ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
TÔ TRUNG TUYỀN BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN
LỚP TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số : 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Võ Kỳ Anh
ở trường trung học phổ thông
5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
5
1.2. Một số khái niệm công cụ
8
1.3. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường
trung học phổ thông
14
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ
thông
21
1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và
quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
26
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại
trường Trung học phổ thông Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
29
2.1. Vài nét về trường Trung học phổ thông Hồng Bàng Thành phố Hải
Phòng
29
2.1.1. Đặc điểm tình hình nhà trường
32
2.1.2. Đặc điểm hoạt động giáo dục của trường Trung học phổ thông Hồng
33 Bàng Thành phố Hải Phòng
2.2. Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại
3.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp
58
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
63
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo dục của bậc Trung học
phổ thông
64
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo sự phối hợp của các lực lượng giáo dục
64
3.1.4. Nguyên tắc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông
64
3.2. Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại trường
Trung học phổ thông Hồng Bàng Thành phố Hải Phòng
59 3.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ giáo viên, cán bộ Đoàn, phụ
huynh và học sinh nhà trường về vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp
65
3.2.2. Tăng cường quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp của tiểu ban hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và giáo viên chủ
nhiệm
69
3.2.3. Quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ Đoàn-cán bộ tiểu ban thực hiện
chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
73
3.2.4. Quản lý hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
78
BẢNG KÍ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. BGH
2.CB
3. CBQL
4. CNH- HĐH
5. CSVC
6. ĐTN + TB
7. ĐH-CĐ
8. ĐHSP
9. GVBM
10. GVCN
11. GV, HS
12. HĐGDNGLL
13. KHGD
14. LLGD
15. NXB
16. PHHS
17. QLGD
18. RCT -CT- ICT-
KCT
19. RKT- KT – IKT
20. RQT- QT
21. RT- T – BT- CT
22. RTH- TH- BT-
KTH
23. TB
24. TĐQT – KQT
Trung học phổ thông
Thanh niên cộng sản
Thường xuyên- Thỉnh thoảng – Không thường xuyên
Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Nhân tố quyết định trong công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn
lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt
bằng dân trí được nâng cao. Văn kiện Đại hội lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: “Đổi
mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”
[16] .Việc này được bắt đầu từ giáo dục phổ thông , mà trước hết là xác định mục
tiêu đào tạo nhằm tạo ra “nhân cách- sức lao động” đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Nói cách khác, đó là một hệ thống phẩm chất và năng lực được hình thành trên
một nền tảng kiến thức, kĩ năng đủ và chắc chắn. Nội dung học vấn được hình
thành và phát triển trong nhà trường phổ thông phải góp phần quan trọng để phát
triển hứng thú và năng lực nhận thức của học sinh, cung cấp cho học sinh những
kỹ năng cần thiết cho việc tự giáo dục sau này.
Những kết quả nghiên cứu tâm- sinh lý và điều tra xã hội học gần đây
cho thấy sự thay đổi tâm- sinh lý của thanh thiếu niên là sự thay đổi có gia tốc.
Trong điều kiện phát triển của các phương tiện truyền thông, trong bối cảnh hội
nhập, mở rộng giao lưu, học sinh ngày càng được tiếp nhận nhiều nguồn thông tin
đa dạng, phong phú từ nhiều mặt, có hiểu biết hơn, linh hoạt và năng động hơn so
hoạt động, các hình thức tổ chức không phong phú lặp đi lặp lại, thậm chí gây
nhàm chán. Thứ hai, đội ngũ giáo viên chủ nhiệm còn yếu về kĩ năng tổ chức
và cố vấn hoạt động, phần nhiều dựa vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
trong triển khai các HĐGDNGLL. Thứ ba, công tác chỉ đạo, quản lý chưa
mang lại hiệu quả thiết thực. Chúng tôi nhận thấy, nguyên nhân chính của việc
HĐGDNGLL chưa mang lại hiệu quả là do các biện pháp quản lý, tổ chức
mang tính hình thức, chưa triển khai sâu rộng đến từng học sinh, chưa phát huy
được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em. Bên cạnh đó, biện pháp tổ
chức, quản lý HĐGDNGLL hiện nay của nhà trường chưa mang lại cho đội
ngũ giáo viên chủ nhiệm nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của
HĐGDNGLL đối với sự phát triển toàn diện của học sinh, chưa phát huy được
hiệu quả vai trò cố vấn của giáo viên chủ nhiệm lớp, chưa gắn kết được sự
3
tham gia của các lực lượng giáo dục khác như Đoàn TNCS Hồ Chí Minh , hội
cha mẹ học sinh, các cơ quan, xí nghiệp, tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn
vào quá trình triển khai , tổ chức HĐGDNGLL.
Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn hướng nghiên cứu với tên đề tài:
“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại trường Trung
học phổ thông Hồng Bàng thành phố Hải Phòng ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
quản lý HĐNGNGLL tại trường THPT Hồng Bàng nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục của nhà trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện 4 nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu lý luận về quản lý HĐGDNGLL ở trường THPT.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý HĐGDNGLL tại trường THPT Hồng
vấn đề lý luận liên quan đến HĐGDNGLL và quản lý HĐGDNGLL, đặc điểm
tâm lý, phương pháp giáo dục học sinh THPT.
7.2.Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm xem xét, phân tích các biện pháp,
cách thức tổ chức HĐGDNGLL cho học sinh ở trường THPT Hồng Bàng , đảm
bảo tính chân thực, khách quan của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp quan sát: Quan sát học sinh khi tổ chức hoặc tham gia
các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Phương pháp điều tra : Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi được sử
dụng nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý HĐGDNGLL của trường THPT Hồng
Bàng, tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề ra.
- Phương pháp toạ đàm: Trao đổi với học sinh, giáo viên, phụ huynh để
đánh giá nhận thức, hành vi, thái độ của học sinh, đánh giá kết quả của những
biện pháp tổ chức HĐGDNGLL.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3.Nhóm các phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng toán thống kê, xử lý số liệu thu thập được, qua phân tích, so
sánh, tổng hợp rút ra những nhận định.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
,phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương.
5
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp ở trường trung học phổ thông
Chƣơng 2 : Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại
trường trung học phổ thông Hồng Bàng thành phố Hải Phòng
Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp tại
động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập
của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc
thì cần phải có nhạc trưởng"[8]. Hai ông còn xác định mục đích của nền giáo dục
XHCN là tạo ra: "con người phát triển toàn diện"[8].
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nhà giáo dục ở các nước Tây
Âu và Mỹ đã đi tìm phương pháp dạy học mới trên cơ sở cách tiếp cận "lấy
người học làm nhân vật trung tâm". Khởi nguồn từ mong muốn giải pháp năng
lực sáng tạo cho người học do Dewey đề xướng: "Học sinh là mặt trời, xung
quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục"[10]. Một loạt các phương pháp
dạy học theo tư tưởng "Học sinh là nhân vật trung tâm" được đưa vào thử
nghiệm như "phương pháp tích cực" "phương pháp hợp tác"…
Vào những năm 60 - 70, đất nước Liên Xô đang trên con đường xây
dựng XHCN, việc giáo dục con người phát triển toàn diện được Đảng cộng sản
và Nhà nước quan tâm. Các nghiên cứu về lý luận giáo dục nói chung và
HĐGDNGLL nói riêng được đẩy mạnh. Trong cuốn sách " Tổ chức và lãnh
đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông", tác giả I.X. Marienco đã trình bày
sự thống nhất của công tác giáo dục trong và ngoài giờ học, nội dung và các
hình thức tổ chức HĐGDNGLL, vị trí của người Hiệu trưởng trong việc lãnh
đạo hoạt động giáo dục và các tổ chức Đội thiếu niên và Đoàn thanh niên.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
HĐGDNGLL là vấn đề mới đã được một số tác giả trong nước nghiên
cứu. Các tác giả nghiên cứu đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Các nghiên cứu đó tập trung chủ yếu vào đối
tượng học sinh ở phạm vi Thành phố hoặc quận, huyện như:
Hoàng Thị Minh Hương với nghiên cứu “Các biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng trường tiểu học quận Hồng
Bàng- Hải Phòng ” đã khẳng định HĐGDNGLL thực sự là một đòi hỏi tất yếu
của quá trình giáo dục và không có gì thay thế được. Nghiên cứu đã chỉ ra một
HĐGDNGLL của hiệu trưởng trường THCS Thành phố Hải Dương [28].
8
Nguyễn Như Ý với nghiên cứu "Một số biện pháp quản lý hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng các trường THPT huyện Phú
Xuyên tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay" đã khẳng định hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp với nội dung, hình thức đa dạng, phong phú sẽ là phương
thức để thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng "học đi đôi với hành". Nghiên
cứu đã chỉ ra được một số biện pháp như: thành lập Ban chỉ đạo, kế hoạch hoá
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, nâng cao nhận thức của đội ngũ giáo
viên về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, quy định tiêu chuẩn thi đua đối
với việc tham gia tổ chức hoạt động của giáo viên, chỉ đạo tổ chuyên môn,
khối chủ nhiệm tham gia tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp , sẽ
góp phần làm cho công tác quản lý chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp của Hiệu trưởng được hoàn thiện hơn, góp phần vào việc giáo dục học
sinh THPT huyện Phú Xuyên đáp ứng các yêu cầu trong giai đoạn mới [33].
Đỗ Văn Lợi với nghiên cứu "Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp ở các trường phổ thông Hermann Gmeiner " đã khẳng
định hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho HS đồng thời
đã chỉ ra được các biện pháp quản lý như : nâng cao nhận thức cho cán bộ,
giáo viên về đặc điểm của trường phổ thông Hermann Gmeiner; xây dựng đội
ngũ quản lý và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giỏi về chuyên
môn, có tinh thần trách nhiệm cao; nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ
cán sự lớp, toàn thể HS về việc tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp, sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục ngoài giờ lên
lớp nói riêng và hiệu quả giáo dục nói chung ở các trường phổ thông Hermann
Gmeiner [26].
người. Nó bắt nguồn từ lao động và có ý nghĩa lịch sử, vĩnh hằng với tư cách là
một loại lao động để điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, chính trị, văn
hoá, giáo dục… Các loại hình lao động ngày càng phong phú, phức tạp thì hoạt
động quản lý ngày càng có vai trò quan trọng và những chức năng đặc biệt bởi
lẽ: Do lao động mà sinh ra quản lý - Quản lý là nội tại của lao động.
10
Trong quá trình phát triển của lý luận quản lý, có nhiều cách định nghĩa
khác nhau về khái niệm quản lý do các nhà nghiên cứu lý luận cũng như thực
hành đưa ra.
- Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), người sáng lập thuyết quản
lý khoa học đã định nghĩa: " Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn
người khác làm, người sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách
tốt nhất và rẻ nhất"[10].
- Henry Fayol (1845 - 1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho
rằng: " Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển,
phối hợp và kiểm tra"[10]. Trong định nghĩa này, ông đã nêu 5 chức năng cơ
bản của quản lý:
+ Chức năng kế hoạch hoá.
+ Chức năng tổ chức.
+ Chức năng ra lệnh ( chỉ huy).
+ Chức năng phối hợp.
+ Chức năng kiểm tra.
- Harold Koontz, người được coi là cha đẻ của lý luận quản lý hiện đại,
đã viết: " Quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nỗ
lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật
chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [10].
- Theo Nguyễn Văn Lê: "Quản lý là một hệ thống tác động khoa học
hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động đó thực chất là
những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một
cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo.
Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm theo đuổi
những mục đích của mình. Giống như khái niệm “quản lý” đã trình bày ở
trên, khái niệm “quản lý giáo dục” cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Khái niệm "Quản lý giáo dục" được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ "Giáo dục". "Quản lý giáo dục
được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi "Giáo dục" được coi là hoạt động diễn ra ở
ngoài xã hội. Còn khi "Giáo dục" được diễn ra trong ngành giáo dục (từ Bộ
giáo dục - đào tạo đến cơ sở trường học hay các trung tâm kỹ thuật tổng hợp -
hướng nghiệp ) thì "Quản lý giáo dục" được hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý một
12
hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường… Để hiểu một cách chính xác hơn về "
Quản lý giáo dục", ta xem xét quan niệm sau đây:
Theo M.I. Kônđacốp: “Quản lí giáo dục là tập hợp những biện pháp
kế hoạch hoá nhằm đảm bảo vận hành bình thường của cơ quan trong hệ
thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng
cũng như chất lượng. Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm cho hệ vận hành theo đường
lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội
chủ nghĩa Việt Nam mà tiểu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ
trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất"[21].
Nói chung, quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Nói một cách rõ ràng
hơn, đầy đủ hơn, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích,
có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự
trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đơn vị ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh"[17].
Theo phó Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Viết Vượng thì "Quản lý trường
học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các lao
động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác. Cũng như huy
động tối
đa các nguồn lực giáo dục và đào tạo trong nhà trường"[32].
Như vậy, quản lý nhà trường phổ thông là sự tác động có định
hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực theo nguyên lý
giáo dục. Nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo
dục. Trọng tâm của nó là hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục tiến lên
trạng thái mới về vật chất. Do đó công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý
trường học nói riêng, gồm có quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà
trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội trên những nội dung sau:
- Quản lý hoạt động dạy học.
- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức.
- Quản lý hoạt động xã hội của nhà trường, hoạt động của đoàn thể.
- Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính.
14
Vì vậy, quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý các lĩnh vực
khác, vì sản phẩm của giáo dục đó là tri thức, nhân cách của học sinh. Mục tiêu
của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân,
chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào môi trường lao động,
- Hoạt động được thúc đẩy bởi một hệ thống động cơ và được định
hướng, điều khiển bởi sự phản ánh tâm lý.
- Hoạt động là sự tổng hợp của nhiều hành động có động cơ và ý thức
của con người nhằm hướng tới sự thoả mãn các nhu cầu và hứng thú của con
người, với tư cách là chủ thể của xã hội.
Hoạt động là một hình thức liên quan qua lại giữa cá nhân với môi
trường xã hội và thiên nhiên xung quanh. Vì vậy, không thể hiểu được hoạt
động nếu không nghiên cứu cá nhân. Cũng tương tự như vậy, không phân tích
hoạt động cá nhân sẽ không thấy được phẩm chất thực của cá nhân, bởi vì nền
móng thực sự của cá tính con người là tổng thể những mối quan hệ xã hội,
những mối quan hệ được thực hiện bởi hoạt động của con người.
Hoạt động và giao lưu là hai mặt cơ bản, thống nhất của cuộc sống con
người. Trong bất cứ hoạt động nào con người cũng tham gia vào những quan
hệ xã hội nhất định. Tính đa dạng của hoạt động tạo nên tính đa dạng của giao
lưu, phương thức, mục đích của giao lưu. Hoạt động giúp con người chiếm lĩnh
những giá trị đích thực của cuộc sống. Trong giao lưu con người rút ra được lẽ
phải, chân lý, rút ra được kinh nghiệm sống, sự ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên
cuộc sống văn hoá, hình thành những nét tính cách điển hình.
1.2.5. Khái niệm hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo Đặng Vũ Hoạt: "HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua
hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học kỹ thuật, lao động công ích, hoạt
động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hoá nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể
thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành và phát triển nhân
cách"[19].
Như vậy có thể nói rằng: HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình
giáo dục ở trường THPT. Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học
các môn văn hoá trên lớp. HĐGDNGLL là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt
17
1.3. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng
Trung học phổ thông
1.3.1. Mục tiêu của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
- Nâng cao hiểu biết về giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu những
giá trị tốt đẹp của nhân loại. Bổ sung,củng cố và mở rộng kiến thức cơ bản,
phổ thông mà HS đã học trên lớp; đồng thời mở rộng vốn sống, hiểu biết thực
tiễn xã hội của các em; giúp các em có trách nhiệm với bản thân, gia đình, nhà
trường và xã hội; định hướng nghề nghiệp cho bản thân.
- Củng cố vững chắc các kĩ năng cơ bản được rèn luyện từ lớp dưới, trên
cơ sở đó tiếp tục hình thành và phát triển các năng lực như : năng lực tự hoàn
thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính trị- xã
hội, năng lực tổ chức quản lý, năng lực hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
- Có thái độ đúng đắn trước các vấn đề của cuộc sống, biết phân biệt,
đánh giá để tự điều chỉnh và hoàn thiện bản thân mình, đồng thời có thể giúp
người khác hướng tới mục tiêu: chân, thiện, mĩ.
1.3.2. Vị trí, vai trò của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.3.2.1. Vị trí
Quá trình dạy học và quá trình giáo dục là những bộ phận của quá trình
sư phạm tổng thể trong nhà trường. Trong quá trình dạy học, ngoài việc truyền
thụ cho HS những tri thức khoa học cơ bản và có hệ thống, còn phải luôn luôn
mang lại hiệu quả giáo dục nhân cách cho các em. Ngược lại, trong quá trình
giáo dục, ngoài việc hình thành cho HS về ý thức và niềm tin, về thái độ ứng
xử đúng đắn trong các quan hệ giao tiếp hàng ngày, về hành vi và các kỹ năng
hoạt động, còn phải tạo cơ sở để HS bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã
học trên lớp.
Kết quả giáo dục cuối cùng được đánh giá qua kiến thức hành vi, kỹ
Từ vị trí quan trọng nêu trên, có thể thấy rõ vai trò của HĐGDNGLL
trong trường THPT thể hiện ở những điểm sau:
- HĐGDNGLL là nhằm giúp học sinh củng cố tri thức đã học trên lớp,
biến tri thức thành niềm tin. Thông qua các hình thức hoạt động cụ thể, HS có
dịp đối chiếu, kiểm nghiệm tri thức đã học, làm cho tri thức đó trở thành của
chính các em.HĐGDNGLL tiếp nối hoạt động dạy học, khi kết hợp chặt chẽ
với hoạt động giáo dục thể chất, giáo dục hướng nghiệp, hoạt động Đoàn thể,
hoạt động ngoại khoá sẽ tạo nên sự hài hoà, cân đối của quá trình sư phạm tổng
thể nhằm hiện thực hoá mục tiêu giáo dục của cấp học.
Quá trình sư phạm trong
nhà trường
Quá trình dạy học
(Hoạt động dạy-học)
Quá trình giáo dục
( trong đó có HĐGDNGLL)
Nhân cách HS phát triển
toàn diện
19
- HĐGDNGLL vừa củng cố, vừa phát triển quan hệ giao tiếp giữa từng
học sinh, giữa các lớp trong trường và với cộng đồng xã hội.
- HĐGDNGLL thu hút và phát huy được tiềm năng của các lực lượng
giáo dục trong và ngoài nhà trường để nâng cao hiệu quả giáo dục HS.
- HĐGDNGLL phát huy cao độ tính chủ thể, tính chủ động, tích cực của
HS. Dưới sự cố vấn, giúp đỡ, tổ chức của GVCN, HS cùng nhau tham gia các
hoạt động tập thể khác nhau trong đời sống hàng ngày ở nhà trường và ngoài
xã hội.
Như vậy, thực tiễn HĐGDNGLL tích cực và có hiệu quả sẽ góp phần
làm sâu sắc thêm những tri thức ấy thì cần phải thông qua HĐGDNGLL.
- HĐGDNGLL giúp HS biết vận dụng những tri thức đã học để giải
quyết các vấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, tạo cơ hội kiểm nghiệm những
tri thức đó, làm cho nó đi vào tiềm thức của HS một cách chắc chắn và lâu bền,
kích thích sự phát triển tư duy của các em.
- HĐGDNGLL giúp HS hướng nhận thức, biết tự điều chỉnh hành vi đạo
đức, lối sống cho phù hợp. Trên cơ sở ấy cũng từng bước làm giàu thêm những
kinh nghiệm thực tiễn, xã hội cho các em.
- HĐGDNGLL giúp HS định hướng chính trị, xã hội, có những hiểu biết
nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, truyền thống văn hoá của đất nước
- HĐGDNGLL giúp HS có những hiểu biết tối thiểu về các vấn đề có
tính thời đại như: sự nghiệp CNH-HĐH của đất nước;giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc; tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình; hoà bình và hữu nghị giữa
các dân tộc, bảo vệ môi trường, sự phát triển dân số, vấn đề chăm sóc sức khoẻ
sinh sản vị thành niên, vấn đề hoà hợp, phòng chống tệ nạn ma tuý cũng như
các tệ nạn xã hội khác (HIV/ AIDS, vi phạm pháp luật…).
1.3.3.2. Nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng
- HĐGDNGLL rèn luyện cho HS những kỹ năng giao tiếp, ứng xử có
văn hoá, những thói quen tốt trong học tập, lao động, năng lực thích ứng, hợp
tác , cạnh tranh lành mạnh , năng lực hoạt động chính trị- xã hội.
- HĐGDNGLL rèn luyện cho HS các kỹ năng tự tổ chức quản lý các
hoạt động tập thể - Đó là những kỹ năng tổ chức và điều khiển hoạt động, kỹ
năng vận động, kỹ năng cùng tham gia, kỹ năng tự kiểm tra và đánh giá kết
quả hoạt
động, hình thành năng lực tự hoàn thiện.
- HĐGDNGLL rèn luyện cho HS biết cách tự điều chỉnh hành vi phù
hợp với các yêu cầu của xã hội, kỹ năng sống hoà nhập, năng lực giao tiếp.
1.3.3.3. Nhiệm vụ giáo dục thái độ