1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐINH THỊ HỒNG HẠNH BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TOÁN
TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN HOÀ, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Hữu Châu HÀ NỘI – 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu:
2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
2
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
2
5. Giả thuyết khoa học:
2
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TOÁN,
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC MÔN TOÁN TẠI TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ YÊN HOÀ, HÀ NỘI
2.1. Khái quát về trường THCS Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội
40
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
40
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trường
41
2.1.3. Cơ sở vật chất của trường:
41
2.1.4. Hoạt động dạy và nghiên cứu của giáo viên và hoạt động học
của học sinh trong những năm gần đây
42
2.2. Thực trạng hoạt động dạy - học môn Toán tại Trường trung học cơ
sở Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội
45
2.2.1. Thực trạng về hoạt động giảng dạy của giáo viên
46
2.2.2. Thực trạng hoạt động học của học sinh
55
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy – học môn Toán tại Trường
THCS Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
61
2.3.1. Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên
62
2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh
72
2.3.3. Thực trạng quản lý việc sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị,
phương tiện dạy học
phương tiện dạy học.
102
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp
104
3.4. Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
105
3.4.1. Mục đích khảo nghiệm
105
3.4.2. Đối tượng khảo nghiệm
105
3.4.3.Nội dung và kết quả khảo nghiệm
106
Tiểu kết chương 3
110
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
111
1. Kết luận
111
2. Khuyến nghị
112
TÀI LIỆU THAM KHẢO
115
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGK
Sách giáo khoa
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục được hiểu là một hiện tượng xã hội mà bản chất là sự tiếp nối
kinh nghiệm xã hội, lịch sử qua các thế hệ. Quá trình giáo dục được tổ chức,
thực hiện một cách có ý thức theo chuẩn mực của xã hội. Giáo dục có mục
tiêu, nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức xác định. Mục tiêu cuối
cùng của giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách người được giáo dục
mà chủ yếu là học sinh.
Giáo dục là cách thức cơ bản để con người và xã hội loài người phát
triển. Ngày nay giáo dục được coi là nhân tố quyết định tốc độ phát triển kinh
tế xã hội. Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Giáo
dục là quốc sách hàng đầu”, là con đường cơ bản để công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Giáo dục trung học cơ sở là bước chuyển tiếp giữa giáo dục tiểu học và
4.1. Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động dạy - học môn Toán của trường THCS Yên Hoà – Hà Nội
4.2. Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý hoạt động dạy - học môn Toán của trường THCS Yên Hoà –
Hà Nội
5. Giả thuyết khoa học:
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý phù hợp và khả thi để quản lý
hoạt động dạy - học môn Toán của trường THCS Yên Hoà thì chất lượng dạy
- học môn Toán của nhà trường sẽ được nâng cao.
6. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Toán tại
trường THCS Yên Hoà – Hà Nội.
5
7. Phương pháp nghiên cứu:
- Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Bao gồm các phương pháp
phân tích, tổng hợp, hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan tới đề tài
nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều tra
bằng phiếu hỏi, phỏng vấn đối với học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý; hỏi ý
kiến các chuyên gia; phương pháp quan sát, tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý những số liệu thu được từ
khảo sát thực tế
8. Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Tổng thuật một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động dạy
học môn Toán tại trường trung học cơ sở.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy - học môn Toán tại
trường trung học cơ sở Yên Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội.
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy - học môn Toán tại
thông trong đó có môn Toán ở cấp THCS thì chưa được đề cập nhiều. Trong
những năm gần đây lý luận về quản lý các môn học trong trường phổ thông đã
được quan tâm, nhất là trong các luận văn thạc sĩ về QLGD.
Đối với môn Toán ở trường phổ thông, nhiều công trình nghiên cứu của
nhiều chuyên gia cũng đã đề cập ít nhiều về phương diện quản lý quá trình
dạy học môn Toán sao cho có hiệu quả nhất. Tiêu biểu có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu có giá trị như: Phương pháp dạy học đại cương môn
Toán của tác giả Nguyễn Bá Kim (2007); Vận dụng lý luận vào thực tiễn dạy
7
học môn Toán ở trường Phổ thông của tác giả Bùi Văn Nghị (2009); Cẩm
nang dạy và học Toán trung học cơ sở của tác giả Vũ Hữu Bình ( 2007)
Từ việc kế thừa các kết quả nghiên cứu đi trước, chúng tôi đi sâu
nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng hoạt động dạy học và quản lý
hoạt động dạy học môn Toán, đề xuất biện pháp hoạt động dạy học môn Toán
ở trường THCS Yên Hòa quận Cầu Giấy, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lý, biện pháp quản lý
1.2.1.1. Quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội, là yếu tố cấu thành sự tồn tại và phát
triển của loài người. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều
hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau.
Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò
của QL trong sự ổn định và phát triển của xã hội. QL là một phạm trù khách
quan và là một tất yếu lịch sử. Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về
QL dưới các góc độ khác nhau.
F.W.Taylor được coi là cha đẻ của thuyết QL khoa học đã cho rằng cốt
lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và
phải QL chặt chẽ ”, “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm
và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”[19, tr46].
Henri Fayol thì xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý khi cho
tượng QL trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề
ra. Biện pháp QL là yếu tố động, thường được thay đổi theo đối tượng và tình
huống. Căn cứ vào tác động của chủ thể QL lên đối tượng quản lý, có thể chia
thành nhóm biện pháp cơ bản sau:
a) Biện pháp thuyết phục
9
Biện pháp thuyết phục là cách tác động và nhận thức của con người
bằng lí lẽ cho con người có nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa nhận
những yêu cầu của QL và từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu cầu
đó.
b) Biện pháp tổ chức – hành chính
Biện pháp tổ chức – hành chính là cách tác động trực tiếp của hệ QL
đến hệ bị QL trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng mệnh
lệnh, chỉ thị, quyết định. Biện pháp này thể hiện sức mạnh của tổ chức, xác
lập trật tự kỷ cương của bộ máy, giúp cho các quyết định QL được thi hành
nhanh chóng và chính xác, tăng hiệu quả hoạt động QL.
c) Biện pháp quản kinh tế
Biện pháp kinh tế là cách tác động của chủ thể QL tới đối tượng QL
thông qua lợi ích kinh tế, tạo động lực thúc đẩy con người tích cực hoạt động.
d) Biện pháp tâm lý – giáo dục
Biện pháp tâm lý – giáo dục là cách tác động của chủ thể QL tới đối
tượng QL thông qua đời sống tâm lý cá nhân, các hệ tư tưởng, tâm tư tình
cảm, nguyện vọng của họ. Biện pháp này dựa trên cơ sở các quy luật tâm lý
của con người dựa vào uy tín của người QL để lôi cuốn các thành viên trong
tổ chức hăng hái, tích cực tham gia công việc.
Các nhà QL cần biết phối hợp các biện pháp QL một cách linh hoạt
nhằm khai thác mặt mạnh, hạn chế mặt nhược điểm của từng biện pháp.
Không có một biện pháp nào là hoàn toàn tối ưu hay hoàn toàn hạn chế. Vận
dụng các biện pháp thành công đem lại hiệu quả QL. Điều đó phụ thuộc vào
khả năng sáng tạo và sự mềm dẻo, linh hoạt của các nhà quản lý.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: QLGD là hoạt động
điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác GD&ĐT
thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Cụ thể hơn, QLGD là hệ thống
11
những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác
nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình
thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát
triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.
Ngày nay với quan điểm xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời,
giáo dục cho mọi người nên công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ
mà cho mọi người. Tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên
QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo
dục, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.2.2.2. Quản lí nhà trường
Nhà trường trong bối cảnh hiện nay không chỉ là thiết chế sư phạm đơn
thuần mà còn hiện thực hoá sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống kinh tế -
xã hội.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “nhà trường là vầng trán của cộng đồng”
và ngược lại “cộng đồng là trái tim của nhà trường”. Từ nhà trường, hai quá
trình “xã hội hoá giáo dục” và “giáo dục hoá xã hội” quyện chặt vào nhau để
hình thành “xã hội học tập”, tạo nên sự đồng thuận xã hội, tăng trưởng kinh tế
cho mỗi quốc gia với mục tiêu phát triển nhân văn đưa giáo dục cho mỗi
người, giáo dục cho mọi người và huy động mọi tiềm năng, nguồn lực của xã
hội cho giáo dục. [14, tr210]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng, “quản lý trường học là hoạt động của
các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên,
học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn
lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.”
[32, tr205]
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái hiện
nhau, luôn luôn gắn bó hữu cơ, bổ sung, hỗ trợ nhau để cùng phát triển và
13
cùng đạt mục tiêu của dạy học. Thiếu một trong hai quá trình bộ phận thì quá
trình dạy học không diễn ra. Tuy nhiên điều này chỉ đạt được khi người dạy
và người học thực hiện tốt chức năng của mình: Người dạy đóng vai trò chủ
đạo, tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, gợi ý, trọng tài hoạt động nhận thức
của người học, và người học đóng vai trò tự giác, chủ động, tích cực phối hợp
với hoạt động của người dạy, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức -
học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ học tập.
Trong một thời gian dài, quan niệm dạy học là hoạt động đặc trưng của
người thầy giáo, do đó người ta chỉ chú trọng vai trò của giáo viên. Giáo viên
được coi là nhân vật trung tâm, quyết định chất lượng dạy học. Từ đó, phương
pháp truyền đạt, thuyết giảng kiến thức là phương pháp chủ yếu. Học sinh,
trong trường hợp này bị lệ thuộc vào giáo viên, cách học chủ yếu là nghe,
hiểu, ghi nhớ và tái hiện. Việc đánh giá kết quả học tập căn cứ vào khối lượng
kiến thức được ghi nhớ. Rõ ràng đây là quan niệm phiến diện về dạy học, làm
hạn chế sự phát triển của học sinh, đồng thời hạn chế chất lượng giáo dục nói
chung và chất lượng dạy học nói riêng. Quan niệm hiện đại về dạy học coi
thầy giáo và học sinh đều là chủ thể tích cực của quá trình dạy học.
Trong hoạt động dạy, chủ thể là giáo viên, người tổ chức, điều khiển
hoạt động của học sinh; đối tượng tác động của giáo viên là hoạt động học tập
của học sinh; mục đích của hoạt động dạy là phát triển trí tuệ, phát triển năng
lực - yếu tố cơ bản, trực tiếp hình thành nhân cách phát triển toàn diện ở học
sinh; nội dung hoạt động dạy là hệ thống kiến thức, kĩ năng kĩ xảo, kể cả
phương pháp hoạt động nhận thức ( học vấn phổ thông) cần trang bị cho học
sinh; phương pháp giảng dạy của giáo viên là sự vận dụng phối hợp các
phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại theo các cách tiếp cận và ở các
cấp độ khác nhau nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động nhận thức và phát
triển trí tuệ.
14
tập có ý nghĩa quan trọng trong quá trình học tập cũng được các nhà tâm lý
học nghiên cứu. Điều đáng lưu ý là khía cạnh tâm lý học xã hội cũng được
chú ý trong quá trình dạy học. Quan hệ liên nhân cách được hình thành khi
học sinh có quan hệ với nhau và với giáo viên. Có thể xem đây là nhân tố tạo
điều kiện cho học sinh học tập có kết quả.
Quá trình dạy học cũng là một quá trình xã hội: Điều này thể hiện ở:
- Mục đích dạy học do xã hội đặt ra.
- Nội dung dạy học (nội dung học vấn) là hệ thống kinh nghiệm lịch sử
- xã hội do loài người đã tích luỹ được.
- Quan hệ giữa thầy và trò, giữa học sinh với nhau thể hiện quan hệ xã
hội, đó là quan hệ giữa trách nhiệm chuyển giao và tiếp nhận, phát huy kinh
nghiệm lịch sử - xã hội mà xã hội giao cho họ.
Bản chất của quá trình dạy học còn được làm sáng tỏ theo quan điểm
một số khoa học hiện đại. Cụ thể:
* Theo quan điểm hệ thống: Con người là một hệ thống, có các phần tử
có quan hệ với nhau, tự ổn định, tự tổ chức, tự điều chỉnh. Quá trình dạy học
là một hệ thống động phức tạp có thể chỉ đạo được.
* Theo thuyết điều chỉnh và điều khiển: Quá trình dạy học được xem là
một hệ điều chỉnh, là quá trình phát triển biện chứng, thống nhất hữu cơ giữa
điều khiển (dạy) với được điều khiển và tự điều chỉnh (học).
* Theo lý thuyết thông tin: Quá trình dạy học được xem là quá trình thu
nhận (hay truyền đạt), lưu giữ, xử lí và vận dụng thông tin. Sự lĩnh hội là sự
thông hiểu thông tin, ghi nhớ nó và có khả năng tích cực vận dụng nó. [2].
* Vai trò của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học:
- Giáo viên và hoạt động giảng dạy:
Giáo viên là chủ thể của hoạt động giảng dạy, người nắm vững mục
tiêu, chương trình nội dung, phương pháp giáo dục, nắm vững quy luật phát
16
triển tâm lí của học sinh qua các lứa tuổi, đặc biệt là nắm vững trình độ hiểu
biết và năng lực học tập của học sinh để tổ chức giảng dạy, hướng dẫn học
có ý thức trong hoạt động học tập và rèn luyện thực hành. Người học sinh giữ
vai trò chủ động có ý thức, tích cực và sáng tạo trong quá trình học tập. Ba
điều kiện để học tập thành công đó là người học có nhu cầu học tập, có quyết
tâm học tập và có phương pháp học tập tốt.
Chủ động học tập là có ý thức, tự giác tham gia vào các hoạt động học
tập, có mục đích học tập rõ ràng, có động cơ học tập tốt, biết xây dựng kế
hoạch và kiên trì, quyết tâm thực hiện kế hoạch đã đề ra.
Tích cực học tập là trạng thái tâm lí và thể lực của học sinh hướng vào
chiếm lĩnh nội dung học tập. Tính tích cực của học sinh thể hiện ở hai mặt:
chuyên cần và tư duy sâu sắc. Chuyên cần là chăm chỉ, nỗ lực cá nhân, vượt
khó khăn, mệt nhọc để học tập vì “sự học như con thuyền ngược dòng, không
thể buông tay chèo”. Tư duy sâu sắc là sự tập trung trí tuệ, đi sâu vào bản chất
của các vấn đề học tập, không hời hợt thụ động. Tính tích cực của học sinh
đuợc hình thành từ nhu cầu nhận thức, từ mong muốn có kết quả học tập tốt,
từ sự ý thức về tương lai của bản thân và được khích lệ bằng nghệ thuật sư
phạm của giáo viên. Tính tích cực được biểu hiện bằng sự say mê, hứng thú
và quyết tâm học tập.
Phương pháp học tập tốt là phương pháp học tập tích cực, chủ động tìm
tòi thông tin, tham gia vào các hoạt động thực hành, nghiên cứu, đi sâu tìm
hiểu bản chất các vấn đề học tập, biết hệ thống hoá, ghi nhớ kiến thức và biết
tìm cách vận dụng vào các công việc học tập cụ thể. [32]
1.2.3.2. Quản lý hoạt động dạy - học
18
Quản lý quá trình dạy học là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá
trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình với tư cách là một
hệ thống toàn ven, thống nhất, biện chứng, bao gồm nhiều tầng bậc với các
mối liên hệ đan xen, với các thành tố cơ bản: Mục tiêu, nội dung dạy học,
thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp và phương
toàn bộ hoạt động ấy phải được quản lý một cách khoa học và chặt chẽ. Quản
lý hoạt động dạy học trong trường phổ thông nói chung và trường THCS nói
riêng bao gồm các nội dung cơ bản là: Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo
viên, quản lý hoạt động học tập của học sinh và quản lý CSVC, PTDH, các
điều kiện phục vụ dạy học.
1.3. Quản lý hoạt động dạy - học môn Toán ở trường trung học cơ sở
1.3.1. Đặc điểm môn Toán ở trường THCS
a) Vị trí vai trò môn Toán trong nhà trường phổ thông nói chung, trường
THCS nói riêng
Trong nhà trường phổ thông, môn toán có vai trò vị trí và ý nghĩa hết
sức quan trọng.
Thứ nhất, môn Toán có vai trò qua trọng trong việc thực hiện mục tiêu
chung của giáo dục phổ thông. Môn Toán góp phần phát triển nhân cách.
Cùng với việc tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo những tri thức và rèn luyện
kĩ năng toán học cần thiết, môn toán còn có tác dụng góp phần phát triển năng
lực trí tuệ chung như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá , rèn
luyện những đức tính cẩn thận, chính xác, tính kỉ luật, tính phê phán, tính
sáng tạo, bồi dưỡng óc thẩm mĩ.
Thứ hai, môn Toán cung cấp vốn văn hoá toán học phổ thông một cách
có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh bao gồm kiến thức, kĩ năng và tư duy.
20
Thứ ba, môn toán còn là công cụ giúp cho việc dạy và học các môn học
khác. Do tính trừu tượng cao độ, Toán học có tính thực tiễn phổ dụng. Những
tri thức và kĩ năng Toán học cũng với những phương pháp làm việc trong
Toán học trở thành công cụ để học tập những môn học khác trong nhà trường,
là công cụ của nhiều ngành khoa học khác nhau, là công cụ để hoạt động
trong đời sống thực tế và vì vậy là một thành phần không thể thiếu của trình
độ văn hoá phổ thông của con người mới. Cùng với việc kiến tạo tri thức,
môn Toán trong nhà trường còn rèn luyện cho học sinh những kĩ năng tính
toán, vẽ hình, kĩ năng sử dụng những dụng cụ Toán học và máy tính điện tử
Những hiểu biết ban đầu về một số phương pháp Toán học: Dự đoán và
chứng minh, quy nạp và suy diễn, phân tích và tổng hợp
(2) Hình thành và rèn luyện các kĩ năng: Tính toán và sử dụng bảng số,
máy tính bỏ túi; thực hiện các phép biến đổi các biểu thức; giải phương trình
và bất phương trình bậc nhất một ẩn, giải phương trình bậc hai một ẩn; giải hệ
phương trình bậc nhất hai ẩn; vẽ hình, đo đạc, ước lượng. Bước đầu hình
thành khả năng vận dụng kiến thức Toán học vào đời sống và vào các môn
học khác.
(3) Rèn luyện khả năng suy luận hợp lý và logic, khả năng quan sát, dự
đoán, phát triển trí tưởng tượng không gian. Rèn luyện khả năng sử dụng
ngôn ngữ chính xác, bồi dưỡng các phẩm chất của tư duy như linh hoạt, độc
lập và sáng tạo. Bước đầu hình thành thói quen tự học, diễn đạt chính xác và
rõ ràng ý tưởng của mình và hiểu được ý tưởng của người khác. Góp phần
hình thành các phẩm chất lao động khoa học cần thiết của người lao động
mới. ( Chương trình THCS).
c) Chương trình Toán THCS