ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
PHẠM THỊ LOAN
NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM XÂY DỰNG
TRƯỜNG MẦM NON THÀNH THỊ HẢI PHÒNG
ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS. NGUYỄN THỊ MỸ LỘC
HÀ NỘI - 2004 1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt 2 năm học tập tại khoa Sư phạm - Đại học quốc gia Hà Nội
em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, sự chỉ bảo cặn kẽ của các thầy giáo, các
cô giáo khoa Sư phạm. Những gì các thầy, các cô đã truyền thụ trong quá
trình theo học lớp cao học quản lý giáo dục khoá 2 là cơ sở để em hoàn thành
tốt nhiệm vụ của một cán bộ giáo dục và định hướng cho em trong bước
đường tiếp theo. Em xin được cảm ơn các thầy, các cô khoa Sư phạm cùng
các thầy, các cô đã tham gia giảng dạy cho lớp cao học quản lý giáo dục khoá 3
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài 9
1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.1.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý giáo dục mầm non 10
1.1.2 Quản lý nhà trường, quản lý trường mầm non 10
1.1.3 Biện pháp quản lý 13
1.1.4 Chuẩn và chuẩn quốc gia của trường mầm non 13
1.2 Nghiên cứu các tiêu chuẩn của trường mầm non thành thị đạt chuẩn quốc gia
(theo QĐ 45/2001 ngày 26/12/2001 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT) 14
Chƣơng 2: Thực trạng của việc xây dựng trƣờng mầm non thành
thị Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia 20
2.1 Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội Thành phố Hải Phòng 20
2.2 Tình hình phát triển giáo dục mầm non và định hướng của Thành phố
về xây dựng trường mầm non thành thị đạt chuẩn quốc gia 21
2.3 Mức độ đạt chuẩn quốc gia của các trường mầm non thành thị Hải Phòng 26
2.4 Tính khả thi của các chuẩn tại Hải Phòng 61
Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý nhằm xây dựng trƣờng mầm non
thành thị Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia trong giai đoạn hiện nay 63
3.1 Tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc xây
dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia 63
3.2 Phối kết hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục và các ngành hữu quan ở
mạnh mẽ, tích cực về quy mô và chất lượng các ngành học, cấp học, bậc học.
Thành phố và các địa phương rất chú trọng và có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất
kỹ thuật cho các trường học, tạo ra sự chuyển biến đáng kể. Tính đến hết năm học
2003 – 2004, Hải Phòng có 6 trường mầm non thành thị đạt chuẩn quốc gia.
Thực tế đã chỉ ra rằng giáo dục mầm non là giai đoạn đầu của quá trình
giáo dục hình thành nhân cách con người. Sáu năm đầu của cuộc sống có ý
nghĩa rất quan trọng tới sự phát triển sau này của con người. Những nghiên
cứu gần đây về sinh học phát triển của trẻ từ 0 – 6 tuổi càng khẳng định vị trí,
vai trò của giáo dục mầm non là hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển
nguồn lực con người. Vì vậy “ Đầu tư vào lĩnh vực sức khoẻ, dinh dưỡng,
chăm sóc và giáo dục trẻ chính là đầu tư lâu dài và ngay từ đầu cho sự phát
6
triển kinh tế – xã hội tương lai [44, tr.13].
Các nhà lãnh đạo thành phố, lãnh đạo ngành, cán bộ giáo viên mầm non
cũng nhận thấy việc xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia là một trong
những điều kiện đảm bảo nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ. Song việc
xây dựng các trường mầm non thành thị Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia hiện nay
gặp phải mâu thuẫn rất lớn. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu xây dựng trường mầm
non đạt chuẩn quốc gia và điều kiện thực tế để đạt được điều đó. Ở khu vực nội
thành, do quá trình đô thị hoá nhanh, mật độ dân cư cao, diện tích đất làm trường
học không đủ, vì vậy quy mô lớp học trong mỗi trường thuờng qúa lớn.Tổng số
các trường mầm non thành thị Hải Phòng hiện nay là 64 trường và tính đến hết
năm học 2003 – 2004 mới có 6 trường đạt chuẩn quốc gia. Để đạt được mục tiêu
như đề án “ Kiên cố hoá trường học, xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia giai
đoạn 2003-2010” đã đề ra là: “Từ nay đến năm 2010 hầu hết các trường mầm non
ở Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia” [38, tr.3], thì ngành học mầm non Hải Phòng
phải phấn đấu xây dựng gần 60 trường mầm non thành thị đạt chuẩn quốc gia ,
đây là một thách thức khhông nhỏ. Vậy phải có những biện pháp nào để đạt được
mục tiêu đó? Trong phạm vi của mình, đề tài muốn tập trung nghiên cứu lý luận
6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn :
- Điều tra bằng phiếu hỏi, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với các đối tượng có
liên quan.
- Khảo sát thực tế, tổng kết kinh nghiệm.
7. Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.
7.1. Về mặt lý luận: Đề tài có những đóng góp cho việc hoàn thiện chuẩn
quóc gia của trường mầm non trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp
theo.
7.2. Về mặt thực tiễn : Đề tài đề xuất những biện pháp quản lý nhằm giúp các
8
trường mầm non thành thị Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Mở đầu
Nội dung có 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Thực trạng của việc xây dựng trường mầm non thành thị Hải
Phòng đạt chuẩn quốc gia
Chương 3: Những biện pháp quản lý nhằm xây dựng trường mầm non thành
thị Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia trong giai đoạn hiện nay
Kết luận, khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Để đạt được mục tiêu chiến lược ấy, việc xây dựng trường mầm non đạt
chuẩn quốc gia được xác định là một giải pháp quan trọng, toàn diện nhằm
10
nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ. Sau hơn 2 năm thực
hiện quyết định của Bộ giáo dục và đào tạo về việc xây dựng trường mầm non
đạt chuẩn quốc gia, cả nước đã có hơn 300 trường mầm non được công nhận
đạt chuẩn quốc gia. Việc đầu tư xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia
đã thu hút được sự đầu tư của lãnh đạo tỉnh, thành phố, các sở, các lực lượng
xã hội, tạo ra sự thi đua tích cực giữa các tỉnh, các đơn vị.
1.1 Một số khái niệm cơ bản của đề tài.
1.1.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý giáo dục mầm non
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song theo định nghĩa
kinh điển nhất: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể
quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ
chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Ngày nay khái niệm quản lý được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình
đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng)
kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.
Như vậy, có thể hiểu được rằng, dù trong bất kỳ một tổ chức nào với
mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra sao, đều cần phải có sự quản lý và người
quản lý để tổ chức hoạt động nhằm đạt được mục đích của tổ chức.
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Đó là “hệ thống tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (nhóm các
nhà sư phạm tiên phong) nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo
dục của những người làm công tác giáo dục (khách thể quản lý) thực hiện
mục tiêu kế hoạch giáo dục đã đề ra” [48, tr.9].
Quản lý giáo dục mầm non là một bộ phận của quản lý giáo dục.
1.1.2 Quản lý nhà trường, quản lý trường mầm non
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân được thành lập theo qui
12
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của ngành giáo dục mầm non, là đơn vị
quan trọng nhất trong công tác quản lý giáo dục mầm non. Chất lượng giáo
dục của nhà trường phản ánh hiệu quả công tác chỉ dạo, quản lý của ngành.
Trường mầm non của nước ta có 3 tính chất sau [4, tr.30]:
- Chăm sóc, bảo vệ, giáo dục toàn diện, chăm lo đến sự hình thành và
phát triển tổng thể của trẻ.
- Tính chất giáo dục gia đình và liên kết chặt chẽ với giáo dục trẻ ở gia đình.
- Tính chất tự nguyện.
Trường mầm non có các nhiệm vụ như sau:
- Tiếp nhận và quản lý trẻ em trong độ tuổi
- Tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình chăm
sóc giáo dục mầm non do Bộ GD và ĐT ban hành.
- Quản lý giáo viên, nhân viên và trẻ em.
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo qui
định của pháp luật.
- Chủ động kết hợp với các bậc cha mẹ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ em; kết hợp với các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội
nhằm tuyên truyền, phổ biến kiến thức về khoa học nuôi dạy trẻ em cho gia
đình và cộng đồng.
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và trẻ em của trường tham gia các
hoạt động xã hội trong phạm vi cộng đồng.
- Giúp đõ các cơ sở giáo dục mầm non khác trong địa bàn.
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo qui định của pháp luật.
Cơ sở giáo dục mầm non bao gồm:
- Nhà trẻ, nhóm trẻ nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến ba tuổi.
- Trường, lớp mẫu giáo nhận trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi.
- Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và trường mẫu giáo,
dung và phương pháp, cung cấp cho trẻ một nền móng phát triển về thể lực,
nhân cách và trí tuệ.
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, giáo dục mầm non bị tan vỡ
ở nhiều nơi. Để ổn định và duy trì ngành học, Bộ GD và ĐT đã đổi mới cách
chỉ đạo quản lý là đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục mầm non, đa dạng hoá các
loại hình trường lớp. Bộ đã huy động nhiều nguồn lực để chỉ đạo xây dựng
nhiều loại chương trình, đẩy mạnh công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên, đổi
mới phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ. Đồng thời, Bộ tập trung chỉ đạo xây
dựng hệ thống trường trọng điểm chất lượng cao, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền giáo dục các bậc cha mẹ và trong cả cộng đồng. Nhờ vậy, chất lượng
giáo dục mầm non đã có chuyển biến đáng khích lệ.
Những năm gần đây Đảng và nhà nước đã quan tâm nhiều tới sự nghiệp
giáo dục đào tạo, coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu. Luật giáo dục ra
đời năm 1998 đã khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và nhà nước ta về
phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo. Bộ giáo dục và đào tạo đã chỉ đạo thực
hiện nhiều chương trình phát triển giáo dục - đào tạo, trong đó có giáo dục
mầm non.
1.2 Nghiên cứu các tiêu chuẩn của trƣờng mầm non thành thị đạt chuẩn
quốc gia (theo QĐ 45/2001 ngày 26/12/2001 của Bộ trƣởng Bộ GD & ĐT)
Ngày 26/12/2001 Bộ trưởng Bộ giáo dục - đào tạo đã ký quyết định số
45/2001/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành quy chế công nhận trường mầm non
đạt chuẩn quốc gia từ năm 2002 đến năm 2005. Theo quyết định này trường
mầm non đạt chuẩn quốc gia phải có đủ năm tiêu chuẩn. Do có sự khác nhau
về sự phát triển giáo dục mầm non giữa các khu vực nông thôn và thành thị
nên 5 tiêu chuẩn của trường mầm non ở hai khu vực có khác nhau. Trong
phạm vi đề tài của mình, chúng tôi tập trung nghiên cứu 5 tiêu chuẩn của
trường mầm non thành thị đạt chuẩn quốc gia. Năm tiêu chuẩn này đề cập
15
một cách toàn diện, từ đội ngũ cán bộ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất,
+ Hoạt động của các tổ chức đoàn thể.
Tiêu chí này khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Chi bộ Đảng và sự
phối hợp hoạt động của tổ chức công đoàn, đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hội cha
mẹ học sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Song,
tiêu chí này cũng chưa được cụ thể hoá nên khó đánh giá, và chưa mang tính
đặc trưng cho trường MN đạt CQG so với các trường mầm non khác. Ở giai
đoạn tiếp theo, hoạt động của các đoàn thể trong trường MN sẽ được đánh giá
như thế nào?
+ Quản lý chăm sóc giáo dục trẻ.:
Trong tiêu chí này có một điểm mới so với tiêu chuẩn của trường MN
trọng điểm ở chỗ là trường MN đạt CQG phải thu nhận 100% số trẻ 5 tuổi
trong địa bàn trường đóng. Điều này đã cụ thể hoá quan điểm về phát triển
giáo dục MN là “ Phát triển giáo dục mầm non là nền tảng cho chiến lược phổ
cập tiểu học của đất nước” [50, tr. 26].
Nội dung còn lại của tiêu chí này tương tự như đối với trường MN trọng
điểm. Có một số nội dung khó đánh giá. Ví dụ: Thế nào là trường mầm non
thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ, thường xuyên cải tiến chất lượng
bữa ăn hàng ngày cho trẻ? Hay như yêu cầu giáo viên phải có sáng kiến kinh
nghiệm, làm đồ dùng dạy học, đồ chơi như thế nào là đạt yêu cầu, kẻo lại rơi
vào việc làm hình thức. Tức là những nội dung này phải được cụ thể hoá.
Tiêu chuẩn 2. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.
Đối với cán bộ quản lý, tiêu chuẩn đưa ra là phù hợp với yêu cầu thực tế
đổi mới công tác quản lý giáo dục và mang tính phát triển. Người cán bộ quản
lý phải đạt được trình độ đào tạo đại học chuyên ngành mầm non, có như vậy
mới am hiểu sâu lĩnh vực đang quản lý và có khả năng tổ chức tốt các hoạt
17
động trong trường MN. Bên cạnh việc đạt được trình độ đại học mầm non,
người hiệu trưởng cần có kiến thức và kỹ năng quản lý trường mầm non. Điều
này hết sức quan rrọng và cần thiết trong quá trình đổi mới giáo dục ở nước
+ Tỷ lệ chuyên cần của trẻ là 95% (bao gồm cả trẻ nhà trẻ và mẫu giáo) là
cao, khó đạt được. Qua nghiên cứu thực tế ở các trường MN thành thị Hải
Phòng cho thấy ở các trường có tỷ lệ chuyên cần cao thì tỷ lệ này cao nhất
cũng chỉ đạt khoảng 90% đối với trẻ nhà trẻ và 95 % đối với trẻ mẫu giáo .Vì
vậy, theo chúng tôi, tỷ lệ chuyên cần của trẻ nên hạ thấp hơn 95% để phù hợp
với thực tế.
+ Tỷ lệ trẻ kênh A là 98% trong giai đoạn 2002 – 2005 vẫn là cao. Chúng
tôi hiểu rằng chỉ tiêu đưa ra vừa mang tính khẳng định thực trạng, vừa mang
tính định hướng cho sự phát triển, song tiêu chí đó cũng phải phù hợp. Việc
đưa ra tiêu chí không có kênh C là cần thiết và phù hợp để đánh giá chất
lượng chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường.
+ Đối với chất lượng giáo dục, tiêu chí đưa ra là 98% trẻ đạt yêu cầu theo
quyết định 55/QĐ ngày 3/2/1990 của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT có thể thực
hiện được. Tuy nhiên, trên thực tế khi đánh giá chất lượng giáo dục trẻ 5 tuổi
và một số lớp 3 - 4 tuổi thực hiện thí điểm đổi mới thì việc đánh giá không
dựa trên quyết định 55. Vì vậy, thực tế chưa có sự thống nhất khi đánh giá
chất lượng giáo dục.
+ 100% trẻ phải được đảm bảo an toàn. Điều này là hoàn toàn cần thiết.
Tiêu chuẩn 4. Tổ chức trường lớp, cơ sở vật chất và thiết bị.
Tiêu chuẩn này được trình bày rõ ràng, cụ thể, định hướng mô hình
trường MN hiện đại. Việc chú trọng xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị cho
trường MN là để tạo ra những điều kiện tốt nhất cho chăm sóc giáo dục trẻ.
Song đối với các trường MN thành thị hiện nay, vấn đề diện tích đất đạt
19
chuẩn là vô cùng khó. Các trường MN thành thị luôn phải chịu áp lực về sự
quá tải số lượng trẻ. Nhiều trường cố gắng đạt các tiêu chuẩn khác, đã đầu tư
trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi theo yêu cầu trường chuẩn, chỉ riêng tiêu
chuẩn diện tích là không đạt, mặc dù đã tăng diện tích sử dụng bằng cách
nâng tầng. Vì vậy, có trường chất lượng chăm sóc giáo dục tốt, đội ngũ tốt,
lực sau này. Xây dựng trường chuẩn quốc gia là huy động được nguồn lực địa
phương, là dịp toàn dân chăm lo đến sự nghiệp giáo dục đào tạo, chăm lo đến
chất lượng cuộc sống của trẻ em. Nhân dân yên tâm phấn khởi khi con em họ
được chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục tại trường đạt chuẩn quốc gia. Từ đó tạo
được mối quan hệ tốt giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC XÂY DỰNG TRƢỜNG MẦM NON
THÀNH THỊ HẢI PHÒNG ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA.
Trên cơ sở nghiên cứu các chuẩn quốc gia trường mầm non thành thị,
chúng tôi tiến hành tìm hiểu thực trạng triển khai việc xây dựng các trường
mầm non thành thị ở Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia. Bằng phương pháp điều
tra theo phiếu đối với hiệu trưởng các trường mầm non, phỏng vấn trực tiếp
lãnh đạo và chuyên viên ngành học mầm non thành phố, các quận Lê Chân,
Hồng Bàng, Ngô Quyền, Kiến An, đồng thời nghiên cứu các văn bản, tài liệu
báo cáo tổng kết giáo dục mầm non của thành phố và các quận, chúng tôi
thống kê và trình bày số liệu theo các mục sau đây.
2.1. Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam (sau thành phố Hồ Chí
Minh và Thủ đô Hà Nội) có tổng diện tích đất tự nhiên là: 1507,6km
2
bao
gồm cả hai huyện đảo (Cát Hải và Bạch Long Vỹ). Hải Phòng là trung tâm
giao thông vận tải của toàn bộ khu vực phía Bắc Việt Nam, nối các tỉnh phía
21
Bắc với thị trường thế giới qua hệ thống cảng biển.
Hải Phòng là một thành phố công nghiệp, có diện tích đất nông nghiệp
không lớn, song có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp và nông thôn theo
hướng công nghiệp hoá nông nghiệp.
Bên cạnh tiềm năng du lịch, tài nguyên biển của Hải Phòng là một thế
trong độ tuổi mẫu giáo. Theo báo cáo tổng kết năm học 2003-2004 của Sở
GD và ĐT Hải Phòng, số lượng trẻ huy động ra lớp mẫu giáo là 50970 cháu,
đạt tỉ lệ 75,87%. Số trẻ lứa tuổi nhà trẻ được huy động ra lớp là 17800 cháu
(Bao gồm các loại hình GDMN), đạt tỉ lệ 29,15%. Số trẻ mẫu giáo 5 tuổi đi
học là 23625 cháu,đạt 99,37%. Hầu hết các lớp mẫu giáo trong các trường
mầm non thành thị Hải Phòng đều quá tải so với quy định trong Điều lệ
trường mầm non. Có thể nhận thấy rằng tỉ lệ trẻ huy động ra lớp tăng do nhận
thức và nhu cầu gửi trẻ ngày càng tăng. Mặt khác, do cuối năm 2002- 2003 số
trẻ 3-4 tuổi cũng được chú trọng huy động. Bên cạnh đó, ngành học đã có
nhiều biện pháp tích cực, phối kết hợp cùng các ban ngành, các lực lượng xã
hội điều tra dân số trong độ tuổi và tuyên truyền vận động trẻ ra lớp, đồng
thời không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trong các trường
mầm non.
Chất luợng giáo dục mầm non Hải Phòng có những bước chuyển biến
tích cực từ những năm đầu 90 và ngày càng được nâng cao, tạo niềm tin và sự
tín nhiệm của các bậc phụ huynh. Chất lượng trẻ mẫu giáo 5 tuổi đã góp phần
không nhỏ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu phổ cập
giáo dục tiểu học. Đánh giá chất lượng chăm sóc trẻ theo yêu cầu chuẩn của
từng độ tuổi đạt từ 90 – 95% hàng năm. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trong các
trường lớp mầm non thành thị bình quân giảm xuống dưới 10%.
Đội ngũ cán bộ và giáo viên mầm non trong những năm qua không ngừng
23
lớn mạnh đủ về số luợng và từng bước được chuẩn hoá đáp ứng yêu cầu. So
với nhiều tỉnh thành phố và cả nước, đội ngũ cán bộ và giáo viên mầm non
Hải Phòng có tốc độ chuẩn hoá nhanh. Tuy nhiên, tỷ lệ giáo viên nhà trẻ đạt
chuẩn còn thấp. Số giáo viên có trình độ đại học, cao đẳng còn ít so với yêu
cầu nâng cao chất lượng đội ngũ. Hơn nữa, hiện nay thành phố chưa có mức
phụ cấp cho giáo viên đi học nâng chuẩn và Nhà nước chưa xếp lương tương
ứng với trình độ đào tạo , vì vậy chưa khuyến khích được giáo viên đi học.