Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
MỤC LỤC
1
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ tổ chức của Chi nhánh và mạng lưới các phòng giao dịch. 23
Bảng 2.1 : Kết quả tài chính giai đoạn 2010-2012
Bảng 2.2 : Phân tích thu nhập của từng hoạt động
Bảng 2.3 : Phân tích chi phí của từng hoạt động
Bảng 2.3 : Diễn biến CVTD của Chi nhánh giai đoạn 2010-2012 36
Bảng 2.5 : Thu nợ từ hoạt động cho vay. 38
Bảng 2.6 : Cơ cấu dư nợ CVTD. 39
Bảng 2.7 : Vòng quay vốn tín dụng cho vay tiêu dùng 41
Bảng 2.8 : Tỉ trọng CVTD trong tổng dư nợ cho vay giai đoạn 2010-2012. 41
Bảng 2.9 : Tình hình nợ xấu của Chi nhánh giai đoạn 2010-2012. 42
Bảng 2.10 : Bảng Thông Tin Lãi Suất Tiền Vay Bằng VND 53
2
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1 NH : Ngân hàng
2 NHTM : Ngân hàng thương mại
3 TD : Tín dụng
4 CVTD : Cho vay tiêu dùng
5 DN : Doanh nghiệp
6 HGĐ : Hộ gia đình
7 TCKT : Tổ chức kinh tế
8 TCTD : Tổ chức tín dụng
9 TSCĐ : Tài sản cố định
10 CBTD : Cán bộ tín dụng
11 CBCNV : Cán bộ công nhân viên
12 BĐS : Bất động sản
nguồn lực tăng khả năng đầu tư, kích thích tiêu dùng tạo thêm nhiều sản phẩm đa dạng
cho nền kinh tế.
Sự ra đời của các NHTM đã đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế, nó là
cầu nối, là người dẫn vốn cho các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Trong các hoạt
động của Ngân hàng thì cho vay là hoạt động cơ bản và truyền thống có vai trò quan
trọng tạo ra nguồn thu chủ yếu cho Ngân hàng và giúp Ngân hàng sử dụng nguồn vốn
huy động một cách hiệu quả.
Sau một thời gian ra đời nhưng chưa thật sự phát triển thì trong những năm gần
đây cho vay tiêu dùng đã ngày càng phát triển và đang là một trong những lĩnh vực thu
hút được sự quan tâm cả từ phía Ngân hàng và khách hàng. Thực chất đây là lĩnh vực có
tiền năng rất lớn vì dân số nước ta ước tính khoảng hơn 88,78 triệu người, một khi Ngân
hàng thực sự khai thác hết được tiềm năng này sẽ mang lai hiệu quả hết sức to lớn cho
Ngân hàng. Thời gian gần đây cho vay tiêu dùng đã mang lại nguồn thu đáng kể cho
Ngân hàng. Tuy nhiên, tỷ trọng về dư nợ cũng như doanh thu từ cho vay tiêu dùng so với
toàn bộ hoạt động tín dụng của Ngân hàng vẫn hết sức nhỏ bé mặc dù đây là thị trường
hết sức tiềm năng. Ngân hàng không tránh khỏi những hạn chế, đặc biệt là hoạt động cho
vay tiêu dùng cần phải được quan tâm nhiều hơn để đem lại thu nhập tương xứng với
tiềm năng. Hơn nữa, với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay thì thị trường cho vay tiêu
dùng đang là một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng. Việc nâng cao chất lượng cho
4
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
vay tiêu dùng đang là chiến lược phát triển quan trọng của toàn hệ thống Ngân hàng,
trong đó có Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo & PTNT).
Agribank Chi nhánh Bắc Hà Nội cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển
chung của thị trường. Ngay từ những ngày đầu thành lập Chi nhánh cũng đã xác định
cạnh tranh phát triển cho vay tiêu dùng sẽ là hướng đi mới giúp Chi nhánh phân tán rủi
ro và nâng cao khả năng hội nhập. Tuy đã bước đầu hình thành và tổ chức hoạt động theo
thông lệ của các NHTM hiện đại trên thế giới, theo đó các hoạt động bán lẻ được quan
tâm chỉ đạo và kiểm soát một cách bài bản nhưng trong bối cảnh nền kinh tế đương đầu
với những khó khăn thách thức, hoạt động cho vay tiêu dùng của Agribank Chi nhánh
5
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ CHẤT
LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1 Khái quát về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng của ngân hàng thương mại
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm tín dụng ngân hàng; ta có thể tiếp
cận từ cách đơn giản cho đến những cách tiếp cận phức tạp:
Khi tiếp cận khái niệm tín dụng ngân hàng một cách đơn giản, ta có thể hiểu tín
dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong
một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Còn khi tiếp cân ở góc độ tạp hơn, đó là xem xét khái niệm tín dụng dựa trên cơ sở
chức năng hoạt động của ngân hàng: Tín dụng là một giao dịch về tài sản( tiền hoặc hàng
hóa) giữa bên cho vay( ngân hàng và các định chế tài chính khác), trong đó bênc ho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay và sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa
thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay
khi đến hạn thanh toán.
Theo cách tiếp cận thứ hai thì khoản 14 điều 4 Luật các tổ chức tín dụng ở Việt
Nam 2011, định nghĩa về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của các NHTM và các tổ
chức tín dụng khác: “ Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một
khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả
bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân
hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
1.1.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng thương mại
Mối quan hệ tín dụng ngân hàng không phải là quan hệ chuyển dịch vốn trực tiếp
từ nơi tạm thời nhàn rỗi sang nơi thiếu mà thông qua các trung gian là các ngân hàng. Nó
là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, được thực hiện theo nguyên tắc hoàn
1.1.2 Phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.
1.1.2.1 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng
Nếu phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại theo hình thức cấp tín
dụng, ta có thể chia thành hoạt động: cho vay, cho thuê, chiết khấu và bao thanh toán.
a. Cho vay
Khái niệm: Là quan hệ trong đó Ngân hàng sẽ cấp cho người vay một lượng vốn
hay một tài sản nào đó, trong một thời gian nhất định người vay phải trả cả lãi và gốc.
Các hình thức cho vay:
Cho vay có tài sản đảm bảo: Là hình thức mà người vay muốn vay được vốn của
Ngân hàng phải có tài sản đảm bảo, cầm cố, thế chấp,…như: các giấy tờ có giá (cổ
phiếu, trái phiếu, nhà cửa, đất đai, ) đồng thời các loại tài sản này là tài sản phải có tính
thanh khoản, tức là phải được mua bán trao đổi trên thị trường.
Cho vay không có đảm bảo: Đây là hình hình thức tín dụng cung cấp cho khách
hàng có uy tín, độ tin cậy cao, hoạt động kinh doanh ổn định, tài chính lành mạnh, kể cả
khách hàng có sự bảo lãnh của bên thứ 3.
Cho vay thấu chi: Là hình thức mà qua đó Ngân hàng cho phép người vay được
chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn cho phép của Ngân
hàng trong một thời gian nhất định. Khách hàng muốn thấu chi phải làm đơn xin phép,
nếu được Ngân hàng cho phép thì mới được sử dụng dịch vụ này, trong qua trình chi trả
nếu vượt quá hạn mức cho phép sẽ bị phạt rất nặng với lãi suất cao.
Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay đối với các khánh hàng có nhu
cầu không thường xuyên về vốn, không có điều kiện để hạn mức thấu chi, vốn của ngân
hàng chỉ tham gia nhất định vào một chu kì kinh doanh.
Cho vay luân chuyển: Là hình thức cho vay dựa trên sự luân chuyển hàng hóa.
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán hàng hoá dịch vụ, doanh nghiệp
7
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
thiếu vốn họ có thể vay Ngân hàng. Ngân hàng chỉ tiến hành thu nợ khi doanh nghiệp
bán được hàng hoá dịch vụ. Khi vay khách hàng chỉ cần gửi các chứng từ, hoá đơn
chứng minh số tiền cần vay cho Ngân hàng. Ngân hang sẽ cho vay và trả tiền cho người
lợi nhuận đối với người cho thuê, còn người thuê được hưởng mọi lợi ích từ việc sử dụng
máy móc thiết bị. Khi thời gian thuê đáo hạn người thuê có quyền lựa chọn một trong
những hình thức mua lại tải sản với giá trị hợp lý hoặc kí hợp đồng thuê tiếp tục, làm đại
lý bán tài sản đó theo sự uỷ quyền của người cho thuê.
c. Chiết khấu
Khái niệm: Chiết khấu là một nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Người sở hữu mang thương phiếu chưa đến ngày đáo hạn đến Ngân hàng để nhận một số
tiền nhất định theo thoả thuận với Ngân hàng, thông thường số tiền này bằng mệnh giá
8
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu, phí giao dịch và hoa hồng. Đến khi đáo hạn Ngân
hàng là người tiến hành thu nợ, số tiền mà họ thu được bằng đúng với mệnh giá thương
phiếu.
Thương phiếu là loại giấy tờ hình thành từ việc mua bán chụi hàng hoá. Chất
lượng của thương phiếu phụ thuộc vào: thời gian đáo hạn, mệnh giá, Đây là nghiệp vụ
đơn giản nhất trong nghiệp vụ tín dụng nó dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân hàng và
những người kí tên trên thương phiếu, lợi nhuận Ngân hàng thu được là tương đối cao,
chi phí giao dịch thấp, độ an toàn cao vì khi đáo hạn Ngân hàng không đòi nợ được
người bán hàng thì họ có thể đòi những người có liên quan.
d. Bảo lãnh.
Khái niệm: Là hình thức cam kết của Ngân hàng dưới dạng hình thức bảo lãnh về
việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách hàng không
thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết. Bảo lãnh gồm có 3 bên, bên bảo lãnh, bên được bảo
lãnh và bên hưởng bảo lãnh.
1.1.2.2 Phân loạt tín dụng theo thời gian
Phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa rất quan trọng đối với các NHTM vì
nó liên quan đến khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của khoản tiền cho vay, theo cách
phân loại này người ta chia thành:
a. Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là các khoản vay mà Ngân hàng cung cấp cho khách hàng của
- Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai.
- Tín dụng trung hạn để mua đất đai nhà cửa, căn hộ, tiêu dùng mua sắm hàng hoá
sử dụng lâu bền.
• Tín dụng công thương nghiệp: Là khoản tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp phục
vụ cho việc mua bán hàng hoá, nguyên vật liệu, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh.
• Tín dụng nông nghiệp: Đây là khoản tín dụng mà Ngân hàng thương mại cấp cho hoạt
động nông nghiệp, nhằm trợ giúp người nông dân có thêm vốn mua giống cây trồng và
vật nuôi.
• Tín dụng cá nhân: Là tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để họ mua săm các dụng cụ,
đồ vật phục vụ cho mục đích sinh hoạt hàng ngày như: xe hơi, tivi,
• Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Là tín dụng cung cấp cho các khách hàng là các
Ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tài chính trung
gian khác,
1.2Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
1.2.1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
Cho vay tiêu dùng(CVTD) là việc bên ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một
khoản tiền theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi trong một thời gian
nhất định để sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và các nhu cầu phục vụ đời
sống.
Nhìn chung, CVTD được coi là khoản tiền vay cấp cho các cá nhân, hộ gia đình để
chi dùng cho các mục đích không kinh doanh.
CVTD cho phép cá nhân, hộ gia đình được sử dụng trước khả năng mua hàng hoá
của mình trong tương lai, tức là tạo điều kiện thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trước khi họ có
khả năng chi trả. Do đó ngoài việc nâng cao mức sống về mặt vật chất, thì CVTD còn
gián tiếp kích thích sản xuất. Sản phẩm cho vay tiêu dùng ra đời đáp ứng nhu cầu của
dân cư trong cuộc sống ngày nay, khi mà nền kinh tế phát triển nhanh chóng, đời sống
của người dân được nâng cao hơn. Vì vậy, cho vay tiêu dùng là một trong những chiến
lược đa dạng hoá các loại hình tín dụng, mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ cũng như
c. Thời hạn vay Các khoản CVTD thường là ngắn và trung hạn do món vay có giá trị nhỏ và
độ rủi ro cao.
d. Nguồn trả nợ Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng chính là thu nhập của
người đi vay, NH thường xem xét mức thu nhập thường xuyên của KH để ra quyết định
cho vay.
e. Lãi suất cho vay tiêu dùng Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất cao hơn lãi suất cho
vay trong các lĩnh vực khác. Nguyên nhân là do quy mô của hợp đồng cho vay nhỏ lại
khó quản lý hơn vì vậy chi phí cho vay của ngân hàng cao. Để bù đắp chi phí này, tất
nhiên, lãi suất cho vay sẽ cao. Bên cạnh đó, không như hầu hết các khoản cho vay kinh
doanh hiện nay với lãi suất thay đổi theo điều kiện thị trường, lãi suất cho vay tiêu dùng
thường được cố định ở một mức nhất định.
f. Rủi ro cho vay tiêu dùng
11
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
- Hình thức cho vay tiêu dùng chứa đựng độ rủi ro cao hơn so với việc tài trợ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Rủi ro khách quan: Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng là từ thu nhập ổn
định tại thời điểm hiện tại của người vay, khả năng trả nợ của KH sẽ bị ảnh hưởng khi
nền kinh tế gặp khó khăn, hoặc xảy ra những biến động tiêu cực chung như thiên tai,
mất mùa, thất nghiệp. Khả năng trả nợ vay tiêu dùng còn phụ thuộc vào tình trạng sức
khoẻ của KH, đặc biệt khi người vay chết thì NH sẽ rất khó để thu hồi được khoản nợ.
- Ngoài ra CVTD có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế. Khi kinh tế tăng trưởng, người dân
lạc quan về tương lai, nhu cầu vay ngân hàng nhiều hơn, nhưng khi nền kinh tế suy
thoái, đời sống trở nên khó khăn,người dân sẽ hạn chế vay mượn NH hơn.
- Rủi ro chủ quan: Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ
ràng như thông tin về doanh nghiệp (thông qua báo cáo tài chính thường niên, hoặc
kiểm tra công tác kế toán), dẫn đến rủi ro đạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng.
KH có thể không có thiện chí trả nợ cho NH mặc dù có khả năng thanh toán, hoặc cung
cấp thông tin không đầy đủ và trung thực nhằm đạt mục đích vay vốn.
g. Chi phí cho vay tiêu dùng CVTD là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất
mong muốn chi tiêu ngay lập tức các nguồn tài chính trong tương lai là những nguyên
nhân làm nảy sinh nhu cầu về CVTD của nhóm người này.
+ Những cá nhân có thu nhập cao.
Những người này thường cần tới CVTD với tư cách là những khoản phụ trợ linh
hoạt, trợ giúp thêm vào khả năng thanh toán, đặc biệt khi tiền của họ đã bị trói chặt vào
những khoản đầu tư dài hạn. Mặc dù sự vay mượn nhằm mục đích tiêu dùng của họ chỉ
thể hiện một tỷ trọng nhỏ trong tổng số tài sản mà họ sở hữu, song họ lại thường đụng
chạm đến những món tiền lớn và đó chính là lý do mà các ngân hàng tỏ ra đặc biệt quan
tâm đến nhóm khách hàng đi vay này.
Nói chung, nhu cầu về tiêu dùng của hai nhóm sau là rất cao, thường chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng mức cầu tiêu dùng của các cá nhân. vì lẽ đó, nhu cầu CVTD chủ yếu
đến từ những người có tu nhập trung bình và thu nhập cao.
b. Phân loại khách hàng theo tình trạng công việc hay lao động.
Thông thường nhu cầu vay của các cá nhân khác nhau phụ thuộc vào tình hình tài
chính của họ, mà tình hình tài chính lại phụ thuộc vào tình trạng công tác hay lao động
của các cá nhân. Từ khía cạnh này, ta có thể xếp loại khách hàng theo các nhóm tình
trạng công tác hay lao động khác nhau, cụ thể là :
- Những người làm công ăn lương.
- Những người có công việc kinh doanh.
- Những người hành nghề chuyên nghiệp: bác sĩ, chuyên gia, kiến trúc sư, ca sĩ…
- Những người lao động tự do.
Các nhóm khác nhau, mức thu nhập cũng như sự ổn định về thu nhập cũng khác
nhau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cấp tín dụng của ngân hàng, quyết
định nguồn hoàn trả vốn và lãi chủ yếu của các cá nhân.
1.2.2.2 Căn cứ vào mục đích vay.
a. Cho vay tiêu dùng cư trú.
Cho vay tiêu dùng cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm,
xây dựng hay cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình.
b. Cho vay tiêu dùng phi cư trú.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải
° Loại tài sản: đối với các tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả trước nhiều và
ngược lại, đối với các tài sản có mức độ giảm giá chậm thì số tiền trả trước ít.
° Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng.
° Môi trường kinh tế.
° Năng lực tài chính của người đi vay.
- Chi phí của khoản vay.
Chi phí khoản vay là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử
dụng vốn. Chi phí này chủ yếu bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan. Chi phí
khoản vay này phải trang trải được chi phí huy động vốn, chi phí hoạt động, rủi ro đồng
thời mang lại một phần lợi nhuận thỏa đáng cho ngân hàng.
b. Cho vay tiêu dùng phi trả góp.
14
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
Theo phương thức này, tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân hàng chỉ
một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản CVTD phi trả góp được cấp cho các khoản
vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
c. Cho vay tiêu dùng tuần hoàn
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép
khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài
khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn cho vay thoả thuận trước, căn cứ
vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng thời kỳ, khách hàngđược ngân hàng
cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức
tín dụng.
1.2.2.3 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ.
a. Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng cho vay đối
với nhà cung cấp để trên cơ sở đó nhà cung cấp trực tiếp bán chịu cho khách hàng.
(1) Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán nợ. Trong hợp đồng
(HĐ), ngân hàng thường đưa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng được bán chịu, số
tiền bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu…
(3)Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(4)Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
So với CVTD gián tiếp, CVTD trực tiếp có một số ưu điểm sau:
- Nhân viên ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của mình trong việc quyết
định các khoản vay, hơn là để cho các công ty bán lẻ thực hiện. Ngoài ra, trong hoạt
động của mình, nhân viên của những công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc bán cho
được nhiều hàng hóa. Thêm vào đó, tại các điểm bán hàng, các quyết định cho vay
thường được đưa ra vội vàng và như vậy có thể có nhiều khoản cho vay được cấp không
chính đáng. Hơn nữa, trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có
thể từ chối cho vay đối với các khách hàng tốt của mình. Nếu như người quyết định là
ngân hàng, những điều này có thể được hạn chế.
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp có ưu điểm là linh hoạt hơn so với CVTD gián tiếp.
- Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát
sinh, có khả năng làm thoả mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng.
1.2.2.4 Căn cứ vào thời hạn vay.
Giống như cho vay tới khách hàng công ty, CVTD cũng có các kỳ hạn ngắn,
trung, dài hạn. Căn cứ vào đối tượng vay cụ thể, vào nguồn trả nợ của người vay, ngân
hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn vay vốn và thời hạn trả nợ cuối cùng.
• Khoản vay ngắn hạn có thời hạn tối đa là 12 tháng.
• Khoản vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng và tối đa tuỳ thuộc vàoquy định của từng
quốc gia (36 tháng hoặc 60 tháng).
• Khoản vay dài hạn có kỳ hạn trên mức tối đa quy định cho khoản vay trung hạn. Kỳ hạn
của một khoản vay tiêu dùng có thể lên đến 2 năm mà việc thu nợ dựa trên hình thức trả
góp hàng tháng.
1.2.3 Quy trình cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc
cấp tín dụng. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi
chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đó là quá trình
đồng bộ, có tính chất liên hoàn, theo trình tự nhất định và có quan hệ chặt chẽ và gắn bó
với nhau. Quy trình tín dụng thường có 6 bước là: Lập hồ sơ tín dụng, Thẩm định tín
• Thời hạn cho vay: là thời hạn mà trong đó NH cấp tín dụng cho KH, tính từ lúc
đồng vốn đầu tiên của NH được phát ra đến lúc đồng vốn và lãi cuối cùng được NH thu
về.
• Các loại đảm bảo: các nội dung như định giá, bảo hiểm, quyền sở hữu, quyền
chuyển nhượng hoặc bán, quyền sử dụng các đảm bảo… đều phải được quy định rõ
trong hợp đồng.
• Điều kiện và kỳ hạn giải ngân.
• Cách thức, thời điểm thanh toán gốc và lãi.
Các điều kiện khác: kiểm soát vật thế chấp, kiểm soát hoạt động kinh doanh của
người vay, điều kiện phát mại tài sản, phạt vi phạm hợp đồng…
17
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
Sau khi kí kết hợp đồng tín dụng, NH tiến hànhgiải ngân cho KH.
Bước 5: Kiểm tra trong quá trình cho vay: Sau khi giải ngân cho KH, NH phải kiểm
soát xem KH có sử dụng tiền vay đúng mục đích hay không. Việc thu thập thông tin về
KH :
• Tất cả thông tin phản ánh theo chiều hướng tốt thể hiện chất lượng tín dụng đang được
đảm bảo.
• Nếu chất lượng khoản vay đang bị đe dọa cần có biện pháp xử lý kịp thời.
• Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn, ngừng giải ngân nếu bên đi vay vi phạm hợp
đồng tín dụng.
Bước 6: Thu hồi nợ hoặc đưa ra quyết định tín dụng mới: Khi KH đã trả hết nợ gốc
và lãi đúng hạn, quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và KH sẽ kết thúc. Tuy nhiên bên cạnh
các khoản tín dụng an toàn, vẫn tồn tại các khoản tín dụng mà đến thời điểm hoàn trả KH
không trả được nợ. Cho nên Ngân hàng phải tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra quyết định
mới: có cho KH gia hạn nợ hay là bán tài sản đảm bảo để bù đắp rủi ro.
Tóm lại, quy trình cho vay cần được xây dựng sao cho phù hợp với các quy định
của pháp luật, với từng nhóm KH, và với từng loại cho vay của NH. Quy trình cho vay
phải đảm bảo để NH có đủ các thông tin cần thiết nhưng không gây phiền hà cho KH.
Một quy trình cho vay được xây dựng hợp lý sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động, giảm
hình thức CVTD mang lại.
b. Đối với nhà sản xuất.
Các nhà sản xuất có thể dễ dàng tìm thấy nhu cầu có khả năng thanh toán về các
mặt hàng tiêu dùng khi các khách hàng đã tìm được nguồn tài trợ. Lợi ích đối với các
nhà sản xuất kinh doanh là gia tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm, từ đó đem lại lợi nhuận,
mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường. Khi đó, nhà sản xuất thuê thêm công
nhân, tăng thu nhập cho người lao động; Vậy là CVTD lại gián tiếp đem lại lợi ích cho
xã hội. Nhưng đồng thời, cho vay tiêu dùng tạo ra sự cạnh tranh cao hơn giữa các hãng
sản xuất, các nhà kinh doanh cả về chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm. Một mặt,
thúc đẩy sản xuất phát triển, một mặt người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn, qua đó tạo
sự năng động cho nền kinh tế.
c. Đối với NHTM.
Hoạt động chủ yếu của các ngân hàng là nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng tiền đó để cho vay kiếm lời. Các NHTM song song với nỗ lực huy động vốn là
khai thác tối đa thị trường tín dụng, nghĩa là đáp ứng tốt nhất các nhu cầu tín dụng của
nền kinh tế. Hoạt động CVTD của ngân hàng đối với các cá nhân có quy mô nhỏ nhưng
số lượng khách hàng tiềm năng và sự đa dạng của nhu cầu lại vô cung to lớn. Nhu cầu
tiêu dùng của khách hàng là vô tận, đó là nền tảng vững chắc của ngân hàng khi tiến
hành CVTD.
Khi tiến hành CVTD, các NHTM đều thấy rằng rủi ro trong hoạt động cho vay
thường nhỏ hơn so với các nghiệp vụ khác. Lãi suất thực ngân hàng áp dụng trong loại hình
CVTD rất cao, điều này khiến cho hoạt động CVTD có tỉ suất lợi nhuận không nhỏ.
Hơn nữa, xu hướng hoạt động của các NHTM là phát triển đa năng tổng hợp luôn
tìm cách mở rộng các nghiệp vụ cũng như đưa ra các sản phẩm mới. Việc thực hiện và
phát triển CVTD vừa mở rộng được khách hàng cho vay, tận dụng được nguồn vốn huy
động một cách hiệu quả, vừa đa dạng hoá các sản phẩm , dịch vụ ngân hàng. Từ đó ngân
hàng tăng được sức mạnh trong cạnh tranh đồng thời tạo ra được những nét đặc trưng
hấp dẫn riêng.
d. Đối với nền kinh tế.
Một trong các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của xã hội là mức sống của người
Chính vì vậy, vấn đề quan trọng hiện nay là làm thế nào đển nâng cao chất lượng CVTD
của NHTM.
Nâng cao chất lượng CVTD là việc NHTM cải thiện hiệu quả vốn vay tiêu dùng
của KH cá nhân cho mục đích tiêu dùng, qua đó thu hút thêm nhiều KH đến với NH.
Nâng cao chất lượng CVTD biểu hiện ở sự gia tăng tổng dư nợ, tổng doanh số cho vay,
giảm tỷ lệ nợ quá hạn, tăng trưởng số lượng KH được vay vốn tại NHTM.
1.3.2.2 Các tiêu chí biểu thị chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại.
Một số chỉ tiêu cơ bản biểu thị chất lượng CVTD ở ngân hàng thương mại được
xem xét ở như sau:
a. Số lượng KH vay tiêu dùng vay vốn tại NH: chỉ tiêu này được tính trong một
khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Sự tăng trưởng của nó qua các năm
cho thấy chất lượng cho vay tiêu dùng đang được cải thiện.
b. Dư nợ cho vay và doanh số cho vay đối với các khoản vay tiêu dùng: Dư nợ là
20
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
số tiền mà NH đang cho vay vào thời điểm cuối kỳ. Doanh số cho vay là tổng số tiền NH
đã cho vay ra trong kỳ. Dư nợ là chỉ tiêu tích luỹ qua các thời kỳ, tính theo công thức:
DNCVTD cuối kỳ = DNCVTD đầu kỳ + DSCVTD trong kỳ - DSCVTD thu nợ trong kỳ
Đây là chỉ tiêu phản ảnh rõ nhất chất lượngCVTD của NH. Nếu dư nợ CVTD kỳ
này lớn hơn kỳ trước, hoặc doanh số cho vay trong kỳ lớn hơn kỳ trước, có thể khẳng
định rằng, chất lượngCVTD đang được nâng cao.
c. Tỷ trọng dư nợ CVTD trong tổng dư nợ cho vay của NHTM:
Tỷ trọng dư nợ CVTD =
Dư nợ CVTD
Tổng dư nợ cho vay của NH
Sự tăng lên của con số này cũng đồng nghĩa với chất lượng CVTD được nâng cao.
d. Tốc độ tăng trưởng dư nợ CVTD:
Tốc độ tăng trưởng dư nợ =
DNCV kỳ này – DNCV kỳ trước
DNCV kỳ trước
• Nhu cầu vay vốn tiêu dùng của KH
Trong nền kinh tế thị trường, khi nhu cầu về một loại hàng hóa nào đó tăng lên thì
việc tăng cung để đáp ứng nhu cầu đó là hết sức cần thiết. Trong lĩnh vực tín dụng, điều
này cũng hoàn toàn đúng. Người tiêu dùng có nhu cầu lớn về vốn tiêu dùng sẽ thúc đẩy
NH nâng cao chất lượng CVTD, qua đó thu hút đông đảo hơn lượng KH đến với NH. Vì
thế, cầu về vốn tiêu dùng của KH là nhân tố khách quan tác động tới việc nâng cao chất
lượng CVTD của NHTM.
• Khả năng đáp ứng điều kiện vay của KH: được xem xét trên các khía cạnh: năng
lực tài chính và tào sản đảm bảo của KH. Các yếu tố này quyết định đến việc họ có được
vay vốn NH hay không.
Phân tích trước khi cấp tín dụng là khâu không thể thiếu trong hoạt động cho vay
của NHTM. Thông qua đó, NH nắm được tình hình và năng lực tài chính của KH cần vay
vốn. Tình hình và năng lực tài chính của KH càng mạnh thì khả năng đáp ứng các điều
kiện cho vay càng lớn.
CVTD là hoạt động tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro nên NH luôn yêu cầu tài sản
đảm bảo cho các khoản vay. Tài sản đảm bảo là căn cứ để NH xác định mức cho vay đối
với KH. Nếu KH không có tài sản đảm bảo, không có người bảo lãnh hoặc giá trị tài sản
đảm bảo thấp, không đủ tiêu chuẩn thì khó vay được vốn NH.
Như vậy, tình hình tài chính, năng lực tài chính và tài sản đảm bảo là những yếu tố
quyết định tới khả năng đáp ứng điều kiện vay của KH vay tiêu dùng. Các chỉ số đó càng tốt,
việc nâng cao chất lượngCVTD của NHTM càng được thực hiện dễ dàng hơn.
b. Những nhân tố từ phía môi trường kinh doanh
• Thực trạng chung của nền kinh tế: Hoạt động NH có liên quan đến tất cả các lĩnh
vực trong nền kinh tế. Vì thế, những biến động của nền kinh tế sẽ có tác động tới hoạt
động của NH, đặc biệt là hoạt động cho vay. Cụ thể, khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu
tiêu dùng của người dân tăng lên. Các NHTM có xu hướng nâng cao chất lượng tín dụng
CVTD, qua đó thu hút được nhiều KH, mở rộng lĩnh vực đầu tư.
• Môi trường pháp lý: CVTD là một trong những hoạt động rủi ro cao của NH,
song lại rất quan trọng đối với nền kinh tế. Vì thế, nó chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ của
pháp luật. Môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch với hệ thống các văn bản pháp luật hợp
vốn của KH vay tiêu dùng. Một mức lãi suất cao sẽ hạn chế ý muốn vay mượn của KH,
bởi chi phí vốn cao. Ngược lại, NH sẽ áp dụng mức lãi suất cho vay thấp khi muốn nâng
cao chất lượngcho vay đối với KH vay tiêu dùng. Chi phí vốn thấp góp phần giảm gánh
nặng chi phí cho KH. Khi đó, nhiều KH tìm đến NH để vay vốn cho nhu cầu tiêu dùng.
Số lượng KH vay tiêu dùng tại NH tăng lên, nghĩa là chất lượngCVTD được cải thiện.
• Chính sách về các khoản đảm bảo: Chính sách đảm bảo bao gồm các quy định
về: trường hợp vay vốn phải có tài sản đảm bảo, các hình thức đảm bảo, tỷ lệ phần trăm
cho vay trên đảm bảo… Thông thường, các NH chỉ cho vay với giới hạn thấp hơn giá trị
thị trường của đảm bảo. Tỷ lệ phần trăm cho vay tuỳ thuộc vào khả năng bán và khả
năng thay đổi giá trị của tài sản đảm bảo. Tỷ lệ này càng cao thì quy mô vốn mà KH
được nhận từ NH càng lớn. Ngược lại, chính sách về các khoản đảm bảo quá chặt chẽ sẽ
cản trở khả năng nâng cao chất lượngCVTD của NHTM.
b. Quy trình cho vay:
Một quy trình cho vay rườm rà, phức tạp, tốn thời gian nhiều khi làm mất đi cơ
hội kinh doanh của KH. Do đó, quy trình thủ tục cho vay của NH cần phải đơn giản, hợp
lý, vừa đảm bảo để NH có được các thông tin cần thiết, vừa không gây phiền hà cho KH.
Điều này sẽ thu hút nhiều KH tới NH để vay vốn.
c. Quy mô và cơ cấu vốn của NHTM
Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến nâng cao chất lượngCVTD. Với lượng vốn
dồi dào, NHTM sẽ dễ dàng hơn đối với các chính sách tín dụng nhằm nâng cao chất
23
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nguyễn Thị Kiều Oanh
lượng cho vay. Ngược lại, nếu hoạt động huy động vốn của NH gặp khó khăn thì NH sẽ
không đáp ứng đủ nhu cầu vay của KH. Tình trạng thiếu vốn khiến NH tăng lãi suất huy
động, từ đó lãi suất cho vay cũng phải tăng lên. Khi đó, sức cạnh tranh của NH giảm đi
và mục tiêu nâng cao chất lượngCVTD khó lòng đạt được.
Bên cạnh đó, cơ cấu nguồn vốn của NH cũng ảnh hưởng đến chất lượngCVTD.
Nếu tỷ trọng nguồn vốn ngắn hạn quá lớn, NH không đủ nguồn trung dài hạn để tài trợ
cho các nhu cầu vốn dài hạn của KH như nhu cầu mua bất động sản. Việc nâng cao chất
lượngCVTD cũng khó khăn hơn.
Vốn điều lệ: Tính đến tháng 10/2012, vốn điều lệ của ngân hàng là 29.605 tỉ đồng.
Năm 2000, hệ thống NHNo&PTNTVN đã có những bước phát triển mới, cùng với
các NHTM khác, hệ thống NHNo&PTNNVN đã góp phần không nhỏ đáp ứng yêu cầu
cung cấp vốn cho nền kinh tế mọi miền đất nước mà đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp,
nông thôn và nông dân. Từ thực tiễn trên, cùng với việc ra đời cả một số chi nhánh
NHNo&PTNTVN tại các thành phố lớn, khu đô thị và trung tâm kinh tế mọi miền đất
nước trong giai đoạn 2000 – 2001, Chi nhánh Bắc Hà Nội được thành lập và chính thức
đi vào hoạt động theo quyết định số 342/QĐ/HĐQT - TTCB của Chủ tịch hội đồng quản
trị NHNo&PTNTVN ngày 05 tháng 09 năm 2001.
Tên Ngân hàng: NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc Hà Nội.
Tên viết tắt: Agribank Bắc Hà Nội
Trụ sở chính: Số 266 - Đội Cấn-Ba Đình-Hà Nội
Điện thoại: 04.37627636 Fax: 04.37627636 Email: [email protected]
Sau hơn 11 năm hình thành và phát triển đến nay NHNo&PTNTVN Chi nhánh
Bắc Hà Nội đã ngày càng phát triển lớn mạnh, từng bước hoàn thiện bộ máy tổ chức, mở
rộng thêm các phòng ban, các phòng giao dịch mới cũng như tiếp thu những thành tựu
khoa học kĩ thuật tiên tiến của thế giới từng bước đưa Ngân hàng hội nhập thích nghi với
những thay đổi của nền kinh tế trong tình hình mới.
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của AGRIBANK chi nhánh Bắc Hà Nội.
Theo quy chế tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNTVN ban hành theo quy định
số 169/QÐ-02 (ngày 07/09/2000) của Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt Nam, Chi
nhánh Bắc Hà Nội là chi nhánh NHNo & PTNTVN cấp I và cũng căn cứ theo quy định
này, chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh như sau:
Chi nhánh có các chức năng cơ bản sau:
25