông chống
tri thức và trí năng. Ông cho rằng tri thức không giúp cho người ta sống theo Đạo và
Đức. Nó chỉ làm cuộc sống thêm phức tạp; nó chế tạo cơ khí khiến sinh ra “cơ tâm”;
nó bày đặt lý thuyết này nọ khiến đưa tới xung khắc Trí năng khiến người ta phân
biệt cái hay cái dở nên sinh ra ham muốn. Ông chủ trương bỏ trí năng, bỏ văn tự, bỏ
việc dạy dỗ dân, để dân chúng sống mộc mạc, tự nhiên. Lão Tử không chịu nói nhiều
về Đạo vì ông hiểu rõ giới hạn truyền đạt của ngôn ngữ.
2.4. Tư tưởng vô vi đối với vấn đề quốc trị an dân
Lão Tử sinh trưởng trong giai đoạn chiến tranh triền miên cho nên rất ưu tư về
vấn đề quốc trị. Ông thấy là “dân đói vì người trên lấy thuế nhiều cho nên dân đói, dân
lệ hà khắc được đặt ra (hữu vi) nhằm khiến người ta sợ nhưng hiếm khi tiêu diệt hết
được các tệ nạn xã hội; trong khi đó đường lối vô vi không dựa trên phép tắc rườm rà
lại có thể cảm hóa nhân dân để họ theo con đường thiện hợp với cái đạo của tạo hóa.
Lão Tử không chủ trương dùng pháp luật để trị quốc mà cổ võ cho sách lược
đạo trị (vô vi) để vạn vật phát triển tự nhiên (không bày ra phép tắc, xảo thuật để gò ép
nhân dân). Theo ông, nếu muốn hướng thiện thì đừng trừng phạt kẻ xấu mà nên dùng
tư cách thánh nhân để cảm hóa kẻ xấu.
Chính sách quốc trị cao nhất là đạo trị, rồi mới đến đức trị (nhân trị), và rồi đến
pháp chế; chính sách xảo trị (dùng xảo thuật để cầm quyền) là phương pháp thấp nhất
vì lãnh tụ không còn được nhân dân tin tưởng nữa mới dùng đến xảo thuật. Lãnh tụ
không tin dân cho nên mới bày kế để gò ép dân; dân không tin lãnh tụ cho nên phải
đóng kịch sợ sệt hay cung kính để lừa gạt lãnh tụ. Hai bên đều dùng bề ngoài xảo trá
để làm bình phong che giấu sự bất tín.
Quốc gia lý tưởng trong nhãn quan của Lão Tử là một quốc gia nhỏ mà trong
đó nhân dân sống thuận với thiên nhiên, biết vừa đủ mà không ham biết nhiều, không
muốn tư dục, không ganh đua bề ngoài, mà chỉ sống theo đạo vô vi. Trong quốc gia lý
tưởng này, người dân sống chất phác, hiền lành, thuần phục với thiên nhiên; bởi vì hài
lòng với cuộc sống thiên nhiên, con người không lìa xa nơi sinh trưởng, không có lòng
tham để tranh giành quyền lợi. Con người không tranh giành quyền lợi thì thiên hạ
không có chiến tranh cho nên quốc gia dẫu có xe cộ, thuyền bè, binh giáp cũng không
dùng đến. Khi người dân có đời sống thái hòa gần gũi với thiên nhiên thì lãnh tụ quốc
gia có thể “giũ áo, chắp tay, không làm (vô vi)” mà thiên hạ cũng được thái bình.
CHƯƠNG III: ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC NƯỚC CHÂU Á ĐẶC BIỆT LÀ
VIỆT NAM
Sự khác biệt giữa Đạo giáo triết học và Đạo giáo tôn giáo - được dùng ở đây vì
những nguyên nhân thực tiễn - có thể được hiểu như sau: Đạo giáo triết học theo lí
tưởng của một Thánh nhân, thực hiện Đạo bằng cách gìn giữ một tâm thức nhất định,
trong khi Đạo giáo tôn giáo tìm cách đạt Đạo qua việc ứng dụng những phương pháp
như Tĩnh toạ (Khí công, Thái cực quyền), sự tập trung cao độ, thiết tưởng
(visualization), hình dung, thuật luyện kim, nghi lễ và huyền học để tạo một thế giới vi
Mặt khác, nguyên lý “con người và vũ trụ là một” của Đạo giáo đã trở thành cơ
sở để hình thành y lý của Đông Y, dùng mô hình vũ trụ để giải thích các quan hệ trong
cơ thể con người, làm nguyên tắc chẩn trị bệnh (con người là tiểu vũ trụ, các quan hệ
sinh khắc áp dụng trong thế giới vật chất cũng được sử dụng để chẩn đoán và trị bệnh
trong cơ thể con người).
Ngoài ra, một mảng ảnh hưởng sâu đậm của Đạo giáo mà không thể không
nhắc tới là lĩnh vực phong thủy, tiên tri, chiêm bốc, tướng số, mà hiện nay vẫn đang
tồn tại và được gọi bằng cái tên “hiện đại” hơn là “các môn khoa học dự báo”. Đây là
các lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của rất đông đảo người dân, không chỉ dân
thường mà trước hết là tầng lớp quý tộc, cung đình. Ngay cả các học giả lớn của Việt
nam như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nổi tiếng với môn Thái Ất và những
lời sấm truyền trứ danh của ông. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cũng là một ví dụ.
Hoặc như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng từng nổi tiếng là một nhà phong thủy
với nhiều truyền thuyết ly kỳ về tài tầm long điểm huyệt của ông. Vua Quang Trung
từng phải viện tới ông xem đất để đặt Phượng Hoàng Trung Đô. Hoặc như nhà bác học
Lê Quý Đôn cũng đã từng trước tác nhiều tác phẩm về chủ đề này (ví dụ cuốn “Thái
Ất dị giản lục”, “Dịch kinh phu thuyết”).
Tuy rằng triết lý lý âm dương ngũ hành, kinh Dịch, Thái Ất, và các hệ thống
kiến thức cơ bản khác của triết lý Đông phương không phải là sản phẩm khởi nguồn từ
Đạo giáo, nhưng không thể phủ nhận một điều rằng chính các các Đạo gia nổi tiếng
của Đạo giáo đã góp phần đáng kể vào việc phát triển, hoàn thiện, và truyền bá các
kiến thức ấy ra ngoài cuộc sống.
3.3. Về mặt tư tưởng văn học
Về nếp sống và văn thơ, mặc dầu không mấy ai thật sự là tín đồ một phái nào
của Đạo Giáo, nhưng hầu hết các nhà Nho Việt Nam, qua Đạo Đức Kinh, Nam Hoa
Kinh, hay thi văn cổ Trung Hoa, đều chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp những tư
tưởng của Lão Tử, Trang Tử.
Trong những nhà Nho đã thoát ra khỏi cuộc đời, đi ở ẩn để tiêu diêu tự tại giữa
thiên nhiên, trước hết có Nguyễn Trãi (1380-1442). Ông cáo quan về ẩn tại Côn Sơn
(Hải Dương), có nhiều câu thơ ca tụng thú thanh nhàn (một bầu phong nguyệt) tiêu
bài xích và phải ẩn vào trong chính Nho giáo và Phật giáo. Trên một phương diện nào
đó, có thể coi đó cũng là ảnh hưởng của Đạo giáo đối với Nho và Phật, mặc dù dưới
hình thức khá thụ động.
Học giả Phan Ngọc cũng cho rằng Đạo giáo khi du nhập vào Việt nam chỉ làm
thay đổi về mặt hình thức các tín ngưỡng bản địa đã có sẵn, còn nội dung thì không
thay đổi bao nhiêu.
Để phân biệt rạch ròi đâu là dấu hiệu của Đạo giáo trong các tín ngưỡng mang
tính dân gian thì rất khó. Bởi vì tín ngưỡng dân gian từ xa xưa của người Việt cũng
mang rất nhiều yếu tố phù thủy, và cũng rất nhiều yếu tố thần tiên. Vì vậy, điều dễ
thấy hơn là sự dung hòa Tam giáo trong tâm linh người Việt. Ví như biểu tượng chim
hạc, linh quy xuất hiện rất nhiều trong đình chùa miếu mạo và cả từ đường của tư gia.
Hạc hay rùa là các biểu tượng của tiên đạo, trường sinh.
Hoặc như thuật ngữ “buhda” vốn có nghĩa là “phật”, nhưng khi du nhập vào
nước ta và được bản địa hóa thành “bụt” thì lại không được dùng để chỉ “phật” mà
dùng để chỉ một ông tiên với nhiều phép biến hóa cứu giúp người nghèo khổ. Hình
tượng ông bụt, ông tiên, bà tiên, hay cô tiên đã trở nên rất quen thuộc và phổ biến
trong các câu chuyện cổ tích dành cho trẻ em và cũng xuất hiện khá phổ biến trong các
hình thức văn học dân gian khác, như “Việt điện u linh”, “lĩnh nam chích quái”,
“truyền kỳ mạn lục”, “truyền kỳ tân phả” và các tác phẩm tương tự như thế.
Các khái niệm vốn đặc hữu của Đạo giáo như Bồng Sơn, Nhược Thủy, Bồng
Lai (nơi tiên ở) cũng xuất hiện khá nhiều trong đời sống của người Việt, đặc biệt là đối
với giới sỹ phu, có chữ nghĩa. Tương tự, khái niệm “tiên” cũng vậy. Những thành ngữ
kiểu như “được voi đòi tiên” hay “sướng như tiên” hoặc có liên quan tới “tiên” được
sử dụng khá thường xuyên trong đời sống. Thậm chí trong nhiều bài văn khấn gia tiên,
câu kết thường là “xin tiễn vong linh, lại về tiên giới”.
Đó đều mang bóng dáng của Đạo giáo.
Như vậy, có thể cho rằng Đạo giáo đã thẩm thấu một cách tự nhiên vào trong
đời sống tâm linh, và các tôn giáo tín ngưỡng của người Việt, mặc dù nếu nói rằng đó
hoàn toàn là ảnh hưởng của Đạo giáo thì cũng là khiên cưỡng nhưng cũng không thể
phủ nhận sự hiện diện của Đạo giáo ở đó.
cái khách quan, cái bản tính tự nhiên thuần phác, vốn có của nó.
Đồng thời, thông qua luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia đã cung
cấp nhân sinh quan và nghệ thuật sống mang tính nhân văn sâu sắc, có tác dụng an ủi
con người hài lòng và hạnh phúc với những gì mình có trong cuộc sống, không nên
ham muốn, mơ tưởng hão huyền.
Đạo gia còn dạy con người phải biết sống khiêm tốn, giản dị, mà vẫn ung dung, tự
tại, không lo sợ, không đau buồn… trước mọi biến động xảy ra trong đời; không tham
lam, vụ lợi, giả dối; không đấu tranh, giành giật; không đua đòi, bon chen, đố kỵ… Mà
cần phải sống hòa nhã, trung dung, ngay thẳng, tự nhiên thuần phác, “thản nhiên mà
đến, thản nhiên mà đi”…
- Trong hoạt động thực tiễn
Đạo gia hướng con người về với tự nhiên, vì thế trong hoạt động thực tiễn giúp
con người điều chỉnh hành vi (hoạt động) của mình cho phù hợp với tự nhiên và cuộc
sống, tôn trọng các quy luật, tránh lỗi hành xử lỗ mãng, bất chấp.
Những quan điểm triết học cơ bản của Đạo gia đã góp phần chỉ ra cho chúng ta,
trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải tôn trọng quy luật khách quan, nắm
vững và vận dụng phù hợp các quy luật tự nhiên vào cuộc sống, nếu không sẽ phải trả
giá và chuốc lấy hậu quả khôn lường, như Lão Tử cảnh báo: “Lưới trời lồng lộng, thưa
mà khó lọt”.
Đặc biệt, Đạo gia yêu cầu trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải “thuận
theo tự nhiên”, không được làm trái quy luật tự nhiên, không được cải tạo tự nhiên
theo những toan tính lợi ích tầm thường của mình. Điều này có tính thời sự đặc biệt và
sâu sắc trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, với thiên tai và dịch bệnh
luôn đe dọa nghiêm trọng, cộng thêm những bất ổn về chính trị - xã hội, một hệ lụy
trực tiếp từ quá tr.nh con người “nhân tạo hóa thiên nhiên”, tạo dựng một nền “văn
minh” không tương thích với bản tính tự nhiên của vũ trụ vạn vật.
Đồng thời, trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải biết quí trọng mọi sự
sống nói chung, gắn với quí trọng môi trường tự nhiên, không được tàn sát sinh vật và
hủy hoại môi trường một cách tùy tiện.
Bên cạnh đó, với việc chỉ ra luật quân bình (bù trừ) và luật phản phục, Đạo gia đòi
không cần mở mang trí tuệ, chấm dứt cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội, mà quay về
sống như thời nguyên thủy, đúng với bản tính tự nhiên thuần phác của một loài động
vật bậc cao được sinh ra từ “đạo”… phủ nhận mọi hoạt động thực tiễn của con người.
Tư tưởng vô vi: sống và hành động theo lẽ tự nhiên, thuần phát, không giả tạo,
không gò ép. Lão tử phản đối mọi chủ trương hữu vi, vì ông cho rằng hữu vi chỉ làm
xáo trộn trật tự tự nhiên vốn mang tính điều hòa, làm mất bản tính tự nhiên của con
người.
Về đường lối trị nước an dân: Chính phủ yên tĩnh vô vi thì dân sẽ thành chất phác,
chính phủ tích cực làm việc thì dân đầy tai họa. Bậc Thánh nhân trị vì thiên hạ phải
bằng lẽ tự nhiên của đạo vô vi, và chủ trương xóa bỏ hết mọi ràng buộc về mặt đạo
đức, pháp luật. Đạo gia chủ trương xây dựng một xã hội phi thể chế, phi nhà nước, phi
giáo dục, phi khoa học – kỹ thuật, chẳng cần văn hóa với văn minh; một cộng đồng ít
dân ngu đần ấu trĩ, sống bằng săn bắn hái lượm gắn với trồng trọt và chăn nuôi tự cấp
tự túc, khép kín hoàn toàn, không trao đổi qua lại với bên ngoài. Đây là tư tưởng lạc
hậu và thụt lùi về quan điểm chính trị - xã hội.
Chủ trương phải toàn sinh và vị ngã, nghĩa là phải yên theo thời gian mà ở thuận,
vì cái tự nhiên nào cũng hợp lý cả; không khen chê phải – trái, tốt – xấu làm gì, phải
lánh nạn để bảo toàn sinh mạng. Tư tưởng này khiến cho con người nhu nhược, ích kỷ,
sống vì bản thân, không biết đấu tranh vì lợi ích chung.
KẾT LUẬN
Đạo gia là một trong những trường phái triết học lớn, ra đời ngay trong buổi
bình minh của lịch sử triết học Trung Quốc và nhân loại. Đạo gia còn có tác động
ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực ở nhiều nước châu Á. Nhìn chung, Đạo gia đã
đạt được những bước tiến bộ vượt bậc so với tư tưởng đương thời về một số quan
điểm duy vật và biện chứng nhưng lại lạc hậu và thụt lùi về quan điểm chính trị - xã
hội. Mặt dù tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia về nhận thức luận và nhân sinh
quan muốn ngăn cản tính năng động, sáng tạo của ý thức con người cả trong quá
trình hoạt động nhận thức lẫn trong hoạt động thực tiễn, song vượt lên tất cả, với
tinh thần cầu thị và tôn trọng lịch sử, chúng ta vẫn có thể rút ra rất nhiều bài học có
giá trị cả trong nhận thức lẫn trong thực tiễn trước bối cảnh toàn cầu hóa và cách
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Lí do chọn đề tài 1
Mục tiêu của đề tài: 1
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1
Phương pháp nghiên cứu 1
Kết cấu đề tài: gồm 4 chương 2
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠO GIA 3
1.1.Lão Tử và Đạo Đức Kinh 3
1.2.Trang Tử và Nam Hoa Kinh 4
CHƯƠNG II: NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA 6
2.1.Nội dung về Đạo và Đức 6
2.3.Quan niệm vô vi về nhân sinh 7
2.4.Tư tưởng vô vi đối với vấn đề quốc trị an dân 8
3.1.Ảnh hưởng đến chính trị 11
3.2.Về mặt y dược học và các môn khoa học cổ 12
3.3.Về mặt tư tưởng văn học 12
3.4.Về ứng xử với thời cuộc 13
3.5.Về mặt tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng 14
CHƯƠNG IV: NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA ĐẠO GIA 16
4.1.Giá trị 16
4.2.Hạn chế 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20