Giảng dạy thơ mới 1930-1945 trong nhà trường trung học phổ thông - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

LÊ THỊ THUÝ HUÂN
GIẢNG DẠY THƠ MỚI 1930 – 1945
TRONG NHÀ TRƢỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ SƢ PHẠM NGỮ VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Lê Quang Hƣng
Hà Nội - 2010

4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Lí do nghiên cứu 1
2. Lịch sử vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1. Đối tượng nghiên cứu 7
4.2. Phạm vi nghiên cứu 7
5. Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn 7
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu 7

thảo luận theo nhóm nhỏ 75
Giáo án thể nghiệm bài “Vội vàng” của Xuân Diệu 89
Giáo án thể nghiệm bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
PHỤ LỤC

6
MỘT SỐ QUI ƢỚC VIẾT TẮT CỦA LUẬN VĂN

PGS. TS : Phó giáo sư, Tiến sĩ
GS. TS : Giáo sư, Tiến sĩ
GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo
THPT : Trung học phổ thông
ĐHSP : Đại học Sư phạm
SGV : Sách giáo viên
PPDH : Phương pháp dạy học
GV : Giáo viên
NXB : Nhà xuất bản
NCGD : Nghiên cứu giáo dục
HS : Học sinh

thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp
dạy học tích cực”. Cần đổi mới nội dung và hình thức hoạt động của giáo viên
và học sinh, đổi mới hình thức tổ chức dạy học. Lâu nay dạy văn trong nhà
trường vẫn được áp dụng phương pháp truyền thụ kiến thức một chiều. Thầy
đọc, trò ghi chép, học thuộc và làm theo. Với phương pháp này, chúng ta mới
chỉ chú ý đến lao động sáng tạo của giáo viên trong quá trình giảng văn, chú ý
đến sự tiếp nhận, cảm thụ mang tính chất cá nhân của giáo viên. Còn học sinh
được coi là khách thể, là đối tượng tiếp thụ. Hơn nữa lâu nay, chúng ta quan
niệm tác phẩm văn chương là một sản phẩm do nhà văn hoàn toàn quyết định.
Từ quan niệm này, tác phẩm văn học được xem như một đối tượng độc lập với
người tiếp nhận. Nghĩa là coi tác phẩm văn học như một sự vật với những đặc
điểm xác định, những giá trị bất biến có thể mô tả, truyền đạt, phân tích một
cách rạch ròi, triệt để. Do vậy mà trong quá trình dạy học văn một số giáo viên
thường quy việc tiếp nhận tác phẩm vào một số “điểm” về nội dung và hình
thức để bắt học sinh học thuộc lòng và giáo viên chấm bài căn cứ vào “ba-
rem”. Những nhu cầu, sở thích của các em ít được giáo viên chú ý đến, chỉ cốt
sao thầy hiểu sâu sắc tác phẩm, lên lớp trình diễn lại một cách bài bản, nghệ
thuật theo một khuôn mẫu nhất định. Trong những giờ giảng như vậy, hiệu quả

8
sẽ không cao và rồi niềm khát khao được khám phá vẻ đẹp văn chương của
học sinh cũng dần bị mai một đi. Trong bài “Văn học nghệ thuật và sự tiếp
nhận”, GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng đã viết: “Chỉ khi nào người tiếp nhận
quan tâm thiết tha với tác phẩm nghệ thuật và thường xuyên trở lại với chúng
trong một thời gian dài thì mới có thể tạo nên những thói quen ổn định và thái
độ đúng đắn đối với văn học nghệ thuật”. Như vậy việc đổi mới phương pháp
dạy học phù hợp để tạo sự hứng thú cho học sinh trong việc tiếp nhận tác phẩm
văn chương là một việc làm hết sức quan trọng. Học sinh phải là người tự cảm
nhận, tự khám phá chiếm lĩnh tác phẩm, thầy cô giáo chỉ là người hướng dẫn,
định hướng cho các em chứ không thể cảm thụ thay các em. Sử dụng phương

tiếng lòng của những người trẻ tuổi, trẻ lòng. Do vậy việc dạy học Thơ mới cần
có một hệ thống phương pháp riêng trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu chung.
Những tác phẩm Thơ mới 1930-1945 được đưa vào chương trình lớp 11 ở
trường THPT với dung lượng khá lớn: Xuân Diệu với “Vội vàng”; Hàn Mặc
Tử với “Đây thôn Vĩ Dạ”; Huy Cận với “Tràng giang”; Nguyễn Bính với
“Tương tư”.
Thực hiện tinh thần đổi mới của phương pháp dạy học văn trong nhà trường
THPT của ngành giáo dục, nhằm góp một phần nhỏ bé vào việc giảng dạy Thơ
mới ở trường THPT, tôi tiến hành viết luận văn này.
2. Lịch sử vấn đề
Thơ mới 1930 – 1945 là bộ phận văn học có nhiều đóng góp trong việc đưa
nền văn học Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại hoá, song đây cũng là
dòng văn học có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau nhất. Phần văn học này đã
thể hiện được một quan niệm nghệ thuật về con người: đó là con người cá
nhân, cái tôi cá nhân trong cảm xúc ngoại giới với các quan niệm thẩm mĩ mới
mẻ, lạ lẫm. Đây là một hiện tượng văn học phong phú nhưng khá phức tạp. Từ
sự trỗi dậy của cái tôi cảm xúc trữ tình lãng mạn, các tác giả lãng mạn đã tạo
nên một kho báu vô giá về nghệ thuật thơ ca. Nền văn học trong non nửa thế kỉ

10
này có được cái phong phú, đa dạng muôn hình nhiều vẻ, như Hoài Thanh đã
vui sướng và quả quyết: “…trong lịch sử thơ ca Việt Nam, chưa bao giờ có
một thời đại phong phú như thời đại này, chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện
cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư,
hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp…ảo não như
Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên, và thiết tha rạo
rực băn khoăn như Xuân Diệu” [28; Tr.29] là nhờ có cái tôi cá nhân.
Nhiều công trình nghiên cứu về Phong trào Thơ mới đã phần nào đánh giá
một cách khái quát về đóng góp, đặc điểm của Phong trào Thơ mới và chỉ ra
những nét đặc sắc riêng của các thi sĩ lãng mạn tiêu biểu.

khảo sát, phân tích cho đầy đủ.
Năm 1941, Trần Thanh Mại viết riêng một cuốn sách nghiên cứu về Hàn
Mặc Tử. Tác giả tuyên bố là đã áp dụng “những phương pháp mới” trong phê
bình văn học “xưa nay chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam”. Ông đã
nghiên cứu kỹ những đặc điểm của vùng quê hương thi sĩ, những giai thoại về
cuộc đời đau thương của Hàn Mặc Tử, những mối tình của Hàn Mặc Tử với
Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, những phút mơ màng của Hàn Mặc
Tử trên bãi biển Quy Nhơn, những đêm trăng lạnh, tâm trạng bệnh hoạn của
thi sỹ ở nhà thương Quy Hoà…, và cho đó là “những cái vòng quyết định của
một sợi dây chuyền” sẽ dẫn tới cái đích “cắt nghĩa thi phẩm nhà thơ”. Ông là
một trong những người đầu tiên có công khám phá, phát hiện Hàn Mặc Tử, từ
những văn bản gốc, nhưng nói chung ông đã quá đề cao nhà thi sĩ vừa lãng
mạn, vừa tượng trưng này.
Năm 1938, Thế Lữ đã viết lời tựa cho tập “Thơ thơ” xuất bản lần thứ nhất:
“Và từ đây, chúng ta có Xuân Diệu!”. Từ niềm đồng cảm của một bạn thơ,
bằng những lời lẽ súc tích và nồng nàn, Thế Lữ đã giới thiệu với bạn đọc chân

12
dung thi sỹ Xuân Diệu-một hồn thơ rộng mở, chờ đón, một tay thơ dẻo dai và
cần mẫn.
Cuốn “Con mắt thơ” của Đỗ Lai Thuý (Nhà xuất bản Lao Động,1992) phản
ánh một cố gắng tìm tòi, phân tích phong cách nghệ thuật độc đáo ở một số
gương mặt thi sĩ lãng mạn tiêu biểu (Thế Lữ, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc
Tử, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê)
Trong cuốn “Nhà văn và tác phẩm trong trường phổ thông” nhóm tác giả
trường ĐHSP Hà Nội I đã cung cấp những kiến thức cơ bản, những tư liệu cần
thiết và gợi ý, hướng dẫn những phương hướng, kĩ năng tìm hiểu, cảm thụ…về
cuộc đời, sự nghiệp và những áng văn tiêu biểu của các nhà văn Việt Nam
được giảng dạy trong nhà trường THPT.
Cuốn SGV Ngữ văn 11 của Bộ giáo dục và đào tạo do Giáo sư Trần Đình

- Những thi phẩm Thơ mới 1930 - 1945 trong chương trình Ngữ văn lớp 11.
- Học sinh lớp 11 năm học 2009 - 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này chúng tôi nghiên cứu và đề xuất những phương pháp khi tiến
hành giảng dạy các thi phẩm Thơ mới 1930 – 1945 trong chương trình THPT lớp
11 năm học 2009 - 2010 theo quan điểm của đổi mới phương pháp dạy học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Điều tra và đánh giá thực tiễn hiệu quả giảng dạy Thơ mới trong nhà trường THPT.
- Khảo sát sự tiếp nhận của học sinh về Thơ mới 1930-1945 ở lớp 11. Tập hợp
kết quả, phân tích, đánh giá và rút ra kết luận cần thiết.
- Trên cơ sở khảo sát, đề xuất đổi mới phương pháp giảng Thơ mới một cách
hiệu quả nhất.
- Thiết kế giáo án thể nghiệm bốn tác phẩm Thơ mới ở lớp 11 theo hướng đổi
mới phương pháp đã đề xuất. 14
5.2. Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở khảo sát, tổng hợp, đánh giá, luận văn đã chỉ ra được thực trạng
của việc dạy Thơ mới trong nhà trường THPT chưa đạt hiệu quả cao, đề xuất
đổi mới phương pháp dạy học bốn tác phẩm Thơ mới trong nhà trường THPT
để giúp cho giáo viên, học sinh có thêm những gợi mở cần thiết khi dạy học
những tác phẩm này.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê kết quả tiếp nhận Thơ mới 1930 – 1945 của
học sinh lớp 11.
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp nghiên cứu theo quan điểm liên ngành: vận dụng những kiến
thức về Văn học Việt Nam, những thành tựu về tâm lí học, lí luận dạy học hiện

mạnh lên mặt nào đó thuộc về vai trò của người thầy. Tôi cho rằng, cho dù các
phương pháp thể hiện hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh
mà người học và người dạy chưa khai thác hết. Chính vì thế mà không có một
phương pháp giảng dạy nào được cho là lý tưởng. Mỗi một phương pháp đều có
ưu điểm của nó do vậy người thầy nên xây dựng cho mình một phương pháp
riêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp với thành
phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạy-học sẵn có và cuối cùng là phù
hợp với sở thích của mình. Theo chúng tôi, phương pháp giảng dạy được gọi là
tích cực nếu hội tụ được các yếu tố sau: Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin
và các nguồn lực sẵn có; thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt
đầu môn học; thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động; thể
hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối tương tác
trong quá trình học; thể hiện được kết quả mong đợi của người học.
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là là gạt bỏ các phương pháp
dạy học truyền thống. Các sách lí luận đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức,
thì phương pháp thực hành là “tích cực” hơn phương pháp trực quan, phương

16
pháp trực quan thì sinh động hơn phương pháp thuyết trình. Muốn dạy và học
tích cực thì cần phát triển phương pháp thực hành, phương pháp trực quan. Đổi
mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ
thống phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng
một số phương pháp mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học. Một số
phương pháp dạy học tích cực gồm: Dạy học vấn đáp, đàm thoại; Dạy học phát
hiện và giải quyết vấn đề; Dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ…
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học đã được xác định trong nghị
quyết Trung ương 4 khoá VII (1 – 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII
(12 – 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hoá
trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4 – 1999).
Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải

lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú
học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy
truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn. Rất cần phát huy cao
năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin. Tăng cường học
tập cá thể phối hợp với hợp tác. Định hướng vào người học được coi là quan
điểm định hướng chung trong đổi mới phương pháp dạy học. Quan điểm định
hướng chung cần được cụ thể hoá thong qua những quan điểm dạy học khác,
như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống (dạy học gắn với tình
huống thực tiễn), dạy học định hướng hành động…cũng như các phương pháp,
kĩ thuật dạy học cụ thể nhằm tăng cường hơn nữa việc gắn lí thuyết với thực
tiễn, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội.
Đổi mới phương pháp dạy học được thực hiện theo các định hướng sau:
Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông; phù hợp với nội dung dạy học cụ thể;
phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh; phù hợp với cơ sở vật chất, các điều
kiện dạy học của nhà trường; phù hợp với việc đổi mới kiểm tra đánh giá kết
quả dạy - học; kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả

18
các phương tiện dạy học tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích
cực của các phương pháp dạy học truyền thống; tăng cường sử dụng các
phương tiện dạy học, thiết bị dạy học và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng
của công nghệ thông tin.
1.2. Đặc trƣng thể loại
Thơ mới 1930 – 1945 thuộc thể loại trữ tình. Tính trữ tình trong văn học
bao gồm khía cạnh diễn đạt sự phát triển nội tâm con người, một vấn đề khoa
học về con người. Đặc trưng của loại trữ tình là bộc lộ trực tiếp tư tưởng, cảm
xúc, nhiệt tình, tâm tư, những trạng thái mạnh mẽ, xao động phong phú của
tâm hồn và trí tuệ con người. “Sự rung động truyền cảm của tác phẩm trữ tình
là lời nói tràn đầy cảm xúc, suy nghĩ của nhà thơ, những lời nói thốt ra tự đáy
lòng. Không phải tất cả các tác phẩm bằng thơ đều là tác phẩm trữ tình,

trong các nhà trường, ngấy đến cực độ cái lối sống công thức, công chức đang
bao trùm ở quanh mình” (Lưu Trọng Lư). Họ khao khát được khẳng định
mình, được bộc lộ mình. Họ chọn thơ để kí thác tâm sự, gửi gắm những khao
khát trần thế. Và “cái tôi cá nhân” chính là một phương diện biểu hiện của Thơ
mới Việt Nam 1930 – 1945. Ngay khi ra đời Thơ mới đã nhanh chóng khẳng
định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các “hoàng tử thơ": Thế
Lữ , Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v.v
Đồng thời, Thơ mới là một hiện tượng thơ ca gây rất nhiều ý kiến khác nhau
trong giới phê bình, nghiên cứu và độc giả theo từng thời kỳ lịch sử xã hội, cho
đến bây giờ việc đánh giá vẫn còn đặt ra sôi nổi. Huy Cận khẳng định: “Trong
lịch sử văn học Việt Nam Phong trào Thơ mới giữ một vị trí quan trọng. Thơ
mới đã nằm trong mạch của dân tộc như máu thịt trong cơ thể giống nòi”. Nội
dung chính của Thơ mới là khẳng định cái tôi. Cái tôi cá nhân tự ý thức, “bản
ngã đòi được khẳng định” (Nguyễn Hoành Khung). Cái tôi có nhu cầu giao
cảm, thổ lộ mình để mong tìm sự đồng cảm, chia sẻ ở người khác, cá nhân
khác. Hoài Thanh gọi thời đại Thơ mới là “thời đại chữ tôi”: Chữ ta với họ to
rộng quá. Tâm hồn họ chỉ thu trong khuôn khổ chữ tôi. Và nó “mang theo một

20
quan niệm chưa từng có ở xứ này”: quan niệm cá nhân. Cái tôi trong Thơ mới
được đề cao và giữ vị trí trung tâm của những sáng tạo nghệ thuật, được bộc lộ
hết sức phong phú, phức tạp và hấp dẫn. Các nhà Thơ mới sống thành thực với
chính mình, dám bộc lộ những nhiệt thành, những mong muốn của cá nhân
mình. Thơ mới phá bỏ qui phạm, thoát khỏi hệ thống ước lệ có tính phi ngã.
Hoài Thanh, Hoài Chân tổng kết phong trào lại cho rằng: “phong trào Thơ mới
vứt đi nhiều khuôn phép xưa, song cũng nhiều khuôn phép nhân đó sẽ bền
vững trong các khuôn phép mới xuất hiện đều bị tiêu trầm như thơ tự do, thơ
mười chữ, thơ mười hai chữ, hay sắp sửa tiêu trầm như những cách gieo vần
phỏng theo thơ Pháp”. Sau này (1971), GS Hà Minh Đức thống kê 168 bài thơ
của 45 nhà Thơ mới được Hoài Thanh, Hoài Chân tuyển vào tập Thi nhân Việt

“Thơ ca của họ phản ánh cái tâm trạng u uất, day dứt của những người không
có lối thoát” (Hồng Chương), nhưng cái tình của họ, cái tình của những người
yêu đời, yêu cuộc sống nhưng “đứng giẫm chân tại chỗ khóc than” (Chế Lan
Viên) cũng rất đáng để chúng ta cảm thông và trân trọng. Thơ Xuân Diệu có
lúc thiết tha dào dạt: “Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn. Làm dây da quấn quýt cả
mình xuân”. Nhưng rồi lại tự nhận “Tôi là một con chim không tổ. Lòng cô đơn
hơn một đứa mồ côi” (Dối trá). Nhà thơ Huy Cận cũng có lúc thấy lòng thư
thái: “Cả không gian hồn hậu rất thơm tho. Gió đưa hương mùi, dìu dịu phất
phơ”. Nhưng có lúc lại xót xa, cay đắng: “Nhưng cô độc đã ngầm ghi trên
trán. Lòng lạc loài ngay giữa thuở sơ sinh” (Trình bày). Những vần thơ của họ
là “tiếng hát đau khổ, không chịu vui với cái xã hội ngang trái vùi dập đương
thời”. Đọc Thơ mới, người đọc tiếp xúc với thế giới những cảm xúc khác nhau,
rất phong phú, nhiều sắc điệu. Sức hấp dẫn của Thơ mới không phải chỉ ở sự
cách tân về nghệ thuật mà còn ở “nhạc điệu tâm hồn riêng của người Việt
Nam” thấm nhuần trong đó. Thế hệ học sinh ngày nay tìm thấy trong thơ tiếng
nói của chính mình, tiếng nói của tuổi trẻ sôi nổi, nhiệt thành yêu cuộc sống,
yêu Tổ quốc. Tình yêu đó trong Thơ mới có khi được bộc lộ một cách trực
tiếp, nồng nàn, tha thiết nhưng cũng có lúc lại ẩn sau tâm trạng buồn đau, cô

22
đơn, xót xa. Những con người ý thức được tình cảnh sống của mình, băn khoăn
trăn trở tìm lối ra nhưng bế tắc nên “đau đời”. “Đau đời” nhưng không cứu
được đời. Vì thế mà trong những vần Thơ mới, bóng dáng của nỗi đau nhân
thế, nỗi đau con người luôn hiện hữu. Hình ảnh “củi một cành khô” trôi dạt
giữa mênh mông sông nước không biết đi đâu về đâu trong thơ Huy Cận là
một sự ám ảnh về số phận con người trong cảnh mất nước.
Mặc dù Thơ mới xa rời cuộc đấu tranh chính trị, nhưng “tấm lòng yêu nước
thầm kín”, tấm lòng nhân ái của các nhà Thơ mới không phải không có người
quan tâm. Chắc chắn các thế hệ bạn đọc đều nhận ra được chiều sâu tình cảm,
nhận ra được những rung động sâu xa, những biến thái tinh tế nhất trong tâm

phong phú, phức tạp nhưng có cốt lõi từ thi hứng thiên về cộng đồng, cái ta, bề
rộng của thi hứng trung đại và cận đại chuyển sang thi hứng về cái riêng, cái
tôi, bề sâu của thi hứng hiện đại. Thơ từ chỗ nhìn ra bên ngoài quên chính
mình đến tìm hiểu chính mình mà quên bên ngoài. Bởi vậy trong Thơ mới xuất
hiện nhiều chữ "tôi" với tư cách là đại từ làm chủ ngữ để khẳng định chủ thể
sáng tạo, chủ thể cảm xúc và cũng rất nhiều từ "lòng tôi" nhằm giải thích trạng
thái tâm lý, tình cảm của chủ thể. Trong lịch sử thơ ca Việt Nam, chữ tôi chưa
bao giờ xuất hiện nhiều như thế. Điều ấy cũng dễ hiểu, cá nhân bao đời bị kìm
hãm bởi tư tưởng phong kiến cho nên cái tôi của nhà thơ bị chìm đắm, hòa tan
trong cộng đồng gia tộc xã hội, quốc gia nay được cởi trói, được giải thoát và
được khẳng định. Cá nhân được giải phóng là nhân tố quyết định sự phát triển
con người và cái tôi được đề cao, được tự do, tạo diều kiện cho sự sáng tạo, sự
phát triển cảm xúc. Thơ mới không chỉ biểu hiện cái tôi bề mặt, mà điều quan
trọng tạo nên cái mới là đi sâu khám phá cái tôi cảm xúc thành thật. Mỗi nhà
Thơ mới khai thác cái tôi theo quan niệm của mình nên giữa họ dù rất gần
nhau nhưng khác nhau, mỗi người là một cá tính nên biệt.
Tương ứng với sự thay đổi thi hứng là sự thay đổi thi pháp từ tổng hợp, súc
tích của thơ cũ sang tính phân tích, cởi mở, sự phong phú, đa dạng, nét riêng tư

24
của Thơ mới, thi pháp hiện đại. Thi pháp hiện đại khởi đầu bằng thi pháp lãng
mạn đi vào cái sâu, cái tôi, cái riêng. Các nhà Thơ mới đi tìm cái riêng do đó
phải tìm cách biểu hiện mới. Ban đầu họ tìm hình thức tự do bằng cách đập
phá hình thức thơ cũ. Thơ cũ lạm dụng thể thơ Đường luật (thất ngôn bát cú)
một thể thơ thống trị suốt thời trung đại cho đến đầu thế kỷ XX không còn khả
năng chuyển tải cảm hứng mới mẻ nữa. Thơ mới đã phá thơ Đường luật, cho ra
đời thể thơ tự do. Không dừng lại đó, họ tiếp tục sáng tạo, tìm tòi nhưng vẫn
nằm trong quy luật thơ. Sự thay đổi thi pháp cho phù hợp với thi hứng của
phong trào Thơ mới chứng minh một cách hùng hồn cho quy luật thống nhất
giữa nội dung và hình thức trong thơ ca. Nó nêu bật vai trò quyết định của nội

nhà văn; phải xuất hiện thường xuyên, có tính bền vững và phát triển theo một
quy luật nhất định. Như vậy một nhà văn ưu tú luôn phải tạo cho mình một
phong cách nghệ thuật độc đáo. Có người đã từng ví văn học là cây đàn nhiều
dây, mỗi nhà văn là một dây căng trên cây đàn ấy. Từng dây phải có cung bậc,
âm điệu riêng dù hợp lại chúng vẫn làm nên một hoà âm. Phong cách nghệ
thuật của nhà văn cũng vậy. Nó giúp nhà văn có một giọng hát riêng, đặc biệt
nổi bật trong thế giới nhiều cung bậc của văn học.
Phong cách nghệ thuật của nhà văn xét đến cùng là cảm quan thế giới của
nhà văn tạo ra, là kết quả cách nhìn nhận, khám phá cuộc sống của nhà văn.
mỗi nhà văn hoàn toàn có khả năng khám phá thế giới một cách khác nhau. Do
đó trang viết của họ cũng mang màu sắc rất khác nhau. Có bao nhiêu yếu tố
trong tác phẩm thì có bấy nhiêu chỗ cho phong cách nghệ thuật phát triển.
Qua phong cách nghệ thuật, độc giả có thể nhận diện tác giả đó về nhiều
mặt. Phong cách thể hiện những nét tài hoa, bản lĩnh của nhà văn nhưng đồng
thời cũng là kết quả của quá trình tìm tòi, khám phá, suy ngẫm, kết quả của
một chặng đường lao động không mệt mỏi của nhà văn. Không có một nhà văn
giỏi nào không có phong cách nghệ thuật độc đáo. Do đó hiểu phong cách
nghệ thuật của nhà văn sẽ giúp ta hiểu rõ những tác phẩm cụ thể của nhà văn

26
đó. Phong cách nghệ thuật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đọc hiểu
tác phẩm văn chương. Đây là cơ sở tiền đề, màn tính chất kiến thức nền giúp
cho mỗi cá nhân tiếp cận tác phẩm. Mỗi tác phẩm văn học, đặc biệt những tác
phẩm được lựa chọn vào Sách giáo khoa, ít nhiều cũng là sự thể hiện cụ thể
của phong cách nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ. Do vậy bên cạnh những kiến
thức liên quan như lịch sử, địa lí…yếu tố quan trọng là những hiểu biết về
phong cách nghệ thuật của nhà văn đó. Chương trình phổ thông luôn tiếp xúc
với những tác phẩm tiêu biểu, điển hình cho phong cách tác giả. Vì vậy việc
tìm hiểu phong cách của từng tác giả rất quan trọng.
1.3.1. Phong cách nghệ thuật Xuân Diệu qua bài thơ “Vội vàng”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status