ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRẦN XUÂN THUẤN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
LỊCH SỬ TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
MỸ ĐỨC B – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
7
1.2. Một số khái niệm cơ bản
9
1.2.1. Quản lý
9
1.2.2. Quản lý giáo dục
12
1.2.3. Quản lý nhà trường
13
1.2.4. Quản lý trường Trung học phổ thông
15
1.2.5. Biện pháp quản lý
16
1.3. Quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học phổ thông.
16
1.3.1. Đổi mới chương trình giáo dục THPT.
16
1.3.2. Đổi mới quản lý trường THPT
21
1.3.3. Quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng ở các trường Trung
học phổ thông
23
1.4. Những đặc điểm cơ bản của bộ môn lịch sử, và yêu cầu quản lí
hoạt động dạy học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông trong giai đoạn
hiện nay 32
1.4.1. Những đặc trưng cơ bản của bộ môn lịch sử
46
2.2.5. Cơ sở vật chất sư phạm
51
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại Trường
trung học phổ thông Mỹ Đức B – Hà Nội.
53
2.3.1. Quản lý hoạt động dạy của giáo viên bộ môn lịch sử
54
2.3.2. Quản lý hoạt động học của học sinh
72
2.4. Đánh giá tổng quát thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn lịch
sử tại Trường trung học phổ thông Mỹ Đức B – Hà Nội.
74
2.4.1. Mặt mạnh
74
2.4.2. Hạn chế
76
2.4.3. Nguyên nhân những tồn tại
78
Kết luận chương 2
78
Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY
HỌC MÔN LỊCH SỬ TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG MỸ ĐỨC B – HÀ NỘI 80
3.1. Những nguyên tắc trong việc đề xuất các biện pháp
91
3.2.5. Biện pháp 5: Chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của học sinh theo hướng tích cực, khách quan chống bệnh thành
tích 99
3.2.6. Biện pháp 6: Tăng cường đầu tư trang thiết bị, bảo quản và sử
dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, xây dựng phòng học bộ
môn lịch sử 110
3.3. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
112
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp và điều kiện thực hiện biện pháp.
116
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
118
1. Kết luận
118
2. Khuyến nghị
120
TÀI LIỆU THAM KHẢO
123
PHỤ LỤC
45
Bảng 2.6
Số giáo viên của trường
47
Bảng 2.7
Các tổ chuyên môn trường THPT Mỹ Đức B
47
Bảng 2.8
Chất lượng giáo viên
48
Bảng số 2.9
Kết quả thanh tra chuyên môn định kỳ của Sở GD& ĐT
50
Bảng 2.10
Đánh giá chất lượng dạy học của giáo viên nhà trường
50
Bảng 2.11:
Thực trạng cơ sở vật chất sư phạm trường
52
Bảng 2.12
Quản lý khâu soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên.
55
Bảng 2.13
Quản lý giờ dạy trên lớp
61
Bảng 2.14
Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý nhà trường và mức độ
thực hiện , quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy
65
Bảng 2.15
"Giáo dục cho thế kỉ XXI" của Tổ chức Liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học,
văn hoá (UNESCO) về 4 trụ cột giáo dục:
Học để biết
Học để làm
Học để cùng chung sống
Học để làm người.
Đổi mới hoạt động dạy học là xu thế của thời đại, là trào lưu chung của
loài người, là yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng đất nước ta trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là đòi hỏi của sự đáp ứng yêu cầu về
đào tạo con em chúng ta thành những người trưởng thành có thể tham gia vào
thị trường lao động đầy cạnh tranh và nhiều thay đổi…, chứ không phải là ý
muốn chủ quan của một người hoặc một nhóm người nào đó.
Tư tưởng về một nền giáo dục phát triển trí thông minh, sáng tạo của học
sinh đó xuất hiện từ lâu nhưng mới dừng lại ở mong muốn, ở lời kêu gọi chứ
chưa biến thành thực tiễn sinh động hàng ngày của nhà trường.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với
mục tiêu đến năm 2020 sẽ từ một nước nông nghiệp trở thành nước công
nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Bối cảnh đó đó đặt ra những yêu cầu
mới đối với phẩm chất và năng lực của người lao động. Ngoài các phẩm chất 2
như lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, quý trọng và hăng say lao động,
lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm, cần có những phẩm chất và năng lực rất cần
thiết trong quá trình đất nước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ kinh tế
nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, Để đạt được mục
tiêu này, cần phải đổi mới nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức
dạy học, trào lưu cải cách giáo dục ở các nước hiện nay là đổi mới hoạt động
dạy học.
Trong những năm qua đó có những đề tài nghiên cứu đề cập đến đổi
mới hoạt động dạy học môn lịch sử, nhưng các biện pháp theo hướng tích cực
vẫn chưa được phổ biến trong việc giảng dạy ở các trường THPT. Có rất
nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân là việc quản lý chỉ đạo
đổi mới hoạt động môn lịch sử chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương
trình giáo dục trung học phổ thông hiện nay. Dẫn đến kết quả thi tốt nghiệp
THPT, điểm thi vào đại học môn lịch sử còn thấp.
Tiếp cận từ góc độ quản lý, tác giả nhận thấy hiện tại các cán bộ quản
lý (CBQL) mới dừng lại ở những chủ trương đường lối chung cho tất cả các
môn mà thiếu đi biện pháp cụ thể vào một môn học cụ thể để tác động và tạo
ra sự liên kết giữa người dạy với người học, chưa tổ chức chỉ đạo quá trình
hoạt động dạy học một cách khoa học và hữu hiệu. Vì thế chưa đủ để tạo nên
một bước chuyển biến thực sự về hoạt động dạy học, đặc biệt là môn lịch sử
tại các trường THPT.
Từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu khoa học được tôi lựa chọn đề
tài: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại Trường trung
học phổ thông Mỹ Đức B – Hà Nội ”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại
Trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội, nhằm nâng cao chất lượng dạy học đáp
ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục THPT hiện nay. 4
3. Khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý chỉ đạo dạy và học môn lịch sử tại Trường THPT Mỹ
Đức B - Hà Nội
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử của HT Trường
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp nghiên cứu các tài liệu lý luận về khoa học quản
lý giaó dục, quản lý nhà trường, luật giáo dục, các văn bản pháp quy, những
quy định của ngành GD-ĐT, các loại sách báo có liên quan đến quản lý nhà
trường, liên quan đến quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử ở trường THPT.
8.2. các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động quản lý của HT và
hoạt động của tổ bộ môn, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS học
môn lịch sử.
8.2.2. Phương pháp điều tra viết
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra
Bước 2: Tiến hành điều tra
Bước 3 : Thu thập phiếu điều tra và xử lý số liệu
8.2.3. Phương pháp chuyên gia
8.3. Phương pháp thống kê
Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu của đề tài . 6
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học môn lịch
sử ở các trường THPT.
- Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học và quản lý
hoạt động dạy học môn lịch sử tại Trường THPT Mỹ Đức B – Hà nội.
- Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại
Trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội.
Hà Sĩ Hồ, Lê Tuấn Trong các công trình đó, các tác giả đã nhấn mạnh vai 8
trò của quản lý trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục. Tác giả Hà Sĩ Hồ và
Lê Tuấn cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản lý dạy
và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường”. Đặc biệt với sự tâm huyết của
mình với công tác GD, các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng phải là người
“biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và học (theo nghĩa rộng) với sự
quản lý các quá trình bộ phận, hoạt động dạy và học các môn và các hoạt
động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhằm làm cho tác động giáo dục
được hoàn chỉnh trọn vẹn”. Các tác giả Lê Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thanh đã
nhấn mạnh vai trò công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng GD như
sau: “Các nhà làm công tác quản lý giáo dục phải không ngừng cải tiến nâng
cao chất lượng điều hành và quản lý của mình để qua đó tác động một cách
hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ
thống giáo dục ở cấp vi mô cũng như vĩ mô”.
Trong những năm gần đây, nhiều cán bộ quản lý (CBQL) trường Trung
học phổ thông (THPT) trong cả nước cũng đã tập trung nghiên cứu về các
biện pháp quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học, chẳng hạn
như các Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục của các tác giả:
Nguyễn Thị Hảo với đề tài “Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm
nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Trấn Yên tỉnh Yên
Bái” (2005)…
Luận văn của các tác giả trên đã nêu lên những biện pháp quản lý của
Hiệu trưởng trường THPT, đặc biệt là các biện pháp quản lý HĐDH, đó là
những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của
các tác giả trong thực hiện chức trách Hiệu trưởng trường THPT, đồng thời
cũng giúp cho cho các CBQL nhà trường nói chung và các Hiệu trưởng
trường THPT khác tham khảo để vận dụng trong công tác quản lý của mình.
Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là
khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [ 19, tr24]. 10
Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật chính vì vậy trong hoạt
động quản lý người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ
đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích.
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ
tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý,
các định nghĩa trên ta có thể hiểu:
Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý,
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt
được mục tiêu đề ra
Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác
động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những
nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý.
Ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý,
là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý.
Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên
cứu về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả
đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo,
kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực
hiện chức năng quản lý.
- Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự
án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các
chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển
theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành
người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức.
Các chức năng nêu trên lập thành chu trình quản lý. Chủ thể quản lý khi
triển khai hoạt động quản lý đều thực hiện chu trình này.
12
Sơ đồ 1.1: Các chức năng trong chu trình quản lý
1.2.2. Quản lý giáo dục
Theo sơ đồ phân loại khoa học (tam giác khoa học) của B.M Kêđrốp thì
quản lý giáo dục thuộc ngành khoa học xã hội. Do mỗi phương thức xã hội
đều có một cách quản lý khác nhau, cho nên khái niệm quản lý giáo dục đã ra
đời và hình thành từ nhiều quan niệm khác nhau.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa, do vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào
quản lý cơ sở giáo dục (trường học) và coi quản lý giáo dục như một loại “xí
nghiệp đặc biệt”.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý
giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản lý văn
hoá tư tưởng như A.G. Afanaxep đã phân chia trong cuốn sách kinh điển nổi
tiếng của mình: "Con người trong quản lý xã hội”. Như vậy, quản lý giáo dục
được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực quản lý văn hoá tinh thần.
đó là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý trong việc vận dụng
nguyên lý, phương pháp chung nhất của kế hoạch nhằm đạt được những mục
tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà
trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình
dạy và học theo mục tiêu đào tạo.
1.2.3. Quản lý nhà trường
1.2.3.1. Nhà trường
“Nhà trường là một tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội
thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát
triển xã hội ” [4,tr3]
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, xã hội, là
nơi trực tiếp làm công tác đào tạo thế hệ trẻ, là cơ quan giáo dục chuyên biệt,
có đội ngũ các nhà giáo được đào tạo, nội dung chương trình được chọn lọc,
phương pháp giáo dục phù hợp với mọi lứa tuổi, các phương tiện kỹ thuật
phục vụ cho giáo dục, mục đích giáo dục của nhà trường phù hợp với xu thế
phát triển của xã hội và thời đại. 14
1.2.3.2. Quản lý nhà trường
Có nhiều tác giả quan niệm về quản lý nhà trường khác nhau:
Theo tác giả Trần Kiểm "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”
[11, tr29]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt
động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng
thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục”[19, tr34]
Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế
hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động
của nhà trường theo nguyên lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Do vậy,
công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng, gồm có
quản lý các hoạt động trong nhà trường và quản lý các quan hệ giữa nhà
trường với xã hội.
1.2.4. Quản lý trường Trung học phổ thông
1.2.4.1. Truờng Trung học phổ thông
Là cấp cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông gồm 3 năm học,
trường THPT là cấp học hoàn thiện kiến thức phổ thông cho HS, là cấp học
tạo nguồn lực cho các yêu cầu đào tạo của xã hội, đồng thời chuẩn bị tích cực
cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống xã hội và lao động sản xuất. Do vậy trường
THPT có mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục mang tính phổ thông cơ
bản, toàn diện với những đặc thù riêng nhằm thực hiện nhiệm vụ của cấp học.
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT được quy định tại Điều 3, Điều lệ
Trường Trung học (Ban hành kèm theo Quyết định 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày
02 tháng 04 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
1.2.4.2. Quản lý trường Trung học phổ thông
Theo tác giả Trần Hồng Quân: "Quản lý nhà trường phổ thông là quản
lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng
thái khác, để dần tiến tới mục tiêu giáo dục" [20,tr 37].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý trường phổ thông là tập
hợp các tác động tối ưu (công tác tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can
thiệp) của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm tận
dụng nguồn nhân lực dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng
góp và do hoạt động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt
động của nhà trường và tiêu điểm hội tụ là đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có 16
17
đoạn mới, ngoài các phẩm chất như lòng yêu nước, yêu CNXH, quý trọng và
hăng say lao động, có lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm, còn có những phẩm
chất và năng lực cần thiết khác, đó là phẩm chất tôn trọng và nghiêm túc tuân
theo pháp luật; quan tâm và tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính
toàn cầu; có tư duy phê phán để thích ứng với những thay đổi trong cuộc
sống; đó là năng lực hợp tác và giao tiếp có hiệu quả, năng lực chuyển đổi
nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường lao động, năng lực
quản lý, nổi bật nhất là năng lực thích ứng với cốt lõi là khả năng phát hiện và
giải quyết vấn đề. Những phẩm chất và năng lực nêu trên phải được xem là
những nội dung chủ yếu của mục tiêu giáo dục và trước hết là mục tiêu của
nhà trường phổ thông.
b. Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của
khoa học công nghệ: thể hiện qua các lý thuyết, các thành tựu mới và khả
năng ứng dụng cao, rộng và nhanh vào thực tế. Học vấn mà nhà trường phổ
thông trang bị không thể thâu tóm được mọi tri thức mong muốn, vì vậy phải
coi trọng việc dạy phương pháp, dạy cách đi tới kiến thức của loài người, trên
cơ sở đó mà tiếp tục học tập suốt đời. Xã hội đòi hỏi người có học vấn hiện
đại không chỉ có khả năng lấy ra từ trí nhớ các tri thức dưới dạng có sẳn, đã
lĩnh hội ở nhà trường phổ thông mà còn phải có năng lực chiếm lĩnh, sử dụng
các tri thức mới một cách độc lập; khả năng đánh giá các sự kiện, các tư
tưởng, các hiện tượng mới một cách thông minh, sáng suốt khi gặp trong cuộc
sống, trong lao động và trong quan hệ với mọi người. Nội dung học vấn phải
góp phần quan trọng để phát triển hứng thú và năng lực nhận thức của học
sinh; cung cấp cho học sinh những kỹ năng cần thiết cho việc tự học và tự
giáo dục sau này.
c. Do có những thay đổi trong đối tượng giáo dục; Những kết quả
nghiên cứu tâm, sinh lý của HS và điều tra xã hội học gần đây trên thế giới
cũng như ở nước ta cho thấy thanh thiếu niên có những thay đổi trong sự
19
1.3.1.3. Những vấn đề chung về chương trình
1) Nội dung GDPT phải đạt được các yêu cầu sau
a. Đảm bảo giáo dục toàn diện; phát triển cân đối, hài hòa về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản; hình thành và phát triển
những phẩm chất, năng lực cần thiết của con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
b. Bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, hiện đại, hướng nghiệp và có hệ
thống; chú trọng thực hành, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh
lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu GDPT.
c. Tạo điều kiện thực hiện phương pháp giáo dục phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học.
d. Bảo đảm tính thống nhất của chương trình GDPT trong phạm vi cả
nước, đồng thời có thể vận dụng cho phù hợp với đặc điểm các vùng miền,
nhà trường và các nhóm đối tượng HS.
e. Tiếp cận trình độ GDPT của các nước có nền giáo dục phát triển
trong khu vực và trên thế giới.
2) Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông.
Chuẩn kiến thức, kỹ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức,
kỹ năng của môn học, hoạt động GD mà HS cần phải và có thể đạt được sau
từng giai đoạn học tập. Mỗi cấp học có chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu
về thái độ mà HS cần phải đạt được.
Chuẩn kiến thức, kỹ năng là căn cứ để biên soạn SGK, quản lý dạy học,
đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học, hoạt động giáo dục nhằm bảo đảm
tính thống nhất, tính khả thi của chương trình GDPT, bảo đảm chất lượng và
hiệu quả của quá trình GD.
3) Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục phổ thông.
Phương pháp GDPT phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,
của GV và tự đánh giá của học sinh, đánh giá của nhà trường và đánh giá của
gia đình, của cộng đồng.