BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay đất nước đang trên con đường đổi mới, nền kinh tế đang dần hòa
nhập vào kinh tế chung của thế giới. Do đó nền kinh tế nước ta sẽ gặp những khó
khăn nhất định, để có phát triển ổn định và bền vững, chúng ta cần phải có những cơ
chế họat động kinh tế mới phù hợp với cơ chế thị trường hiện tại và cần có một hệ
thống lĩnh vực kinh tế đóng vai trò như hệ thần kinh thúc đẩy sự phát triển nền kinh
tế, và một trong những dây thần kinh quan trọng điều phối phần lớn tài chính trong
kinh tế đó là lĩnh vực tiền tệ Ngân hàng.
Đối với toàn bộ hệ thống NHNN Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT chi
nhánh Quận 5 nói riêng thì vấn đề tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề
rất được quan tâm. Nguồn vốn đáp ứng được nhu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước là vấn đề quan trọng và cần thiết trong hiện tại và tương lai. Mà trong đó
họat động cho vay đối với khách hàng là cá nhân cũng sẽ tạo điều kiện cho phát triển
kinh tế.
Do thấy được tầm quan trọng của tín dụng đối với khách hàng là cá nhân đối
với họat động của Ngân hàng nên NHNo&PTNT chi nhánh Quận 5 trong những năm
gần đây luôn chú trọng đến công tác cho vay, tiêu dùng, góp phần làm cho hệ thống
Ngân hàng ngày càng hoàn thiện hơn.
Qua thời gian học tập tại trường và được tiếp cận với thực tiễn các hoạt động
tại NHNo&PTNT chi nhánh Quận 5 em thấy rằng việc tìm hiểu về hoạt động tín
dụng đối với khách hàng là cá nhân lầ cần thiết.
Vì vậy nên em chọn đề tài “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VAY
TIÊU DÙNG TẠO AGRIBANK – CHI NHÁNH QUẬN 5 – TP.HCM”.
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 1/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG
1.1 Khái niệm và chức năng của tín dụng
1.1.1 Khái niệm
Tín dụng được ra đời từ rất sớm, xuất phát từ chữ La Tinh: Creditium có
dùng…(hiện nay vốn tín dụng là vốn đầu tư quan trọng trong vốn cố định của các
doanh nghiệp).
- Ở khâu tập trung, tín dụng là nơi tập trung những nguồn vốn tạm thời trong
xã hội (dưới các hình thức huy động tiền gửi, phát hành trái phiếu…)
- Ở khâu phân phối vốn tiền tệ, tín dụng là nơi đáp ứng nhu cầu vốn cho
doanh nghiệp, cá nhân và cho cả ngân sách (dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh,
đầu tư). Phân phồi vốn trong hệ thống tín dụng là dựa trên cơ sở hoàn trả lại, phục vụ
chủ yếu cho nhu cầu sản xuất – lưu thông hàng hóa và dịch vụ, qua đó góp phần gia
tăng đáng kể vào nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Thực hiện chức năng này, tín dụng đã góp phần tiết kiệm tiền mặt và chi phí
lưu thông xã hội:
- Nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội được huy động kịp thời và đưa vào chu
chuyển làm giảm lượng tiền dư thừa , tăng nhịp độ vòng quay của tiền tệ nhằm ổn
định lưu thông tiền tệ.
- Quá trình tập trung vốn, ngoài hình thức vay mượn trực tiếp bằng tiền,các
chủ thể có nhu cầu về vốn có thể phát hành các chứng từ có giá như thương phiếu, kỳ
phiếu, trái thiếu… đồng thời hoạt động tín dụng ngày nay càng mở rộng và phát triển
đa dạng đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt thông qua các hình
thức thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, thanh toán bù trừ… điều này giúp làm giảm
chi phí lưu thông khác như in ấn, bảo quản, vận chuyển thường…
Chức năng này là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của tín dụng.
Thảo mãn thanh toán và tạo tiền:
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 3/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Tín dụng luôn được cấp ra nhằm giúp người vay tiền chi trả các khoản mua,
bán, trả các món nợ…ngoài ra, tín dụng còn tạo thêm phương tiện thanh toáncho nền
kinh tế hay nói khác đi, tín dụng tạo thêm tiền cho nền kinh tế.
Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để duy trì hoạt động liên tục đòi hỏi vốn
của tổ chức sản xuất kinh doanh đồng thời tồn tại ở cả ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất
1.2.1 Căn cứ vào thời hạn vay
Cho vay ngắn hạn: Loại vay này có thời hạn dưới 12 tháng, được sử dụng để
bù đắp vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân.Đối với ngân hàng thương mại, tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao nhất.
Cho vay trung hạn: Có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, chủ yếu được sử dụng để
đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng cơ
sở sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án nhanh thu hồi vốn.
Cho vay dài hạn: Loại hình cho vay này có thời hạn trên 5 năm, chủ yếu được
sử dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà ở, đầu tư phương tiện vận tải
có quy mô lớn, xây dựng xí nghiệp mới.
1.2.2 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Cho vay có tài sản đảm bảo: Loại vay này đòi hỏi phải có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc được bảo lãnh của bên thứ ba.Đối với khách hàng không có uy tín cao
đối với ngân hàng, khi vay vốn cần có sự đảm bảo.Sự đảm bảo này là căn cứ để ngân
hàng có thể thu hồi nợ gốc và lãi phát sinh.Tài sản đảm bảo có thể là tài sản đã có chủ
quyền hợp pháp trước khi có các giao dịch tín dụng hoặc có thể hình thành từ vốn
vay.
Cho vay không có tài sản đảm bảo (vay tín chấp): là loại vay không cần tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc được bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy
tín của khách hàng.Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có
khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng
dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần nguồn thu nợ thứ hai bổ sung.
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 5/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
1.2.3 Căn cứ vào hình thái giá trị tín dụng
Cho vay bằng tiền: là loại hình cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng được
cấp bằng tiền.Đây là loại hình cho vay chủ yếu của các ngân hàng thương mại và
được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, tín dung thời
vụ, tín dụng trả góp…
Cho vay bằng tài sản: Đối với ngân hàng, cho vay bằng tài sản được áp dụng
rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào
một số giai đoạn nhất định của chu kì sản xuất kinh doanh.
Cho vay theo hạn mức: đây là nghiệp vụ tín dụng mà ngân hàng thỏa thuận
cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng.Hạn mức tín dụng được cấp dựa trên kế
hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong
kỳ khách hàng có thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín
dụng.Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kì, nghĩa là dư nợ trong
kỳ có thể lớn hơn hạn mức tín dụng, tuy nhiên đến cuối kỳ khách hàg phải trả nợ để
giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không vượt quá hạn mức.
Cho vay thấu chi: là nghiệp vụ cho vay mà ngân hàng cho phép người vay chi
trội hơn số dư tiền gửi thanh toán đến một giới hạn nhất định và trong một khoảng
thời gian xác định.Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.
1.2.7 Căn cứ vào mối quan hệ của các chủ thể
Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được biểu
hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.Cơ sở pháp lý xác định quan hệ nợ của
tín dụng thương mại là giấy nhận nợ.Đây là một dạng đặc biệt của khế ước dân sự
xác định quyền của người bán và nghĩa vụ thanh toán nợ của người mua khi món nợ
đáo hạn.
Tín dụng nhà nước: là tín dụng do Nhà Nước vay của dân dưới hình thức công
trái, tín phiếu kho bạc…để bù đắp thiếu hụt ngân sách hay lập quỹ để phát triển cơ sở
hạ tầng kinh tế.Đây có thể là công cụ chống suy thoái, thất nghiệp nếu được dùng
đúng mục đích.
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 7/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Tín dụng ngân hàng: là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ chức tín
dụng khác với doanh nghiệp và cá nhân.Trong nền kinh tế, ngân hàng đóng vai trò là
một tổ chức trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp và cá
nhân, ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay.Một mặt, ngân hàng nhận
tinề gửi của các doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái
phiếu để huy động vốn trong xã hội; mặt khác, ngân hàng cung cấp tín dụng cho các
các khoản vay tiêu dùng.
Những cá nhân có thu nhập trung bình, mức sống tương đối ổn định, nhu cầu
vay vốn của họ thường để giải trí hoặc mua sắm những vật dụng có giá trị lớn mà
hiện tại họ thiếu tiền để chi trả hoặc không muốn dùng đến hững khoản dư phòng.
Đối với những người có thu nhập cao, nhu cầu vay tiêu dùng lại rất lớn nhất là
khi vốn của họ đã dùng vào việc đầu tư dài hạn.
1.3.3 Phân loại tín dụng tiêu dùng
1.3.3.1 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
Cho vay tiêu dùng trả góp:
Là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó việc trả nợ vay được thực hiện nhiều
lần theo những kỳ hạn nhất định
Ngân hàng thường chỉ muốn tài trợ cho những khoản vay mua sắm các đồ
dùng có giá trị lớn và tính sử dụng lâu bền.Thông thường ngân hàng yêu cầu người đi
vay phải thanh toán trước một phần giá trị tài sản mua sắm, số còn lại ngân hàng sẽ
cho vay. Điều này một phần giúp ngân hàng hạn chế rủi ro, mặt khác tạo cho người
đi vay có trách nhiệm hơn với tài sản của mình định mua
Cho vay tiêu dùng phi trả góp:
Theo phương thức này, thì khách hàng phải thanh toán nợ vay một lần khi đến
hạn, áp dụng với các khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn ngắn.
Cho vay tiêu dùng tuần hoàn:
Áp dụng với đối tượng vay tiêu dùng mà đối tượng vay là đối tượng tổng hợp
( là đối tượng mà người vay không thể kê khai trong đơn xin vay được )
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 9/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Ngân hàng kí với khách hàng một hợp đồng tín dụng, trong đó ngân hàng cho
phép khách hàng được chi vượt một mức nào đó so với dư có trên tài khoản tiền gửi
của cá nhân đó, với một thời hạn nào đó.Người vay được quyền dùng dư nợ này vào
bất cứ mục đích nào. Việc rút tiền vay được thực hiện bằng nhiều cách như: rút tiền
mặt, chuyển khoản…nhưng phổ biến là việc rút bằng thẻ tín dụng.
1.3.3.2 Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
khách hàng nên hiểu rõ khách hàng
Có những thỏa thuận làm thỏa mãn quyền lợi của cả ngân hàng lẫn khách
hàng
Sự cho vay được quyết định bởi nhân viên tín dụng của ngân hàng chứ không
phải là những nhân viên của công ty bán lẻ như trong cho vay tiêu dùng gián tiếp.
1.3.4 Ý nghĩa của tín dụng tiêu dùng
Đối với người tiêu dùng
Tín dụng tiêu dùng góp phần giải quyết những nhu cầu cấp thiết trong cuộc
sống hàng ngày của người vay, đặc biệt là người lao động có thu nhập thấp và trung
bình.
Thông qua nguồn vốn vay ngân hàng, người tiêu dùng có thể nâng cao được
mức sống giúp họ tiếp cận nhanh chóng với các sản phẩm có trình độ khoa học kỹ
thuật cao
Đối với ngân hàng
Tín dụng tiêu dùng góp phần đa dạng hóa hoạt động cho vay của ngân hàng,
mở rộng quan hệ với khách hàng, và có nhiều cơ hội để bán thêm các sản phẩm
khác…giúp tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng với các tổ chức tín dụng
khác.
Các khoản vay tiêu dùng hầu hết là ngắn và trung hạn, phương thức thanh
toán là trả góp, khoản vay tương đối nhỏ phân tán trên số lượng lớn khách hàng nên
ngân hàng tránh được rủi ro, thu hồi vốn thường xuyên, nâng cao khả năng thanh
khoản.
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 11/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Đối với nền kinh tế
Tín dụng tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa và dịch
vụ trong nước, có tác dụng rất tốt trong việc kích cầu. Nhờ cho vay tiêu dùng, các
doanh nghiệp đã đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa tạo điều kiện thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
1.3.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới tín dụng tiêu dùng
NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN 5 – TP.HCM
2.1 Giới thiệu chung về ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam
Lịch sử hình thành và phát triển
Tháng 12/1986, Việt Nam tiến hành công cuộc dổi mới,chuyển từ cơ chế quản
lý tập trung bao cấp sang cơ chế nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần.Theo đó, các
thành phần kinh tế ,trong đó có kinh tế cá thể, hộ sản xuất, tiểu thủ, tư bản tư nhân…
đều được khuyến khích phát triển.Từ 1988, trên cả nước hộ nông dân được xác định
là đơn vị kinh tế tự chủ, sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: chuyển đổi, chuyển
nhượn, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Hệ thống ngân hàng cũng được đổi mới,
chuyển từ 1 cấp sang 2 cấp, ngân hàng Nhà Nước giữ vai trò ngân hàng Trung Ương
quản lý vĩ mô, các ngân hàng thương mại được hình thành và tách ra khỏi các “Cục
hoặc Vụ chức năng trực thuộc ngân hàng Nhà Nước” để trực tiếp kinh doanh tiền
tệ,tín dụng.Ngân hàng phát triển Nông Nghiệp Việt Nam (tiền thân của Agribank
ngày nay) ra đời trong bố cảnh đó.
Ngân hàng phát triển Nông Nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định
số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) về việc
thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có ngân hàng Phát Triển Nông
Nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp,nông thôn.
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Thủ Tướng Chính
Phủ) ký QĐ số 400/CT thành lập ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam thay thế ngân
hàng Phát Triển Nông Nghiệp Việt Nam.Ngân hàng Nông nghiệp là ngân hàng
thương mại đa năng,hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,là một
pháp nhân, hạch toán độc lập,tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
trước pháp luật.
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 14/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Ngày 01/03/1991 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 18/NH-
QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông Nghiệp tại Thành phố Hồ Chí
Minh và sau đó, ngày 24/6/1994 Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp thuận
của ngân hàng Nhà Nước Việt Nam.Với tên gọi mới,ngoài chức năng của một ngân
hàng thương mại,ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam được
xác định thêm nhiệm vụ đầu tư phát triển đối với khu vực nông thôn thông qua vốn
trung và dài hạn để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp,
thuỷ hải sản góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá
nông nghiệp nông thôn.
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam gọi tắt là ngân
hàng Nông Nghiệp, viết tắt là NHNo&PTNT hay còn gọi là Agribank.
Tên giao dịch Quốc tế:VIET NAM BANK FOR AGRICULTURE AND
RURAL DEVELOPMENT, viết tắt là VBARD.
Trụ sở chính :Số 2 Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội.
Tel:(04) 8313710
Văn phòng đại diện miền Nam: 7 Bis Bến Chương Dương, Quận 1, TP.HCM.
Tel: (08) 8210565
NHNo&PTNT Việt Nam là ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam cả về
vốn, tài sản, và đội ngũ công nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách
hàng.Hiện là ngân hàng giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng như đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế
Việt Nam.
Tháng 2 năm 1999 Chủ tích Quản trị ban hành Quyết định số 234/HĐQT-08
về quy định quản lý điều hành hoạt động kinh doanh ngoại hối trong hệ thống Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Tập trung thanh toán quốc tế về
Sở Giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam ( Sở giao
dịch được thành lập thay thế Sở giao dịch kinh doanh hối đoái, Sở giao dịch là đấu
mối vốn cả nội và ngoại tệ của toàn hệ thống) Sở Giao dịch II không làm đầu mối
thanh toán quốc tế. Tài khoản NOSTRO tập trung về Sở giao dịch. Tất cả các chi
nhánh đều nối mạng SWIFT trực tiếp với Sở giao dịch. Các chi nhánh tỉnh thành phố
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 16/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
đều được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đối ngoại.Năm 2000 cùng với việc mở
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
hình tài chính đã được lành mạnh hơn qua việc cơ cấu lại nợ và tăng vốn điều lệ, xử
lý trên 90% nợ tồn động. Mô hình tổ chức từng bước được hoàn thiện nhằm tăng
cường năng lực quản trị điều hành. Bộ máy lãnh đạo từ trung ương đến chi nhánh
được củng cố, hoàn thiện, quyền tự chủ trong kinh doanh được mở rộng hơn.
Đến cuối năm 2005, vốn tự có của NHNo&PTNT Việt Nam đạt 7.702tỷ
VND, tổng tài sản có trên 190 ngàn tỷ , hơn 2000 chi nhánh trên toàn quốc và 29.492
cán bộ nhân viên (chiếm 40% tổng số cán bộ công nhân viên toàn hệ thống ngân hàng
Việt Nam), ứng dụng công nghệ hiện đại, cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngân
hàng hoàn hảo…
Từ năm 2006 bằng những giải pháp mang tính đột phá và cách làm mới
NHNo&PTNT Việt Nam (Agribank) thực sự khởi sắc. Đến cuối năm 2007, tổng tài
sản đạt 325.802 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần 220 lần so với ngày đầu
thành lập. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.102 tỷ đồng trong đó cho vay
nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70% với trên 10 triệu hộ gia đình, cho vay doanh
nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 36% với gần 3 vạn doanh nghiệp dư nợ. Tổng nguồn
vốn 295.048 tỷ đồng và gần như hoàn toàn là vốn huy động
Vị thế dẫn đầu của NHNo&PTNT Việt Nam luôn được khẳng định trên nhiều
phương diện.Ngoài hệ thống chi nhánh hùng mạnh, NHNo&PTNT còn có hai ngân
hàng chuyên doanh là ngân hàng Phát Triển Nông Thôn Đồng Bằng Sông Cửu Long
và ngân hàng Lương Thực TP.HCM.Ngoài ra, NHNo&PTNT Việt Nam còn đã đề
xuất thành lập, thực hiện và bảo trợ Ngân hàng phục vụ người nghèo trên cơ sở kết
hợp những kết quả tốt đẹp của quỹ cho vay ưu đãi người nghèo – tiền thân của Ngân
hàng chính sách xã hội.Đây là niềm tự hào to lớn của Agribank trong sự nghiệp phát
triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.
NHNo&PTNT là ngân hàng luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công
nghệ mới phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mang lưới
dịch vụ ngân hàng tiên tiến; là ngân hàng đầu tiên hoàn thành giai đoạn 1 dự án hiện
đại hóa hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do ngân hàng thế giới tài
trợ và đang tích cực triển khai giai đoạn 2 của dự án này.Hiện Agribank đã vi tính
hóa các công ty trực thuộc, tiến tới cổ phần hóa NHNo&PTNT Việt Nam theo định
hướng và lộ trình thích hợp, đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết triệt để vấn đề
nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 19/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
thông tin, đa dạng hóa sản phẩm , nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân
lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương
hiệu- văn hóa Agribank.
2.2 Vài nét về NHNo&PTNT Việt nam chi nhánh Quận
5 – TPHCM
2.2.1 Hoàn cảnh ra đời
Quận 5 là một trung tâm thương mại – dịch vụ lớn của TP.HCM, là nơi có
hàng ngàn hộ kinh doanh, chủng loại hàng hoá đa dạng và phong phú.Bên cạnh các
phố chuyên kinh doanh các ngành nghề truyền thống như phố lồng đèn, làm đầu lân,
phố đông y…thì còn xuất hiện các phố kinh tế mới với tốc độ phát triển cao, điển
hình là phố tài chính ngân hàng ra đời từ năm 2000, với hơn 55 chi nhánh của các
ngân hàng tập trung ở những tuyến đường chính của quận.Ngoài ra, ở quận 5 còn
xuất hiện những khu vực, trung tâm chuyên doanh nổi tiếng như khu giải trí Đại thế
giới (Trung tâm văn hoá thể thao hiện nay), các khách sạn nhà hàng lớn dọc tuyến
đường Trần Hưng Đạo, khu phố thuốc bắc Hải Thượng Lãng Ông, khu kinh doanh
gia dụng quanh bưu điện Chợ Lớn, phố ăn uống Nguyễn Tri Phương…Nhận thấy đây
là một địa bàn hết sức quan trọng, có tiềm năng lớn cho hoạt động kinh doanh của
ngân hàng,năm 2004 NHNo&PTNT Chợ Lớn đã đề nghị thành lập thêm chi nhánh
cấp II – NHNo&PTNT quận 5, nhằm khai thác hết tiềm năng của địa bàn, tăng cường
khả năng tiếp cận khách hàng và khả năng cạnh tranh với ngân hàng khác.
NHNo&PTNT Chợ Lớn trước kia là NHNo&PTNT Phú Giáo được thành lập
ngày 27/02/1996 theo quyết định số 113/QĐ-NHNo của Tổng Giám đốc
NHNo&PTNT Việt Nam, có trụ sở đặt tại 24 Phú Giáo, phường 14, quận 5,
Tp.HCM. Sau đó theo quyết định số 42/QĐ-HĐQT-TCCB của Chủ Tịch Hội Đồng
Quản Trị NHNo&PTNT Việt Nam về việc đổi tên chi nhánh NHNo&PTNT Phú
doanh nghiệp vừa thực hiện kiểm soát các hoạt động ấy nhằm ngăn chặn các hiện
tượng tiêu cực, lãng phí, vi phạm pháp luật…trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ:
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 21/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
NHNo&PTNT Quận 5 là đơn vị phụ thuộc NHNo&PTNT Việt Nam hạch
toán kinh tế nội bộ, có bảng cân đối riêng để theo dõi thu chi và xác định kết quả kinh
doanh, qua đó có trách nhiệm :
• Tự quản lý về cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý và chế biến
• Tự chủ về tài chính, tự hạch toán lãi lỗ
• Thực hiện chế dộ báo cáo thống kê tổng hợp hoặc chi tiết định kì và đột
xuất theo đúng quy định của ngân hàng Nhà Nước và của NHNo&PTNT Việt Nam.
• Thẩm định và trình lên hội đồng thẩm định về các hồ sơ: cho vay hoặc
không cho vay, đồng thời xem xét và đề xuất với ngân hàng cấp trên việc cho vay của
chi nhánh đối với các tổ chức tín dụng hoạt động trong cùg một địa bàn.
• Tổ chức thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ theo pháp lệnh ngân
hàng, các qui định của ngân hàng Nhà Nước theo phạm vi phân cấp, ủy quyền của
Tổng Giám Đốc NHNo&PTNT Việt Nam.
2.2.3 Cơ cấu tổ chức các phòng ban
Cơ cấu tổ chức hiện tại của chi nhánh chư sau:
Ban lãnh đạo gồm: 1 Giám Đốc và 1 Phó Giám Đốc
Các phòng ban gồm:
• Phòng tín dụng (phòng kế hoạch kinh doanh)
• Phòng kế toán
• Phòng hành chính
• Phòng kế toán – ngân quỹ
Sơ đồ tổ chức:
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 22/64
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Các phòng
giao dịch
Phòng Tín
dụng
Phòng Thanh
toán quốc tế
Phòng
Marketing
Phòng Kế
hoạch
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. Nguyễn Hoàng Dũng
Tổ chức hạch toán kinh tế, phân phối tiền lương, thưởng và phúc lợi đến
người lao động theo kết quả kinh doanh phù hợp với chế độ và quy định của
NHNo&PTNT Việt Nam.
Đại diện Tổng Giám Đốc NHNo&PTNT Việt Nam khởi kiện, công chứng,
giải quyết tranh chấp, tham gia tố tụng, thi hành án trước cơ quan pháp luật có liên
quan đến hoạt động kinh doanh của chi nhánh do mình trực tiếp phụ trách.
Chấp hành chế độ giao ban thường xuyên tại chi nhánh và trên địa bàn hoạt
động, báo cáo định kì, đột xuất các hoạt động của chi nhánh lên cấp trên theo quy
định.Ngoài ra, còn phân công phân công Phó Giám Đốc đi dự các cuộc họp trong và
ngoài ngành có liên quan trực tiếp đến hoạt động của chi nhánh; và khi Giám Đốc đi
vắng trên một ngày nhất thiết phải uỷ quyền bằng văn bản cho một phó giám đốc chỉ
đạo, điều hành công việc chung.
Các Phó Giám đốc:
Được thay mặt Giám Đốc điều hành một số công việc khi Giám Đốc vắng mặt
(theo văn bản ủy quyền của Giám Đốc) và báo cáo lại kết quả công việc khi Giám
Đốc có mặt tại đơn vị.
Giúp Giám Đốc chỉ đạo, điều hành một số nghiệp vụ do Giám Đốc phân công
phụ trách và chịu trách nhiệm trước Giám Đốc về các quyết định của mình.
Bàn bạc và tham gia ý kiến với Giám Đốc trong việc thực hiệm các nghiệp vụ
Quản lý các tài khoản của chi nhánh của ngân hàng Nhà Nước và tại các tổ
chức tín dụng khác
Hạch tóan và theo dõi thu chi nội bộ, tài sản cố định, vốn bằng tiền, kiểm tra
và giám sát việc thu chi đúng nguyên tắc của ngân hàng
Nắm tình hình nguồn vốn, sử dụng vốn, dự kiến biến động trong tháng, quý;
đồng thời xây dựng cân đối vốn và việc sử dụng trong tháng, quý.
Thực hiện nghiệp vụ liên ngân hàng và lập báo cáo thông kê kế toán theo quy
định.
SVTH: Trần Trọng Thắng Trang 25/64