ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ QUỐC TRIỆU
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY
HỌC HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ LỚP 11
CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN – TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………… 3
5. Giả thuyết khoa học…………………………………………… 3
6. Phương pháp nghiên cứu…………………… 3
7. Đóng góp mới của đề tài…………………………… 4
8. Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC 5
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học hoá học ở Việt Nam 5
1.1.1.Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 5
1.1.2.Định hướng cơ bản về đổi mới PPDH 6
1.1.3.Những xu hướng dạy học hoá học hiện nay 7
1.1.4.Dạy học tích cực 13
1.2. Chất lượng dạy học……………………………………………… … 16
1.2.1. Chất lượng giáo dục………………………………………………… ….16
1.2.2. Chất lượng dạy học (CLDH)………………………… ……… … 17
1.2.3. Một số định hướng đổi mới để nâng cao CLDH………….………… 17
1.3. Thí nghiệm hoá học trong dạy học hoá học ở trường THPT 20
1.3.1.Vai trò của thí nghiệm hoá học trong dạy học hoá học 20
1.3.2.Phân loại thí nghiệm trong dạy học hoá học 21
1.3.3.Yêu cầu sư phạm của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hoá
học 21
1.3.4.Thực trạng sử dụng thí nghiệm ở trường THPT tại Mỹ Hào- Hưng
Yên 22
3.2.1. Kế hoạch.……………………………………………………… 81
3.2.2. Tiến hành 82
3.2.3. Kết quả thực nghiệm 83
3.2.4. Xử lí kết quả thực nghiệm 84
3.2.5. Phân tích kết quả thực nghiệm 91
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1. Kết luận 94
2. Khuyến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………… ……… 96
PHỤ LỤC……………………………………………… ………… 99 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo của nước ta đã nhấn
mạnh vai trò then chốt của việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng
lấy người học làm trung tâm, giúp tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của người học. Trong giảng dạy phải ưu tiên áp dụng linh hoạt, thường
xuyên các phương pháp dạy học tích cực, các phương pháp có tính trực quan
cao, sử dụng các phương tiện, thiết bị đa dạng, sinh động, coi trọng thực
hành, thực nghiệm.
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết, yếu tố đặc
trưng này chính là kim chỉ nam cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học
tập môn hóa học. Do đó, phương pháp nhận thức đúng đắn về hóa học là phải
dựa trên những kết quả nghiên cứu thực nghiệm kết hợp chặt chẽ với các lí
thuyết cơ bản về hóa học như các định luật, các học thuyết…
Như vậy sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy là một phần không thiếu
11. Với vai trò là một giáo viên giảng dạy bộ môn hóa học ở trường phổ
thông tôi rất mong muốn việc học tập và nghiên cứu của mình sẽ góp một
phần nhỏ bé vào quá trình hoàn thiện, xây dựng hệ thống phương pháp áp
dụng các thí nghiệm vào giảng dạy. Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài: “ Nâng
cao chất lượng sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học phần vô cơ lớp
11 chương trình cơ bản– trung học phổ thông .”
2. Mục đích nghiên cứu
- Sử dụng các thí nghiệm hóa học trong giảng dạy có hiệu quả nhằm nâng
cao năng lực nhận thức cho học sinh.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu và tổng hợp lí thuyết về: đặc trưng của môn hóa học, đặc
điểm của thí nghiệm hóa học, vai trò của thí nghiệm trong dạy học Hóa học,
ưu điểm, nhược điểm của việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học
Tìm hiểu mục đích và phương pháp sử dụng thí nghiệm trong dạy học .
3
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy nói
chung và trong giảng dạy phần vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản nói riêng, từ đó
đề xuất cách thức xây dựng và vận dụng các thí nghiệm trong dạy học hóa học.
Khảo sát tính hiệu quả của việc sử dụng thí nghiệm vào các bài dạy.
Thống kê, xử lí và phân tích kết quả thu được.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giảng dạy môn hóa học ở trường trung học phổ thông.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các thí nghiệm thuộc phần vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản và cách sử
dụng chúng theo hướng dạy học tích cực.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Phần hóa học vô cơ lớp 11 chương trình cơ bản.
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo,
phụ lục luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng sử dụng
thí nghiệm trong dạy học
Chương 2: Sử dụng hệ thống thí nghiệm trong dạy học hoá học trong phần vô
cơ lớp 11 chương trình cơ bản
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm 5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG DẠY HỌC
1.1.Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở Việt Nam
1.1.1.Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội,
nhiệm vụ của giai đoạn hiện nay là thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước phấn đấu đến năm 2020 đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp. Trong những vấn đề cần thực hiện đổi mới thì đổi mới phương
pháp dạy học có vị trí vô cùng quan trọng. Luật GD (2005), điều 24.2 đã ghi:
1.1.2. Định hướng cơ bản về đổi mới PPDH
Bản chất của việc đổi mới PPDH là tổ chức cho người học được học tập
trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo, trong đó việc
xây dựng phong cách học tập tự chủ, sáng tạo là cốt lõi của đổi mới PPDH nói
riêng.
Một số phương hướng nhằm hoàn thiện các PPDH Hóa học ở trong nước
như sau :
1.1.2.1. Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính phương pháp luận để tìm hiểu bản
chất của PPDH và định hướng hoàn thiện PPDH
Đổi mới PPDH thực chất là một quá trình nâng cao hiệu quả của công
tác dạy học, làm cho công tác này gắn bó và phục vụ tốt hơn cho việc hình
thành và phát triển các phẩm chất nhân cách của con người Việt Nam hiện đại
và tương lai như trong định hướng mà Nghị quyết của Đảng đã chỉ ra. Đổi
mới PPDH đòi hỏi chúng ta vừa phải nhạy bén sáng tạo nhưng đồng thời cũng
phải bám sát thực tiễn cuộc sống . Chỉ có như vậy công tác đổi mới PPDH
mới đem lại hiệu quả thực sự cho giáo dục nước nhà.
1.1.2.2. Hoàn thiện chất lượng các PPDH hiện có và sử dụng phối hợp nhiều
PPDH
Việc đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay phải dựa trên cơ sở người
dạy tổ chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác,
7
tích cực, sáng tạo. Chuyển dần trọng tâm từ việc giảng dạy kiến thức sang
giảng dạy phương pháp học, trong đó có phương pháp tự học cho người học.
Sử dụng phối hợp nhiều PPDH của người dạy, nhiều hình thức hoạt động
của người học nhằm giúp họ hoạt động chủ động, sáng tạo, khai thác và tận
dụng mặt tốt của mỗi phương pháp.
PPDH hóa học phải thể hiện được đặc trưng của bộ môn Hóa học là thực
nghiệm, do đó phải tăng cường sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực
kinh nghiệm của từng HS trong việc tiếp thu kiến thức và xây dựng bài học.
-Về hình thức tổ chức: Không khí lớp học thân mật tự chủ, bố trí lớp học linh
hoạt phù hợp với hoạt động học tập và đặc điểm của từng tiết học. Giáo án
bài dạy cấu trúc linh hoạt và có sự phân hoá, tạo điều kiện cho sự phát triển
năng khiếu của từng cá nhân.
-Về kiểm tra đánh giá: GV đánh giá khách quan, HS tham gia vào quá trình
nhận xét đánh giá kết quả học tập của mình (tự đánh giá), đánh giá nhận xét
lẫn nhau. Nội dung kiểm tra chú ý đến các mức độ: tái hiện, vận dụng, suy
luận, sáng tạo.
-Kết quả đạt được: Tri thức thu được vững chắc bằng con đường tự tìm tòi,
HS được phát triển cao hơn về nhận thức, tình cảm, hành vi, tự tin trong cuộc
sống.
1.1.3.2. Dạy học theo hướng “Hoạt động hoá người học”
* Bản chất của việc đổi mới PPDH theo hướng hoạt động hoá người học
Định hướng hoạt động hoá người học chú trọng đến việc:
- Dạy học thông qua hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của người học.
- Hình thành công nghệ kiểm tra, đánh giá.
- Sử dụng phương tiện kĩ thuật trong dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Theo định hướng đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất:
- Học sinh phải được hoạt động nhiều hơn và trở thành chủ thể hoạt động, đặc
biệt là hoạt động tư duy.
9
- Các PPDH phải thể hiện được PP nhận thức khoa học bộ môn và tận dụng
khai thác đặc thù của bộ môn để tạo ra các hình thức họat động đa dạng,
phong phú của HS trong giờ học.
- Chú trọng dạy HS phương pháp tự học, PP tự nghiên cứu trong quá trình
học tập.
* Học tập và sáng tạo. Vai trò mới của người giáo viên
học như: Tăng cường sử dụng TN hoá học, các phương tiện trực quan, sử
dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động của HS như: TN, dự đoán lí thuyết,
mô hình hoá, giải thích, thảo luận nhóm giúp HS được hoạt động tích cực
chủ động.
+ Đổi mới hoạt động học tập của HS và tăng thời gian dành cho HS hoạt
động trong giờ học. Hoạt động của GV chú trọng đến việc thiết kế, hướng
dẫn,điều khiển các hoạt động và tư duy của HS khi giải quyết các vấn đề học
tập thông qua các hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm. GV cần động viên
HS hoạt động nhiều hơn trong giờ học, giảm tối đa các hoạt động nhận thức
thụ động.
+ Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực sáng tạo của HS.
Thường xuyên sử dụng tổ hợpcác PPDH tích cực, các phương pháp KTĐG,
đặc biệt đánh giá cao kiến thức về TN hoá học, kĩ năng thực hành cũng như
kĩ năng biết vận dụng sáng tạo kiến thức để giải quyết các vấn đề có liên
quan đến thực tiễn.
+ Sử dụng phương tiện kĩ thụât dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin
trong dạy học hoá học. Các phương tiện kĩ thuật dạy học bao gồm: đèn chiếu,
máy chiếu phim, rađio, cacset, tivi, camera, máy vi tính …,cùng các giá mang
thông tin như: bản trong(sử dụng cho máy chiếu hắt ), phim, đĩa và băng từ
(sử dụng cho camera, máy vi tính, đầu kĩ thuật số…), các phần mềm
1.1.3.3. Tiếp cận kiến tạo trong dạy học
* Quan điểm kiến tạo trong học tập
11
Lí thuyết kiến tạo là một tiếp cận mang tính GD, trong đó nhấn mạnh rằng
người học sẽ đạt được hiệu quả cao nhất khi họ chủ động tạo dựng kiến thức
và sự hiểu biết cho mình. Thuyết kiến tạo coi việc học tập là một quá trình
tạo dựng và chuyển đổi kiến thức. Nếu người học sử dụng kinh nghiệm của
bản thân để tạo dựng (kiến tạo) kiến thức thì hơn là việc nắm bắt kiến thức có
Cần cung cấp những kiến thức dưới dạng tình huống có vấn đề có liên quan
đến kiến thức vốn có của HS.
Tạo cơ hội cho HS suy nghĩ tìm ra cách giải quyết vấn đề, kiến tạo kiến thức
mới, đề ra giả thuyết, các nguyên tắc thực hiện và thử nghiệm kiến thức mới.
Cần động viên HS thể hiện, trình bày những kiến thức mới kiến tạo được và
tạo môi trường học tập khuyến khích HS tham gia tích cực.
Trong dạy học GV không chỉ đơn thuần là người truyền thụ kiến thức mà
còn thể hiện vai trò là người động viên, khuyến khích HS tham gia tích cực
vào quá trình kiến tạo kiến thức, người dự đoán, tìm hiểu những suy nghĩ,
những kiến thức vốn có trong đầu HS trước giờ học cũng như trong giờ học,
người chỉ dẫn giúp HS kiến tạo những kiến thức có ý nghĩa với họ, người
thúc đẩy những họat động học tập, quá trình biến đổi kiến thức trong HS.
Những điểm cơ bản theo mô hình dạy học tiếp cận kiến tạo là:
- Bài giảng của GV sẽ không theo một khuôn mẫu cứng nhắc, cố định nào đó
mà có thể theo nhiều kịch bản khác nhau. Điều này tạo điều kiện cho GV và
HS tham gia vào quá trình dạy học theo nguyên tắc: HS tìm kiếm-GV tư vấn
trợ giúp. GV khuyến khích HS tự đưa ra câu hỏi, tình huống để khám phá đối
tượng, giúp HS mở rộng kiến thức và vận dụng tốt hơn các kiến thức thu
được vào các tình huống khác nhau. Trong quá trình tư vấn, trợ giúp GV cần
đặc biệt chú ý truyền đạt cho HS PP khái quát, tổng hợp kiến thức từ các giữ
liệu, tình huống học tập mà HS kiến tạo.
- Khi kiến tạo kiến thức HS không chỉ dựa vào nội dung kiến thức GV đưa ra
mà còn căn cứ vào các hoạt động tương tác đối thoại giữa thầy-trò,trò-trò và
thông tin từ các nguồn tài liệu khác.
- Việc kiểm tra đánh giá, thi cử không chỉ là công cụ đôn đốc, bắt buộc HS
phải thực hiện yêu cầu của chương trình, mà còn là công cụ để GV và HS
13
đánh giá đúng trình độ của HS và kết quả đào tạo. Do đó một mặt cần đa
PPDH hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá hoạt động nhận thức của
người học chống lại thói quen học tập thụ động.
1.1.4.2. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
-Những PPDH có chú trọng đến việc tổ chức, chỉ đạo để người học trở
thành chủ thể hoạt động, tự khám phá những kiến thức mà mình chưa biết.
-Những PPDH có chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng, PP và thói quen tự
học từ đó mà tạo cho HS sự hứng thú, lòng ham muốn, khát khao học tập,
khởi động lòng ham muốn vốn có trong mỗi HS để giúp họ dễ dàng thích ứng
với cuộc sống của XH phát triển, XH tri thức.
-Những PPDH chú trọng đến việc tăng cường học tập cá thể, phối hợp với
học tập hợp tác theo nhóm, lớp học.
-Những PPDH có sự phối hợp sử dụng rộng rãi các phương tiện trực quan,
nhất là các phương tiện kĩ thuật nghe nhìn như: máy vi tính, các phần mềm
dạy học đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo năng lực và nhu
cầu của mỗi HS, giúp các em tiếp cận được với các phương tiện kĩ thuật hiện
đại trong XH phát triển.
-Những PPDH có sử dụng các PP kiểm tra đánh giá đa dạng khách quan, tạo
điều kiện để HS được tham gia tích cực vào hoạt động tự đánh giá và đánh
giá lẫn nhau.
1.1.4.3.Một số phương pháp dạy học tích cực hiện nay
* Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại ơrixtic)
Đây là PP mà trong đó GV là người tổ chức sự trao đổi ý kiến, kể cả tranh
luận, giữa GV với cả lớp, giữa HS với HS, thông qua đó HS lĩnh hội được nội
dung bài học.
Trong vấn đáp tìm tòi, GV dùng hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lí để
hướng dẫn HS từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính qui luật của
hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích tính tích cực tìm tòi, sự ham muốn hiểu
biết. Ở đây GV giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn HS giống như người
tự lực phát hiện kiến thức mới. Khi kết thúc cuộc đàm thoại HS có được niềm
16
phương thức tác động qua lại của các thành viên và bằng trí tuệ tập thể để
hoàn thành các nhiệm vụ học tập.
Cấu trúc của quá trình dạy học theo nhóm:
Giáo viên Học sinh
↓ ↓
Hướng dẫn HS tự nghiên cứu Tự nghiên cứu cá nhân
↓ ↓
Tổ chức thảo luận nhóm Hợp tác với bạn trong nhóm
↓ ↓
Tổ chức thảo luận lớp Hợp tác với bạn trong lớp
↓ ↓
Đánh giá, kết luận Tự đánh giá, điều chỉnh
Cấu tạo của một tiết học (một buổi làm việc) theo nhóm như sau:
1. Làm việc chung cả lớp:
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức.
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ.
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm.
2. Làm việc theo nhóm:
- Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi.
- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm.
3. Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp:
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
- Thảo luận chung.
- GV tổng kết, đặt vấn đề cho vấn đề tiếp theo hoặc bài tiếp theo.
1.2. Chất lượng dạy học
1.2.1. Chất lượng giáo dục
Chất lượng giáo dục là một vấn đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu
học tập của người học. Người là người quyết định chính đến CLDH. Muốn
nâng cao được CLDH thì đồng nghĩa với việc phải nâng cao chất lượng của
người học.
1.2.3. Một số định hướng đổi mới để nâng cao CLDH
1.2.3.1. Những định hướng đổi mới và phát triển trong xây dựng chương
trình chuẩn môn Hóa học THPT
- Đảm bảo mục tiêu
18
- Đảm bảo tính phổ thông, cơ bản và thực tiễn trên cơ sở hệ thống tri thức
của khoa học Hóa học tương đối hiện đại
- Đảm bảo một cách cơ bản tính đặc thù của bộ môn Hóa học
- Đảm bảo một cách cơ bản định hướng đổi mới PPDH Hóa học theo hướng
dạy học tích cực
- Đảm bảo cơ bản định hướng về đổi mới KTĐG kết quả học tập Hóa học
của người học
- Đảm bảo thừa kế những thành tựu của giáo dục Hóa học trong nước và trên
thế giới
- Đảm bảo tính phân hóa trong chương trình Hóa học phổ thông
1.2.3.2. Những quan điểm, định hướng cơ bản về đổi mới SGK
SGK mới được biên soạn theo những định hướng sau :
- Nội dung SGK phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, tinh giản, thiết thực
và cập nhật với sự phát triển của khoa học- công nghệ, kinh tế - xã hội. Tăng
cường khả năng thực hành và ứng dụng, gắn liền với thực tiễn Việt Nam,
đồng thời kế thừa và phát huy những ưu điểm của SGK đã có của nước ta,
tiếp cận với trình độ của các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Có sự hài hòa và thống nhất giữa cấu trúc, nội dung, phương pháp, hình
thức trình bày với tính đa dạng linh hoạt ở các nội dung cụ thể, giúp người
học vừa thuận lợi trong việc sử dụng sách vừa phát triển khả năng tư duy
phương pháp để chiếm lĩnh kiến thức đó. Vì vậy, nội dung KTĐG trong Hóa
học cần đa dạng nhằm thực hiện mục tiêu môn học thể hiện trong chuẩn kiến
thức và kĩ năng
Trong qua trình KTĐG kết quả học tập của người học cần chú ý đánh
giá theo tỷ lệ phù hợp 3 mức độ : biết, hiểu và vận dụng.
KTĐG cần tập trung vào nội dung thực hành của người học bởi hóa học
là một môn khoa học thực nghiệm. Đặc biệt cần chú ý đánh giá kĩ năng vận
dụng kiến thức, kĩ năng thực hiện các hoạt động cụ thể. Đồng thời KTĐG cần
chú ý đánh giá phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức của người học.
20
Cần thực hiện đánh giá năng lực vận dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn,
đánh giá cả quá trình chứ không chỉ đánh giá kết quả cuối cùng.
Ngoài ra, KTĐG cần chú ý đến khả năng hợp tác và làm việc theo nhóm
của người học, đây cũng là một trong những định hướng đổi mới phương
pháp dạy học.
*Hình thức KTĐG
Cần chú ý kết hợp giữa kiểm tra trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự
luận để làm tăng tính khách quan của đánh giá. Đặc biệt khuyến khích học
sinh tự đánh giá, tự kiểm tra thông qua các bài tập sau mỗi bài, mỗi chương.
1.3. Thí nghiệm hóa học trong dạy học hóa học ở trường THPT
1.3.1 Vai trò của thí nghiệm hoá học trong dạy học hoá học
Thí nghiệm hoá học có ý nghĩa to lớn trong dạy học hoá học, nó giữ vai trò
cơ bản trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học hoá học vì:
- Thí nghiệm giúp HS dễ hiểu bài và hiểu bài sâu sắc. TN là cơ sở, điểm xuất
phát cho quá trình học tập-nhận thức của HS.
- Từ đây xuất phát quá trình nhận thức cảm tính của HS, để sau đó diễn ra sự
trừu tượng hóa và tiến lên đến cụ thể trong tư duy.
- Thí nghiệm giúp nâng cao lòng tin của HS vào khoa học và phát triển tư