Thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung sinh học động vật , sinh học lớp 11, trung học phổ thông - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHAN THANH HUYỀN
THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG “SINH HỌC ĐỘNG VẬT”,
SINH HỌC LỚP 11, TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI - 2013
HÀ NỘI - 2013 4 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐC
Đối chứng
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
SHĐV
Sinh học động vật
THPT
Trung học phổ thông
TN
Thực nghiệm
TNKQ
Trắc nghiệm khách quan
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU

5
1.1. Cơ sở lí luận của đề tài
5
1.1.1. Tổng quan về câu hỏi trắc nghiệm khách quan
5
1.1.2. Khái niệm về câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
9
1.1.3. Phân loại các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
10
1.1.4. Vai trò của câu hỏi TNQK
11
1.1.5. Trắc nghiệm đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng pháp dạy học
15
1.1.6. Đặc điểm về mục tiêu và nội dung chƣơng trình sinh học động
vật sinh học 11

18
1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
24
1.2.1. Thực trạng dạy học sinh học động vật trong nhà trƣờng THPT hiện nay
24
1.2.2.Nguyên nhân của thực trạng dạy học phần sinh học động vật –
sinh học lớp 11 THPT

32
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
84
3.1. Mục đích thực nghiệm
84
3.2. Nội dung và phƣơng pháp thực nghiệm
84
3.2.1. Nội dung thực nghiệm
84
3.2.2. Phƣơng pháp thực nghiệm
84
3.3. Xử lý số liệu
86
3.3.1. Phân tích kết quả định tính
86
3.3.2. Phân tích kết quả định lƣợng
86 7

3.4. Kết quả thực nghiệm
87
3.4.1. Đánh giá định tính
90
3.4.2. Đánh giá định lƣợng
91
3.4.3. Kết luận chung về TNSP
97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
98

25
Bảng 1.5. Kết quả khảo sát phƣơng pháp học tập của HS
27
Bảng 1.6. Kết quả điều tra việc sử dụng CH TNKQ trong các khâu
của quá trình dạy học

31
Bảng 2.1. Trọng số chung cho phần sinh học động vật
45
Bảng 2.2. Trọng số chi tiết cho các chƣơng mục trong chƣơng trình
SHĐV trong học kỳ I

47
Bảng 2.3. Độ khó và độ phân biệt của các câu hỏi trong bài trắc
nghiệm

51
Bảng 3.1. Các bài dạy thực nghiệm
85
Bảng 3.2. Tần suất điểm kiểm các bài kiểm tra trong TN
92
Bảng 3.3. Tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN
93
Bảng 3.4. Kiểm định
X
điểm kiểm tra trong TN
94
Bảng 3.5. Phân tích phƣơng sai điểm kiểm tra trong TN
95
Bảng 3.6. Tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN

92
Hình 3.3. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra trong TN
93
Hình 3.4. Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra sau TN
96
Hình 3.5. Đồ thị tần suất hội tụ tiến điểm các bài kiểm tra sau TN
97
Sơ đồ 2.1. Logic bên trong của quá trình sƣ phạm sử dụng MCQ trong
dạy nội dung kiến thức mới trong SGK

57
11

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1.1. Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học ở
trường phổ thông
Đổi mới giáo dục thì cần phải đổi mới cả về chƣơng trình, nội dung, sách giáo
khoa, phƣơng pháp dạy học đồng thời phải đổi mới cả về phƣơng thức kiểm tra
đánh giá. Trong đó phƣơng hƣớng đổi mới về kiểm tra đánh giá là kết hợp
phƣơng thức kiểm tra truyền thống tự luận với kiểm tra đánh giá bằng trắc
nghiệm. Với mục tiêu đổi mới phƣơng pháp dạy học nhằm giúp hoàn thiện quá
trình dạy của GV và quá trình học của HS. Để bổ sung vào nhƣng phƣơng pháp
dạy học tích cực, GV có thể sử dụng kết hợp câu hỏi trắc nghiệm khách quan vào
quá trình dạy học bài mới với phƣơng pháp này đã góp phần làm cho quá trình
dạy học của GV tích cực và giúp HS tích cực trong quá trình học bài mới và nhờ
đó có thể giúp HS phát triển tƣ duy trong nghiên cứu kiến thức mới.
Hơn nữa, giáo viên hiện nay còn hạn chế trong việc tìm tòi những câu hỏi

kiến thức mới bằng nhiều cách khác nhau. Vậy dựa vào đặc điểm luôn tò mò và
thích đổi mới của HS, GV bên cạnh việc sử dụng hệ thống câu hỏi tự luận có thể
GV đƣa vào những câu hỏi TNKQ có thể làm tăng tính tò mò, giúp HS tập trung tƣ
duy tìm hiểu những kiến thức mới từ những câu hỏi TNKQ này.
Xuất phát từ các lý do trên, chúng tôi chọn lựa đề tài nghiên cứu: “Thiết
kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học nội dung “sinh
học động vật”, sinh học lớp11, trung học phổ thông”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đổi mới PPDH phần SHĐV 11- sinh học lớp 11 bằng việc sử dụng hệ
thống câu hỏi TNKQ.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quy trình thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy
học phần sinh động vật – sinh 11.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học nội dung sinh học 11 SHĐV của giáo viên, học sinh trƣờng
THPT Kim Sơn B, THPT Kim Sơn C, tỉnh Ninh Bình.
- Giáo viên dạy học phần sinh học động vật – sinh học lớp 11, ở một số trƣờng
THPT trên địa bàn huyện Kim Sơn– tỉnh Ninh Bình. 13

- Học sinh lớp 11, ở một số trƣờng THPT trên địa bàn huyện Kim Sơn – Tỉnh
Ninh Bình.
3.3. Thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực hiện đề tài: tháng 4/2012 – 12/2012.
4. Giả thuyết nghiên cứu
Vận dụng lí thuyết câu hỏi TNKQ trong dạy học phần sinh học động vật
– Sinh học 11 góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh và nâng

Tiến hành thực nghiệm dạy học ở nhóm lớp thực nghiệm và đối chứng
để đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của việc sử dụng câu hỏi TNKQ và
trong dạy học phần SHĐV – Sinh học 11.
- Đối với lớp thực nghiệm: Tiến hành giảng dạy theo giáo án đã soạn có
sử dụng câu hỏiTNKQ
- Đối với lớp đối chứng: Tiến hành giảng dạy bình thƣờng.
6.3. Phương pháp thống kê toán học
Các số liệu thu đƣợc trong thực nghiệm sƣ phạm đƣợc xử lý thống kê
bằng phần mềm Microsoft Excel, xác định các tham số đặc trƣng mang tính
khách quan.
7. Những đóng góp mới của luận văn
Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan là công cụ bƣớc đầu giúp giáo viên
thiết kế và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để dạy học phần SHĐV
nhằm tích cực hóa hoạt động của ngƣời học.
Sử dụng một cách linh hoạt bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong
dạy học phần sinh học động vật sẽ góp phần tạo nên một phƣơng pháp dạy học
tích cực giúp giáo viên truyền đạt kiến thức cho học sinh đạt hiệu quả cao.
Đề tài còn đề xuất quy trình soạn bài giảng có sử dụng câu hỏi TNKQ,
và vận dụng câu hỏi TNKQ trong quá trình dạy học phần SHĐV Sinh học 11.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ
lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng
Chƣơng 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chƣơng 2 Thiết kế và sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học môn sinh
học động vật – Sinh học 11
Chƣơng 3 Thực nghiệm sƣ phạm


xây dựng và sử dụng nhanh chóng TNKQ, Popham, Glaer… nghiên cứu ƣu 16

điểm của trắc nghiệm, tiêu chí, nguyên tắc, thủ tục, kĩ thuật xây dựng loại câu
hỏi trắc nghiệm này, tính toán độ giá trị, độ tin cậy của câu hỏi trắc nghiệm,
bài trắc nghiệm, giải thích các điểm số của bài trắc nghiệm. Nhiều công trình
nghiên cứu đo lƣờng, đánh giá kết quả học tập đã công bố nhƣ: Erwin,
Hopkins, Stanley… Các tác giả này đi sâu vào phƣơng pháp đo lƣờng từng
lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định
nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm.
Ở nhiều cuộc thi Olympic Sinh Học có sử dụng câu hỏi TNKQ để đo
mức độ tƣ duy của HS, đã đƣợc sự hƣởng ứng của đông đảo các nƣớc tham gia
và tỏ ra có nhiều ƣu điểm trong khâu chấm bài, làm bài vì các HS dự thi đa số
bất đồng về ngôn ngữ.
1.1.1.2. Ở Việt Nam
* Ở miền Bắc
Phƣơng pháp TNKQ đã đã đƣợc sử dụng cho nhiều hiệu quả nhất định, đi
đầu là các trƣờng Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Sự Phạm, Đại Học Quốc Gia
Hà Nội và Đại Học Y Khoa Hà Nội. Các trƣờng đã mở nhiều cuộc hộ thảo cho
vấn đề áp dụng TNKQ trong kiểm tra đánh giá do các tổ chức phi chính phủ
của nƣớc ngoài tài trợ (Melboume của Australia, SIDA Thụy Điển), hơn nữa
còn mở lớp tập huấn về “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm” nhằm trang
bị nhƣng lí luận cơ bản cho việc thực thi phƣơng pháp này ở các trƣờng học.
Năm 1971 Giáo sƣ Trần Bá Hoành công bố “Dùng phƣơng pháp Test để
kiểm tra nhân thức của HS về một số khái niệm trong chƣơng trình sinh học
đại cƣơng lớp 9”. Năm 1996 – 1997, ông đã đề cập nhiều lần đến TNKQ trong
các tài liệu “Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu bồi dƣỡng dạy sách giáo khoa
lớp 12 cải cách giáo dục môn sinh học”, “Đổi mới phƣơng pháp dạy học, nội

GS. Trần Bá Hoành, tác giả Dƣơng Thị Thu Hiền cũng đã xây dựng đƣợc luận
văn “Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhiều lựa chọn (MCQ) để
tổ chức dạy – học kiến thức mới phần di truyền học, sinh học 12 ban cơ bản –
trung học phổ thông” đã góp phần xây dựng thêm hệ thống câu hỏi TNKQ để
giúp GV trong quá trình dạy học.[7] 18

Từ năm 2000 – 2003, PGS.TS. Lê Đình Trung và PGS.TS.Trịnh Nguyên
Giao đã chủ biên nhiều cuốn sách dùng cho ôn thi học sinh giỏi, ôn thi THPT,
Cao Đẳng, Đại Học theo hƣớng TNKQ nhƣ: “1111 câu hỏi trắc nghiệm sinh
học”, “Tuyển tập sinh học 1000 câu hỏi và bài tập”, “Chuyên đề luyện thi đại
học”
* Ở miền Nam
Phƣơng pháp TNKQ đƣợc sử dụng sớm hơn so với miền bắc, nó đƣợc áp
dụng rải rác trong các trƣờng học từ năm 1950. Từ năm 1956 đến năm 1960
trong các trƣờng học đã sử dụng rộng rãi hình thức TNKQ ở bậc trung học,
sớm nhất là trong Sinh học. Năm 1963, “Trắc nghiệm Vạn vật lớp 12” của Lê
Quang Nghĩa đƣợc xuất bản năm 1964; “Phƣơng pháp học và thi vạn vật lớp
12” của Phùng Văn Hƣớng đƣợc xuất bản. Năm 1969, Dƣơng Thiêu Tống đã
giảng dạy “Trắc nghiệm thành quả học tập” cho các lớp Cao học và Tiến sĩ
giáo dục tại ĐHSP Sài Gòn. Nhƣ vậy, khoa học TNKQ chính thức đƣợc đƣa
vào chƣơng trình đào tạo GV và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển
lúc bấy giờ, Nhà khảo thí (Trực thuộc bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên
phát hành đề thi TNKQ trong các kì thi cho các trƣờng trung học. Năm 1974,
kì thi tú tài toàn phần đã đƣợc thi bằng TNKQ, sau năm 1975 một số trƣờng
vẫn áp dụng TNKQ song có nhiều tranh luận nên hay không nên áp dụng
TNKQ trong thi cử.
Tại trƣờng Đại học Huế vào năm 1993 đã đồng loạt triển khai việc

thêm. Sự tƣơng quan giữa cái đã biết và cái chƣa biết thúc đẩy việc mở rộng
hiểu biết của con ngƣời.
1.1.2.2. Khái niệm về trắc nghiệm
Theo chữ Hán: “Trắc” là đo, “nghiệm” là suy xét, xác nhận.
Theo GS.TS. Dƣơng Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay
phƣơng thức hệ thống nhằm đo lƣờng một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi:
thành tích của các cá nhân nhƣ thế nào khi so sánh với những ngƣời khác hay
so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến”.
Theo GS. Trần Bá Hoành: “Test: có thể tạm dịch là phƣơng pháp trắc
nghiệm, là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ 20

của học sinh (thông minh, trí nhớ, tƣởng tƣợng, chú ý) hoặc để kiểm tra một số
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh thuộc một chƣơng trình nhất định.
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động đƣợc thực hiện để đo
lƣờng năng lực của các đối tƣợng nào đó nhằm những mục đích xác định.
Trong giáo dục, trắc nghiệm đƣợc tiến hành thƣờng xuyên ở các kì thi
kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, đối với một phần của môn học, toàn bộ
môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số ngƣời có năng lực
vào một khóa học.
Trắc nghiệm viết thƣờng đƣợc chia thành hai nhóm : Trắc nghiệm tự
luận (essay) và trắc nghiệm khách quan (objective test).
1.1.2.3. Khái niệm về trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan là phƣơng pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan. Gọi là khách
quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào ngƣời chấm.
1.1.3. Phân loại các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan: bài trắc nghiệm đƣợc gọi là trắc nghiệm khách

- Loại đúng sai: Hạn chế, thích hơp cho kiểm tra vấn đáp nhanh. Thƣờng
sử dụng khi không tìm đƣợc đủ phƣơng án cho nhiều lựa chọn.
- Loại ghép đôi (hay xứng hợp): thích hợp cho các kiến thức về cấu tạo
phù hợp với chức năng, thích hợp với kiểm tra nhận biết kiến thức cơ bản sau
khi học xong 2 chƣơng, 1 chủ đề.
- Nhiều lựa chọn: có thể sử dụng cho mọi hình kiểm tra, đánh giá. Rất
thích hợp cho việc đánh giá để phân loại.
Nhƣ vậy, trong bốn dạng câu hỏi TNKQ thì dạng câu hỏi nhiều lựa còn
đƣợc áp dụng nhiều nhất trong kiểm tra đánh giá đối tƣợng học sinh THPT,
nên dạng câu hỏi TNKQ sẽ đƣợc sử dụng chủ yếu trong dạy học nội dung các
bài sinh học
1.1.4. Vai trò của câu hỏi TNQK
Trắc nghiệm là phƣơng pháp để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ
của học sinh (HS) nhƣ chú ý, tƣởng tƣợng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu …
hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ sảo, thái độ của HS. 22

TNKQ là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm theo câu trả lời.
Loại câu hỏi này nhằm cung cấp cho HS một phần hay tất cả thông tin hoặc
điền thêm một vài từ, loại này còn gọi là câu hỏi đóng.
* TNKQ là một phương tiện truyền tải nội dung dạy học
Bộ câu hỏi TNKQ đƣợc xây dựng dựa trên các mục tiêu dạy học cụ thể. Do đó
bộ câu hỏi nhƣ một hình mẫu mà qua đó có thể thực hiện đƣợc các mục tiêu dạy
học. Khi học sinh đƣợc trắc nghiệm tiếp cận với những yêu cầu có trong nội dung
câu hỏi TNKQ, họ phải sử dụng các thao tác tu duy, phân tích, so sánh, tổng hợp
… cùng với những kiến thức đã có để tìm ra phƣơng án đúng. Để tìm đƣợc câu
trả lời đúng HS không chỉ nắm kiến thức mà cần phải hiểu rõ vấn đề. Nhất là đối
với câu hỏi TNKQ –MCQ có khả năng gây nên những thắc mắc, những khó khắn

sinh hình thành và phát triển các kỹ năng cơ bản.
* TNKQ phát huy tích cực, chủ động sáng tạo, rèn luyện năng lực tự học tự
nghiên cứu cho HS
Trong quá trình tổ chức dạy học cho học sinh có thể sử dụng TNKQ
giao cho mỗi cá nhân hoặc nhóm HS hoàn thành, bắt buộc HS phải chủ động
tìm tòi kiến thức. Vì vậy, tích cực chủ động, sáng tạo của HS đƣợc nâng lên.
Mặt khác mỗi TNKQ có thể dùng trong nhiều khâu của quá trình tự học
nhƣ nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, kiểm tra đánh giá dƣới nhiều hình
thức nhƣ các lớp hoặc ở nhà có thể cần sự giúp đỡ của giáo viên hoặc không .
Do vậy TNKQ còn phát huy đƣợc khả năng tự học tự nghiên của HS.
Tóm lại, TNKQ thƣờng đƣợc thiết kế dƣới dạng một câu hỏi nhỏ có nhiều
phƣơng án trả lời. Vì vậy, ƣu thế của TNKQ là xác định ngay đƣợc một đơn vị
nội dung kiến thức thoả mãn một nhiệm vụ học tập nào đó do GV đƣa ra. Với
TNKQ một nhiệm vụ học tập phức tạp đƣợc định hƣớng rõ ràng, diễn đạt ngắn
gọn trong các phƣơng án trả lời của MCQ.TNKQ có thể sử dụng trong tất cả
các khâu của quá trình dạy học.
* TNKQ đảm bảo thông tin hai chiều giữa dạy và học, làm cơ sở cho việc
uốn nắn, chỉnh sửa những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của người học
Sử dụng TNKQ trong dạy học, giáo viên có thể kiểm soát, đánh giá đƣợc
động lực học tập của học sinh thông qua kết quả hoàn thành TNKQ, thông qua
báo cáo kết quả cá nhân, thảo luận trong tập thể từ đó chỉnh sửa, uốn nắn 24

những lệch lạc trong hoạt động nhận thức của học sinh. Do đó TNKQ đã trở
thành phƣơng tiện giao tiếp giữa thầy và trò, giữa trò – trò đó là mối liên hệ
thƣờng xuyên liên tục.
Nhƣ vậy TNKQ trong dạy học là một công cụ để KT – ĐG nhằm cung cấp
thông tin phản hồi ngƣợc ngoài và ngƣợc trong quá trình dạy học; qua đó phát

đào tạo
Trình độ xuất
phát của học sinh
Nghiên cứu
tài liệu mới
Kiểm tra đánh giá
kết quả học 25

Với vai trò đó nó đã giúp đỡ ngƣời thầy rất nhiều trong hoạt động dạy học.
Làm cho chất lƣợng dạy học ngày càng đƣợc nâng cao nhất là trong xu thế
hiện nay việc tự học trở nên rất quan trọng.
1.1.5. Trắc nghiệm được sử dụng như một phương pháp dạy học
Trong dạy học trắc nghiệm kết quả học tập chủ yếu bằng câu hỏi
* Một số quan niệm về câu hỏi
- Socrat (469 – 299 tr.CN) khẳng định phải có phƣơng pháp tìm ra chân lý
thông qua tranh luận, toạ đàm, luận chiến. Ông đã đề ra 4 yếu tố có liên quan
đến câu hỏi: Mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, xác định cho ngƣời đối thoại làm theo
cái phổ biến.
- Aritot (284 -322 tr. CN) là ngƣời đầu tiên phân tích khái niệm câu hỏi dƣới
góc góc độ logic, ông cho rằng: “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó chứa đựng
cả cái biết và cái chƣa biết”. Câu hỏi là những bài làm mà khi hoàn thành
chúng, HS phải tiến hành hoạt động tái hiện, bất luận là trả lời miệng, trả lời
viết hay kiểm tra thực hành hoặc xác minh bằng trắc nghiệm.
- Đecac (1596 – 1650) quan niệm: Không có câu hỏi thì không có tƣ duy và
cho rằng nội hàm của câu hỏi phải chứa đựng cái đã biết và cái chƣa biết,
muốn trả lời đƣợc câu hỏi tức là phải đi tìm cái chƣa biết dựa vào cái đã biết.
Nhƣ vậy khi chủ thể nhận thức xác định đƣợc cái mình chƣa biết và cái đã biết

cái chƣa biết do đó đòi hỏi họ phải thao tác với câu hỏi và tài liệu học tập để
tìm ra cái chƣa biết hàm chứa trong câu hỏi. Việc tìm ra cái chƣa biết này
chính là ngƣời học đã lĩnh hội đƣợc tri thức mới.
Nhƣ vậy xác định đƣợc trị số giữa cái đã biết và cái chƣa biết trong khi xây
dựng câu hỏi giúp GV có thể biết trình độ nhận thức của từng đối tƣợng HS, từ đó
đề ra các câu hỏi mang trị số hợp lí và sử dụng hợp lí trong khâu dạy bài mới.
* Quan hệ giữa câu hỏi tự luận (CHTL) và câu hỏi TNKQ
Theo chúng tôi, quan hệ giữa CHTL và câu hỏi TNKQ là quan hệ bao
hàm trong đó CHTL bao hàm câu hỏi TNKQ.CHTL dạng khái quát tổng hợp
mà thực chất là tập hợp của nhiều câu hỏi ngắn. Mỗi câu hỏi ngắn đó có thể
tƣơng đƣơng với một câu dẫn của MCQ với câu trả lời là phƣơng án chọn, các
câu nhiễu là câu hỏi trả lời chƣa chính xác hoặc câu sai. Theo đây, ta có thể
viết câu dẫn của câu hỏi TNKQ bằng cách lấy chính câu hỏi trả lời ngắn đó sửa

Trích đoạn Phân tích kết quả định tính
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status