Một số giải pháp quản lý nhằm đẩy mạnh công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM Vũ Đình Triển MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM ĐẨY MẠNH
CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

sinh phổ thông 20
6. Hướng nghiệp cho học sinh là bước khởi đầu quan
trọng để phát triển nguồn nhân lực 24
7. Quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỂ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO
HỌC SINH PHỔ THÔNG TỈNH BẤC NINH
1. Thực trạng về công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông trong cả nước trong những năm qua 33
2. Một số nét về tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục của
tỉnh Bắc Ninh. 37
2
3. Những tồn tại trong việc quản lý tổ chức thực hiện
hướng nghiệp cho học sinh THPT ở tỉnh Bắc Ninh
ưong những Hãm qua và nguyên nhân.
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ G IẢ I PHÁP QUẢN LÝ NHẢM ĐAY m ạ n h
CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT
TỈNH BẤC NINH
1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận
thức về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng cùa hướng
nghiệp đối với học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh, làm tốt
công tác XHH giáo dục
2. Giải pháp về đội ngũ giáo viên làm nhiệm vụ hướng
nghiệp.
3. Những giải pháp về cơ sở vật chất cho hoạt động
hướng nghiệp.
4. Đổi mới về quản lý, tổ chức hoạt động hướng nghiệp
cho học sinh THPT.
5. Thành lập ban tư vấn nghé nghiệp cho học sinh
6. Mối quan hệ giữa các giải pháp để đẩy mạnh công tác
hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

em đều đăng ký thi vào Đại học và Cao đẳng và nếu thi ưượt năm đầu, các em
thường ôn tiếp để năm sau lại thi. Chỉ có số ít em chọn nghề lao động phổ
thông và công nhân kỹ thuật. Đó là do số đông các em cùng phụ huynh chưa
hoặc không am hiểu về cơ cấu phát triển kinh tế và phẩn nào do công tác
hướng nghiệp chưa được làm tốt. Điểu đó tạo nên sự bất hợp lý giữa đào tạo
đội ngũ lao động và nhu cầu xã hội.
V ì vậy hướng nghiệp vói chức năng điều chỉnh động cơ chọn nghề cho
học sinh nhằm tạo ra một đội ngũ nhân lực đồng bộ về ngành nghề, cân đối
vẻ cơ cấu để phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kỉnh tế của đất nước.
Nhận rõ tầm quan trọng của vấn đề trên, ngày 19/3/1981 Hội đổng
chính phủ đã ra quyết định 126/CP về “ công tác hướng nghiệp trong nhà
trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh THPT sau khi tốt nghiệp ra
trirờng,'
6
Ngay sau đó, ngày 17/11/1981 Bộ Giáo dục đã ra thông tư số 31/TT
hướng dăn các cơ quan, trường học thực hiện quyết định này.
Tiếp theo, ngày 27/4/1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành thông tư số
48/BT quy định rõ nhiệm vụ của các cấp, ngành và Bộ Giáo dục trong việc
thực hiện quyết định 126/CP.
Kể từ đó công tác hướng nghiệp đã chính thức trở thành một nội dung
giáo dục trong nhà trường phổ thông ở nước ta với những nội dung, mục tiêu
cụ thể. Cho đến nay hoạt động hướng nghiộp đã được tổ chức ở hầu hết các
trường THPT trong cả nước. Mặc dù vậy, với nhiểu lý do khác nhau mà chất
lượng và hiệu quả của công tác hướng nghiệp còn thấp. Công tác hướng
nghiệp hđu như chỉ dừng lại ở việc dậy cho học sinh một số nghề đơn giản như
nghề mộc, điện dân đụng, nghề may, nghề thêu V V. Còn thực chất việc hướng
nghiệp chưa được thể hiện rõ, chưa làm hết chức năng, nhiệm vụ của mình
*}
ơ tỉnh Bắc Ninh, một tỉnh có gần 1 triệu dân, và hàng năm có khoảng
13 000 học sinh tốt nghiệp THPT, một tỉnh trong những năm tới được Nhà

tổ chức chính trị và xã hội V V cũng có nhiệm vụ hướng nghiệp. Trong trường
phổ thông hướng nghiệp được thực hiện từ bộc Tiểu học đến bậc Trung học.
Nhưng tuỳ theo nhu cầu và điều kiện cơ sở vật chất và đặc điểm tâm sinh lý
của người học mà nội dung hướng nghiệp khác nhau.
Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu một số giải pháp quản lý nhằm
đẩy mạnh hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THPT tỉnh Bắc Ninh.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cú u .
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu

ý

uậiL
- Phân tích.
- So sánh.
- Tổng hợp.
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Điều tra thực tế hướng nghiệp.
- Quan sát sư phạm.
- Tổng kết rút kinh nghiệm.
- Lấy ý kiến về mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất.
CHƯƠNG 1: Cơ SỎ LÝ LUẬN VÀ THựC TIÊN CỦA GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG
1. KHÁI NIỆM HƯỚNG NGHIỆP
Trong cuộc đời mỗi người, việc lựa chọn cho mình một nghề nghiêp vừa
phù hợp vói khả năng, nguyện vọng của bản thân và vừa đáp ứng được nhu
cầu của xã hội không phải đơn giản. Hầu hết đến tuổi thanh niên, mỗi người
đều có suy nghĩ về tương lai, về việc chọn nghề. Ước nguyện thật nhiều và thế
giới nghề nghiệp cũng vô cùng phong phú. Trên thế giới có khoảng 65 000
nghề song khả năng của mỗi người có hạn. Vậy mình sẽ chọn nghề gì ? Có rất
ít người ở độ tuổi thành niên trả lời chính xác được câu hỏi này. Đó là những

chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội và nguyện vọng, sở trường của từng
cá nhân.
Tuy nhiên, đến những năm cuối của thế kỷ 20, khi mà cuộc cách mạng
khoa học công nghệ, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin
phát triển như vũ bão làm cho các ngành nghề thay đổi liên tục thì công tác
hướng nghiệp không chỉ diễn ra ở nhà trường phổ thông trong khâu chọn nghề
mà còn kéo dài ở các trường chuyên nghiệp, Đại học và các cơ sở sản xuất
kinh doanh cho học sinh, sinh viên của trường và cho những người mới ra
trường về lì\m tại các cơ sở, vì thế trong hơn hai mươi năm gđn đây, một số
nhà khoa học cho rằng: “ Nếu coi con người là trọng tâm của mọi hoạt động
giáo dục- học tập và sản xuất thì phải xem xét lại các công tác hướng nghiệp
dưới góc độ mới, đó là hướng nghiệp cần được tiến hành trong cả quá trình
phát triển nghề nghiệp của con người, ở tất cả các giai đoạn của nó có tính
đến những ảnh hưởng của tiến bộ khoa học công nghệ
,,
[1]
Hội nghị lẩn thứ IX của những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề
nghiệp của các nước XHCN họp tại LA H A B A N A thủ đô của Cu Ba, vào
tháng 10 năm 1980 đã thống nhất về khái niệm hướng nghiệp như sau :
“ Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh
lý h ọ c ,y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp
với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với
những năng lực, sở Irường và diều kiện tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích
- 10-
phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng dự trữ cổ sẵn của đất
nước” [9,tr 54]
Đây là một khái niộm hoàn chỉnh nhất vì nó bao gồm cả nội dung, cấu
trúc, đặc trưng cơ bản, phương pháp tiến hành và mục đích hướng nghiệp.
2. Cơ SỞ KHOA HỌC CỦA HƯỚNG NGHIỆP
Theo các nhà khoa học, con người chỉ có thể sáng tạo trong công việc

Thợ rèn, thợ nguội, thợ
điện,thợ xây, thợ may, lái xe,
thợ cơ khí
Người -
Người
Con người, nhóm người,tập thể
Giáo viên, bác sĩ, bán hàng,
ytá, nhà giáo đục, sĩ quan
quân đội
Người -
Dấu hiệu.
Những dấu hiệu, con số, mâ số,
công thức, ngôn ngữ
Thủ quỹ, kế toán, đánh máy,thợ
xếp chữ in, nhà kinh tế V V
I
Người -
Các hình ảnh nghệ thuật, các bộ
Nhạc, hoạ, điêu khắc, thêu,
Nghệ thuật
phận và các thuộc tính của
sơn mài, nhạc sĩ, nhà văn, nhà
chúng.
th ơ
Bảng 1.1 : phân lo ạ i n g h ề th eo m ối quan h ệ N g ư ời- Đ ối tượng lao động.
Tâm lý học hướng nghiệp coi nhân cách bao gồm bốn cấu trúc nhỏ sau:
- Xu hướng: Gồm những thuộc tính, những phẩm chất như hứng thú,
Khuynh hướng, nguyên vọng, lý tưởng, niềm tin thế giới quan, chúng đóng vai
trò là động cơ thúc đẩy con người vươn tới mục đích đã định. Khi tiến hành
hướng nghiộp, cần hết sức coi trọng giáo dục xu hướng nghề nghiệp cho học

thể hiện sự phù hợp đồng bộ những đặc điểm trong cả bốn cấu trúc nhân cách
trên với những yêu cầu của một nghề nào đó. Song công tác hướng nghiệp
không phải chỉ dựa vào một sự phù hợp ngẫu nhiên, mà điều quan trọng hơn
là tạo ra sự phù hợp nghề. N ói khác đi, công tác hướng nghiệp phải giành lấy
quyền chủ động trong việc điều chỉnh sự chọn nghề của học sinh, tạo ra sự
phù hợp nghề trên cơ sở giáo dục và dạy học, mở ra khả năng sử dụng hợp lý
nguồn lao động cùa đất nước.
Theo quan điểm điều khiển học, bản chất của công tác hướng nghiệp là
một hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của thanh thiếu niên, học
sinh. Hộ thống này bao gồm:
+ Đò'i tượng điều khiển: Các động cơ và định hướng vị trí nghề nghiệp tương
lai của học sinh .
+ Chù thé điều khiển: Nhà trường, gia đình, các trung tâm KTTH-HN, các
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các nhóm không chính thức của học
sinh.
+ Các phương tiện và phương pháp điều khiển : Công tác hướng nghiệp trong
nhà trường, sự giáo dục định hướng của gia đình, thông tin nghề nghiệp của cơ
quan chuyên môn, tác động của các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận
nhóm và dư luận xã hội, hoạt động tư vấn nghề nghiệp của các trung tâm tư
vấn nghề nghiệp.
+ Kết quả điều khiển: Sự sẩn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp của
học sinh. Học sinh có khả năng chọn nghề phù hợp với đòi hỏi của nghề, đúng
với khả năng nguyện vọng bản thân và hợp với yêu cầu xã hội.
Ngoài ra, tham gia vào hộ thống này còn có các kênh thông tin và liên
hệ ngược về thị trường lao động, nhu cầu nhân lực của nền kinh tế quốc dân
cũng như thông tin về hiệu quả của những tác động hướng nghiệp.
Sơ đồ hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề có thể được mô hình hoá
như sau:
+ c


THÔNG :
Dưới góc độ giáo dục phổ thông, hướng nghiệp là sự ìác động của một
tổ hợp các lực lượng xã hội vào thế hệ trẻ, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư
phạm làm trung tâm, giúp cho các em quen biết với một số ngành nghề phổ
biến để khi tốt nghiệp ra trường có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức
nghề nghiệp cho tương lai.
Theo quan điểm mới, nội dung của công tác hướng nghiệp gồm 4 vấn đề
- Làm cho học sinh có được những hiểu biết vé thế giới nghề nghiệp và
nội dung hoạt động của một số nghề và những yêu cầu của nghề đối với người
lao động.
- Nghiên cứu những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh
- Giúp các em lựa chọn nghề
- Giúp các em nắm vững nghề và hình thành khả năng thích ứng nghề.
Nội dung trôn được phản ánh qua tam giác hướng nghiệp :
văn hoá
GIÁO DỤC VÀ TUYÊN
CÁC YÊU CẦU
CỦA NGHỀ
THỊ TRƯỜNG
LAO ĐỘNG
ĐẶC ĐIỂM
NHÂN CÁCH
(Sơ đồ ỉ. 2 ) T iìin g iá c hư ớn g n ghiệp
- 15-
Theo sơ đồ này,
- Giáo dục và tuyên truyền nghề thực chất là giúp cho học sinh làm quen với
các ngành nghề của nền kinh tế Quốc dân và các nghề phổ biến. Nội đung của
của giáo dục và tuyên truyền nghề bao gồm:
+ Thông tin về thế giới nghề nghiệp theo phân loại nghề (Người- Người,
Người-Tự nhiên, Người- Kỹ thuật )

này phải biết điều tra, đánh giá về nhân cách, trí tuệ và hệ tâm lý vận động của
lứa tuổi học sinh. Loại tư vấn này đòi hỏi phải có cả những trang thiết bị kỹ
thuật phù hợp.
- Tuyển chọn nghề: Đây là bước cuối cùng của quá trình thực hiện hướng
nghiệp cho học sinh nhằm giúp các em lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp
nhất trên cơ sở :
+ Những hiểu biết vể đặc điểm nhân cách và tâm sinh lý của bản thân. Các
em cần nhạn thức rõ mình là ai, mình có những điểm mạnh, điểm yếu nào về
năng lực, nhân cách V V.
+ Những hiểu biết về thế giới nghề nghiệp và những yêu cíiu đòi hỏi của
nghề đối với người lao động.
+ Những hiểu biết về thị trường lao động trong nước và địa phương cùng
nhu cáu nhân lực của xã hội.
Như vậy, trước hết cần giáo dục và tuyên truyền nghề cho các em. Thông
tin cập nhạp và chính xác được cung cấp đến các em không chỉ qua lớp học
mà còn qua mạng, qua các cơ quan truyền thông đại chúng, các hoạt động
ngoại khoá như câu lạc bộ, thực nghiệm, thăm quan V V. Nguồn thông tin gồm
các nội dung như tình hình thị trường lao động, yêu cầu của nghề, nhân lực,
xu thế và sự phát triển của từng nghề nghiệp V V.
Từ việc cung cấp thông tin chính xác và cập nhật về sự phân cồng lao động
nghề nghiệp làm cơ sở cho việc áp dụng các phương pháp tư vấn tâm lý giúp
cho mỗi cá nhân lự đánh giá, phân tích, đối chiếu những đặc điểm cá nhân so
với yêu cáu của nghề nghiệp, tự ý thức, đánh giá trong việc lựa chọn, tự điều
chỉnh, tự thích ứng, đạt tới sự ổn định với sự phát triển hài hoà trong các quan
hệ lao động, quan hệ xã hội.
- 17-
Nội dung công tác hướng nghiệp cho học sinh THPT theo chương trình thí
điểm của tài liệu hoạt động hướng nghiệp đã được Bộ Giáo đục- Đào tạo ban
hành năm 2002 cho lớp 10 bao gồm các chủ đề sau đây:
THÁN

và lao động.
- Biết được điều kiện và truyền
thống gia đình trong việc
quyết định chọn nghề tương
ỉai.
- Thảo luận nhóm về mối
tương quan giữa năng lực học
tập và lao động với nghề
nghiệp.
- Trắc nghiệm về năng lực
chung.
i l Tỉm h iểu
ng hề h ọ c
- Hiểu được đặc điểm , yêu câù
của nghề dậy học.
- Có ý thức tôn trọng nghề dậy
học.
Nghe giới thiệu về nghề dậy
học.
- Viết đề tài về nghề dậy học
(những hiểu biết vé nghề, kỷ
niệm sâu sắc về Thầy, Cô
giáo)
12
G iới
tín h

v ớ i ng h ề

ng hiệp

2 Tìm h iể u
m ộ t s ố
n ghê
thuôc

ngành Y,
Dược
- Hiểu được những đặc điểm,
yêu cầu của nghề Y-Dược.
- Liên hệ với bản thân để có ý
thức phấn đấu trong học tập và
tu dưỡng.
- Thảo luân vẻ đặc điểm, yêu
cầu của nghề Y-Dược.
- Xác định những điểm
mạnh, yếu của bản thân và
liên hệ với những yêu cầu
của nghề.
3 Tham
quan m ộ t
đơn vị sản
xu ấ t cô ng
hoặc nô ng
nghiệp.
- Thấy được điều kiện làm
việc, môi trường của nghề:
- Mồ tả được: Điều kiện làm
việc, sản phẩm lao động, yêu
cầu nghề.
- Trao đổi với những người

nghiệp tương ỉai và những cố
gắng để thực hiện ước mơ đó.
Qua nội dung chương trình trên ỉa thấy nó giúp học sinh nắm được những
thông tin về tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, khu vực, địa
phương, về thị trường lao động, về thế giới nghề nghiệp và hệ thống đào tạo.
Đồng thời nó cũng giúp học sinh tự đánh gỉá bản thân và lựa chọn nghề một
cách có ý thức, trên cơ sở có sự phù hợp giữa nguyện vọng, khả năng của bản
thân, hoàn cảnh gia đình và yêu cầu phát triển nhân lực của địa phương, của
đất nước.
5. NHŨNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
PHỔ THÔNG
Quá trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông chịu rất nhiều
ảnh hưởng của các yếu tố như điểu kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội.
5.1. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước: Đảng và Nhà nước ngày
càng quan tAm hơn đến sự nghiệp Giáo dục- Đào tạo và công tác hướng
nghiệp. Trong thời kỳ đổi mới nền kinh tế phát triển đất nước hiện nay, Giáo
dục được coi là “ Quốc sách hàng đầu” Bên cạnh đó công tác hướng nghiệp
cũng đã giành được sự chú ý đặc biệt. Những cuộc hội thảo cấp Quốc gia đã
được tổ chức để bàn về công tác hướng nghiệp (Cơ sở khoa học của hướng
nghiệp, những vấn đề lý luận và thực tiễn của hướng nghiệp và những giải
pháp cho hướng nghiệp) nhằm làm tốt công tác hướng nghiệp, góp plìđn chuẩn
bị nguồn nhân lực để đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển của đất
nước trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao tầm quan trọng của giáo dục phổ
thông và Giáo dục-Hướng nghiệp trong sự nghiệp đó. Phirơng chAm “ Học đi
đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn lién với
xã hội, coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh THPT chuẩn
bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp, phù hợp với sự chuyển
dịch kinh tế trong cả nước và từng địa phương xây dựng quy hoạch đào tạo
nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua mạng” đã

5.3. Cơ chế thị trường:
Trong cơ chế thị trường với đặc tính cạnh tranh về mọi mặt mà trong
đó có sự chênh lệch về chế độ đãi ngộ giữa một số ngành nghề đã gây ảnh
hưởng đên thái độ, động cơ chọn nghề của học sinh là muốn tìm nghề có thu
nhập cao.
5.4. Quan điểm của nhân dân về nghề nghiệp: Đó là quan điểm của
những con người sống trong một nước đã nhiều năm bị chế độ Phong kiến
cai trị nõn quan đicm về ngliẻ nghiệp còn nhiều hạn chế. Coi trọng ciịa vị,
bằng cấp. Mặc dù chúng ta đang sống trong chế độ XHCN với tính nhan văn
cao, song còn không ít những tàn dư của chế độ Phong kiến nửa thuộc điạ
nôn trong nếp nghĩ của mọi người văn còn giữ những quan niệm cổ hủ, lạc
hậu, về nghề nghiệp. Họ vẫn cho là có nghề sang, hèn, nghề giẩu có, nghề
nghèo khó Ví dụ có thời nghề Y, nghề Dược đã từng được coi là có giá
“ nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách khoa ” Còn giới nghệ sĩ thì lại bị coi là
<4Xướng ca vô loài” Tuy rằng trong vài năm qua, mọi người cũng đã có
một chút ít thay đổi về cách nhìn nghề nghiệp, một số nghề đã được đổi
ngôi như ca s ĩ, nghề sư phạm, nghề người mẫu vv. Song điểu đó không có
nghĩa ỉà tất cả các nghề đều được nhìn nhận một cách đúng mức. Do chiụ
ảnh hưởng của gia đình, các em thường vẫn chọn nghề theo mìmh là sang, là
giàu như cái nhìn nhận cũ mà không quan tam đến sở thích, nguyện vọng,
khả năng của bản thân cũng như nhu cầu của xã hội.
Còn nữa, đó là vấn đề bằng cấp. Có nhiều ý kiến cho rằng bây giờ là thời
đại của bằng cấp. Người ta đánh giá một con người dựa trên những tấm bằng
mà anh ta có. Người có bằng đại học thì hơn bằng cao đẳng, trung học, người
có bằng tiến sĩ thì hơn người có bằng thạc sĩ, đại học và trong tham tâm người
ta không tôn trọng đúng mức những người lao động như công nhân, nông
dân mặc dù những con người này đã trực tiếị3 sản xuất ra của cải vật chất cho
xã hội. Bản thân những người đang lao động thì nhiều khi vẫn còn tự ty, thiếu
tự tin vào công việc mình đang làm, nên nhiều khi không phát huy được hết
khả năng của mình.

nêu trôn bằng sự nỗ lực của các ngành, các cấp và của toàn xã hội để có thể
thực hiên nhiệm vụ của mình là phân luồng học sinh phổ thông tạo bước khởi
đầu quan trọng để phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.
6. HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH LÀ BƯỚC KHỞI ĐẦU QUAN TRỌNG ĐỂ
PH

T TRIỂN NGUỔN NHÂN Lực .
Sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong những năm đầu của thiên niên
kỷ mới đã và đang đòi hỏi các trường phổ thông phải không ngừng nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện, đồng thời phải tăng cường giáo dục hướng
nghiệp để thế hệ trẻ có thể biết cách định hướng cho mình về nghề nghiệp
trong tương lai sao cho phù hợp với khả năng nguyện vọng của cá nhân và yêu
cầu khách quan của xã hội bởi vì giáo dục phổ thông và hướng nghiệp chính
là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực, là động lực của sự phát triển kinh tế
xã hội, làm cho đất nước giàu mạnh, mang lại cuộc sống ấm no hạnh phúc
cho mọi người. Do vậy trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ IX Đảng ta đã
nhấn mạnh phải ‘Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội, coi trọng công tác
hướng nghiệp và phân luồng cho học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên,
thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp, phù hợp với sự chuyển hoá cơ cấu
kinh tế trong cả nước và từng địa phương” . [1,tr 109]
Hiện nay vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh nhìn chung đã được
các cấp quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh và một số tổ chức đoàn thể xã
hội quan tâm đến. Vấn đê hoạt động hướng nghiệp được thực hiện qua hoạt
động dạy học các môn văn hoá khoa học cơ bản, qua các môn kỹ thuật, sinh
hoạt hướng nghiệp, thông qua hoạt động ngoại khoá và các phương tiện thông
tin đại chúng.
6.1. Mục tiêu của công tác hướng nghiệp.
Công tác hướng nghiệp cơ bản nhằm đạt được hai mục tiôu.
- Mục tiêu thứ nhất :

triển bén vững theo định hướng XHCN .
6.2. Thực trạng đội ngũ nhân lực ở Việt Nam hiện nay.
• •
ơ • C 9 • • • V
Theo tổng cục thống kê Việt Nam: Nguồn nhan lực gồm những người
đủ 15 tuổi trử lèn có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả
nănặ lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia
-25-
đình không có nhu cầu làm việc và những người thuộc các tình trạng khác như
nghỉ hưu trước tuổi. [8,tr 5]
Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực và việc sử dụng nguồn nhân lực
như thế nào có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Do
đó, nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực để tác động tích cực vào nó là vấn
đề quan trọng trong công tác hướng nghiệp.
Theo tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 nước ta có trên 4,1 triệu người
lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trong đó có 2,5 ngàn tiến sĩ khoa
học; 8,8 ngàn tiến sĩ chuyên ngành; 17,2 ngàn thạc sĩ; 936 ngàn người có
trình độ Đại học; 379,2 ngàn người có trình độ Cao đẳng; 1526,2 ngàn người
có trình độ Trung học chuyên nghiệp; 1239,8 ngàn người có trình độ công
nhân kỹ thuật, nhân viên kỹ thuật, có bằng, chứng chỉ. Chiếm 8,1 % tổng
người lao động từ 15 tuổi trở lên [9,tr 153]
Phổn lớn lực lượng lao động của ta chưa qua đào tạo nghề vă tỷ lệ này
lại được phân chia không đồng đều theo khu vực nông thôn và thành thị, khu
vực lao động truyền thống và khu vực công nghiệp.
Hiện nay đại bộ phận thanh, thiếu niên sau khi rời ghế nhà trường để đi
vào thị trường lao động mới chỉ được trang bị các tri thức văn hoá phục vụ cho
việc học tập lên các bậc tiếp theo chứ hầu như chưa có kiến thức cũng như kỹ
năng nghề nghiệp ở trinh độ tối thiểu .
Hàng năm nước ta có khoảng 1,6 triệu thanh niên ở độ tuổi 16-17 sẩn
sàng tham gia lao động, lực lượng lao động này có khoảng 60% là không được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status