Rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn nghị luận ở lớp 10 Trung học phổ thông - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ XOAN

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XÂY DỰNG ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN
Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHAM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
7. Giả thuyết khoa học
6
8. Phương pháp nghiên cứu
7
9. Dự kiến đóng góp của luận văn
7
10. Cấu trúc của luận văn
8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
9
1.1. Cơ sở lý luận
9
1.1.1. Khái niệm về kỹ năng
9
1.1.2. Văn nghị luận
10
1.1.3. Đoạn văn nghị luận
17
1.1.4. Vai trò của việc tổ chức dạy học đoạn văn nghị luận trong nhà
trường THPT

26
1.2. Cơ sở thực tiễn
29
1.2.1. Mục tiêu, nội dung chương trình Ngữ văn 10
29
1.2.2. Thực trạng dạy và học đoạn văn nghị luận ở trường THPT
30
Chƣơng 2: TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XÂY DỰNG
ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.2.1. Các hình thức rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn nghị luận
43
2.2.2. Cách thức rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận ở lớp 10 trung
học phổ thông

45
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
74
3.1. Những vấn đề chung
74
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
74
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm
74
3.1.3. Đối tượng và thời gian thực nghiệm
74
3.1.4. Nội dung thực nghiệm
75
3.2. Quá trình tổ chức thực nghiệm
75
3.2.1. Soạn giáo án thực nghiệm
75
3.2.2. Tiến hành dạy học đối chứng và dạy học thực nghiệm
88
3.2.3. Tổ chức kiểm tra, đánh giá
89
3.2.4. Phân tích kết quả dạy đối chứng và dạy thực nghiệm
90
3.3. Kết luận khoa học
93

THPT
Trung học phổ thông
TN
Thực nghiệm
phát triển năng lực cũng như cá tính học sinh cũng đang là yêu cầu, nhiệm vụ

7
hàng đầu trong giáo dục hiện đại khi mà “sự đơn giản trong tư duy, sự nghèo
nàn trong tình cảm và sự phiến diện trong nhân cách học sinh” [219] đang là
hồi còi báo động và là điều không thể chấp nhận được trong nền giáo dục hiện
nay. Dạy văn nói chung và dạy làm văn nghị luận nói riêng là rèn cho học
sinh có được bản lĩnh sống đúng đắn, dám thể hiện quan điểm chính kiến của
mình, rèn cho học sinh phát huy được tiềm năng và cá tính sáng tạo của bản
thân trước những hiện tượng xảy ra trong văn học và trong đời sống. Tuy
nhiên để học sinh làm được điều đó học sinh phải có kỹ năng giao tiếp, kỹ
năng viết đoạn văn. Chính thế việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận
tưởng chừng đơn giản, nhỏ nhặt nhưng vô cùng thiết yếu với học sinh trong
quá trình tạo lập văn bản.
1.4. Thực tế dạy học cho thấy, tuy thể loại văn nghị luận khá quen thuộc với
giáo viên và học sinh nhưng trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên chưa
chú trọng đến việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng xây dựng đoạn văn, chưa
có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa việc dạy lý thuyết với thực hành, chưa đưa
ra những mẫu bài tập phong phú, chưa đưa ra các quy trình viết đoạn văn cụ
thể. Vì thế giờ học về viết đoạn văn trở nên qua loa, đại khái dẫn đến việc học
sinh chưa có kỹ năng thiết lập đoạn văn cũng là điều dễ hiểu. Và còn xuất
hiện những tình trạng có nhiều bài văn không có kết cấu rõ ràng mạch lạc, bài
viết không lôgíc, đầy những câu văn “bất thành cú”. Vậy làm thế nào để học
sinh phổ thông có những bài văn nghị luận hành văn trôi chảy, lôgic, mạch
lạc? Đó là những câu hỏi của rất nhiều giáo viên dạy bộ môn văn đang đặt ra
và mong muốn tìm hướng giải quyết.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài
“Rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn nghị luận ở lớp 10 trung học phổ
thông”, với hi vọng góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng dạy
học Làm văn nói chung và văn nghị luận nói riêng.

và có thái độ đúng trước các sự việc xảy ra trong cuộc sống”. Đây là ý kiến

9
quan điểm của tác giả Bảo Quyến trong cuốn rèn luyện kỹ năng làm văn
nghị luận, Nxb GD (2007).
2.2. Những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài
Đoạn văn là đơn vị cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ và có ý nghĩa quan
trọng trong quá trình giao tiếp và tạo lập văn bản. Chính vì vậy, nó trở thành
đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học, nhà sư phạm…
Tác giả Nguyễn Quang Ninh trong cuốn 150 bài tập rèn luyện kỹ năng
dựng đoạn văn đã đề cập đến những vấn đề lý thuyết về đoạn văn, trong đó
tác giả quan tâm nhất là khái niệm đoạn văn “Nên coi đoạn văn vừa là sự
phân đoạn nội dung vừa là sự phân đoạn hình thức. Đoạn văn vừa là kết quả
của sự phân đoạn văn bản, vừa là kết quả của sự phân đoạn văn bản về mặt
lôgic - ngữ nghĩa, ngữ pháp, vừa là kết quả của việc thể hiện biểu cảm, thẩm
mỹ” [15,tr.7].
Tiếp tục phát triển quan điểm trên, cuốn sách Luyện cách lập luận
trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông do nhóm tác giả Nguyễn
Quang Ninh, Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phong biên soạn tập trung chủ yếu
vào việc rèn luyện cho học sinh lập luận trong đoạn văn nghị luận. Ngoài ra
cuốn sách cũng cung cấp thêm một số lý thuyết về đoạn văn và hệ thống bài
tập khá phong phú và bổ ích.
Với mục đích rèn kỹ năng viết đoạn văn nói chung và kỹ năg dựng
đoạn văn nói riêng, GS. Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Muốn viết được bài
văn hay đã đề cập đến vấn đề Luyện viết đoạn văn. Trong phần này tác giả đã
đề cập khái niệm và cấu tạo đoạn văn trong bài văn nghị luận. Tác giả cho
rằng, đoạn văn phải đảm bảo hai tiêu chí. Thứ nhất, nằm giữa hai chỗ xuống
dòng, thụt đầu dòng, viết hoa khi mở đầu, chấm xuống dòng khi kết thúc. Thứ
hai, chứa một ý tương đối hoàn chỉnh - một chủ đề nhỏ [12,tr.136]. Trong
phần cấu tạo đoạn văn tác giả dựa trên tiêu chí về cách lập luận để phân chia

5. Đối tƣợng nghiên cứu

11
- Điều tra dạy học thực nghiệm một số lớp 10 của trường THPT Kinh
Môn và trường THPT Nhị Chiểu. Cả hai trường đề nằm trên địa bàn huyện
Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
6. Phạm vi nghiên cứu
Để viết được bài nghị luận có chất lượng đòi hỏi học sinh cần phải rèn
luyện rất nhiều các kỹ năng. Luận văn này tập trung vào việc rèn luyện cho
học sinh lớp 10 kỹ năng xây dựng đoạn văn qua dạy học về văn nghị luận.
Đây được coi là khâu không thể thiếu trong bài làm văn nghị luận.
Nghiên cứu các kỹ năng viết đoạn văn nghị luận, vận dụng kỹ năng đó
viết những đề bài văn cụ thể để từ đó tìm ra những cách thức, những con
đường, những hướng đi giúp học sinh có thể rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn
một cách thành thục, vận dụng một cách nhuần nhuyễn qua đó hình thành cho
học sinh kỹ năng làm văn thực sự. Tuy vậy những hướng nghiên cứu này, vẫn
chỉ ở trên dạng thực nghiệm nên không hề có tính chất áp đặt cho học sinh
hay dập khuôn máy móc. Bởi vậy việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị
luận muốn thành công luôn đòi hỏi cần có những phương pháp linh hoạt của
người dạy và những cố gắng tối thiểu cần thiết ở mỗi học sinh từ việc trau dồi
kiến thức đến việc rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn để công việc hình thành
các đoạn văn và liên kết chúng trở thành một bài văn hoàn chỉnh trở nên đơn
giản hơn đối với học sinh.
7. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng tốt các tiền đề lý luận về lý thuyết đoạn văn và các kỹ
năng xây dựng đoạn văn vào thực tiễn việc dạy - học làm văn nghị luận sẽ
giúp học sinh nắm vững hơn về lý thuyết, đồng thời giúp các em vận dụng
một cách chủ động các kỹ năng xây dựng đoạn văn và tạo lập văn bản lôgic,
mạch lạc, khắc phục được những yếu kém, những lỗi thường gặp trong bài
văn nghị luận.

10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

13
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tổ chức rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn nghị luận ở
lớp 10 Trung học phổ thông
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
14
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về kỹ năng
Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến

Giai đoạn 2: Biết cách phân tích hành động nhưng chưa đầy đủ, có hiểu
biết phương thức hành động, sử dụng được các kỹ xảo nhưng chưa phải là các
kỹ năng chuyên biệt của hành động này.
Giai đoạn 3: Có các kỹ năng tổ chức hành động nhưng còn mang tính
chất riêng lẻ, chưa có sự phối hợp, di chuyển giữa các kỹ năng.
Giai đoạn 4: Có những kỹ năng phát triển cao: Học sinh sử dụng vốn
hiểu biết và các kỹ xảo đã có, ý thức được không chỉ mục đích hoạt động mà
còn cả động cơ cách thức đạt mục đích.
Giai đoạn 5: Có tay nghề : Sử dụng một cách thành thạo các kỹ năng
khác nhau, biết phối hợp các kỹ năng khác nhau để tạo ra sản phẩm.
1.1.2. Văn nghị luận
1.1.2.1. Khái niệm và phân loại văn bản nghị luận
* Khái niệm
Nghị luận: bàn cho ra phải trái (Từ điển Tiếng Việt – Văn Tân).
Nghị luận: bàn bạc (Từ điển Hán Việt – Phan Văn Các).
Nghị luận: bàn bạc và đánh giá cho thật rõ về một vấn đề nào đó (Từ
điển Tiếng Việt – Hoàng Phê).
Vậy, nghị luận là bàn bạc cho ra phải trái, đánh giá cho thật rõ đúng sai
một vấn đề nào đó.
Văn nghị luận: Là loại văn xuôi trong đó người viết (người nói) sử
dụng lý luận, bao gồm lý lẽ dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để

16
làm rõ một vấn đề nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu,
tin theo những ý kiến đó.
* Phân loại văn bản nghị luận
Văn nghị luận bao gồm: Nghị luận Văn học và nghị luận Xã hội.
- Nghị luận văn học: là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương-
nghệ thuật như phân tích, cảm thụ một tác phẩm thơ văn, bình luận về một
vấn đề văn học, một nhận định văn học sử, giới thiệu một tác giả hoặc một tác

Minh đã đưa ra những luận điểm sau:
- Lịch sử đã chứng tỏ tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc
- Đồng bào ta ngày nay rất xứng đáng với tổ tiên ngày trước
- Bổn phận của chúng ta phải biết biến lòng yêu nước vào những hành động.
Trong mỗi luận điểm lại có nhiều luận cứ nhằm làm sáng tỏ cho luận điểm
Luận cứ là các dẫn chứng (chứng cứ ) cụ thể
Luận chứng (lập luận) là sự tổ chức các luận điểm và luận cứ, các lí lẽ
và dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ vấn đề, để người đọc hiểu, tin, đồng tình với
điều mà người viết đặt ra và giải quyết.
Nghị luận là bàn luận, là nói có lí lẽ, là thuyết phục người đọc bằng lập
luận lôgic chặt chẽ. lập luận chính là phải biết trình bày và triển khai luận
điểm, biết nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, biết dùng những lí lẽ và dẫn chứng
để làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với
mình. Có thể nói nếu luận điểm là nội dung thì lập luận là hình thức diễn đạt
nội dung.
Nghệ thuật lập luận phụ thuộc nhiều vào cách nêu vấn đề, cách dẫn dắt
người đọc, người nghe, cách phân tích bằng nhiều thủ pháp nhỏ như so sánh,
liên hệ, đối chiếu, nêu dẫn chứng thực tế, nêu số liệu thống kê… Tuyên ngôn
độc lập của hồ Chí Minh là một mẫu mực như thế.

18
Không phải ngẫu nhiên từ đầu Người đã dẫn ra hai bản tuyên ngôn nổi
tiếng của Pháp và Mĩ. Cả hai tuyên ngôn này đề khẳng định quyền tự do, độc
lập của mỗi dân tộc, mỗi con người. Từ chỗ khẳng định: “Đó là những lẽ phải
không ai chối cãi được”, Hồ Chí Minh đặt lại vấn đề: “Thế mà hơn 80 năm
nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng , bác ái, đến cướp đất
nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và
chính nghĩa”. Luận điểm này được Người chứng minh rất cụ thể và sáng tỏ ở
nhiều phương diện:
- Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân

Phương pháp lập luận tổng - phân - hợp: Là phương pháp lập luận theo
quy trình từ khái quát đến cụ thể sau đó tổng hợp lại vấn đề.
Phương pháp lập luận tương đồng: Là phương pháp lập luận trên cơ sở
tìm ra những nét tương đồng nào đó của sự vật, sự việc, hiện tượng. Chẳng
hạn lập luận tương đồng theo dòng thời gian, lập luận tương đồng trên trục
không gian …
Phương pháp lập luận tương phản: Là phương pháp lập luận dựa trên
cơ sở tìm ra những nét trái ngược nhau giữa các đối tượng, sự vật, sự việc,
hiện tượng. (So sánh tương phản bằng cách dùng cặp từ trái nghĩa, dùng các
hình ảnh, cụm từ có ý nghĩa trái ngược nhau).
1.1.2.4. Lập dàn ý bài văn nghị luận
Văn nghị luận là một trong những kiểu văn bản quan trọng trong đời
sống xã hội, có vai trò rèn luyện tư duy và năng lực biểu đạt những vấn đề có
ý nghĩa trong thực tế đời sống. Văn nghị luận hình thành và phát triển khả
năng lập luận chặt chẽ, trình bày những dẫn chứng một cách sáng sủa, giàu
sức thuyết phục, diễn tả những suy nghĩ và nêu ý kiến của mình về một vấn
đề nào đó trong cuộc sống hoặc trong văn học nghệ thuật. Tuy nhiên để có thể
làm được điều đó cần trải qua một khâu hết sức quan trọng trong khi viết bài
văn nghị luận đó là lập dàn ý. Học sinh cần phải có thói quen rèn luyện lập
dàn ý trước khi bắt tay vào viết bài văn vì nếu đã hình thành được một dàn ý
tốt thì sẽ là một đảm bảo chắc chắn cho sự thành công của bài văn. Goethe đã

20
từng khẳng định: Tất cả tuỳ thuộc vào bố cục. Dostoievssky cũng đã nói: Nếu
tìm được một bản bố cục thoả đáng thì công việc sẽ trôi chảy như trượt trên
băng. Việc lập dàn ý bài văn nghị luận giúp cho người viết bao quát được
những nội dung chủ yếu, những luận điểm, luận cứ triển khai, phạm vi và
mức độ nghị luận, … nhờ đó mà tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp
ý; tránh được việc bỏ sót hoặc triển khai những ý không cân xứng, có dàn ý
người viết sẽ phân phối thời gian làm bài hợp lí.

+ Sách là sản phẩm thuộc lĩnh vực nào của con người?
+ Sách phản ánh lưu giữ những thành tựu gì của nhân loại?
+ Sách có chịu ảnh hưởng của thời gian và không gian không?
- Đối với luận điểm 2 (Sách mở rộng những chân trời mới):
+ Sách đem lại cho con người những hiểu biết gì về tự nhiên và xã hội?
+ Sách có tác dụng như thế nào đối với cuộc sống riêng tư và quá trình
tự hoàn thiện mình?
- Đối với luận điểm 3 (Cần có thái độ như thế nào đối với sách và việc
đọc sách) :
+ Thái độ của bản thân đối với các loại sách?
+ Đọc sách như thế nào là tốt nhất?
2. Lập dàn ý
* Mở bài: Nêu vai trò và tác dụng của sách trong đời sống tinh thần của
con người. Trích dẫn ý kiến của nhà văn M. Go-rơ-ki
* Thân bài:
- Trình bày luận điểm 1:
+ Luận cứ a
+ Luận cứ b

- Trình bày luận điểm 2:
+ Luận cứ a
+ Luận cứ b
……

22
- Trình bày luận cứ 3:
+ Luận cứ a
+ Luận cứ b

* Kết bài : Khẳng định vai trò và tác dụng của sách đối với con người.

chỉnh. Khi đoạn văn hoàn chỉnh về nội dung sẽ tạo nên một ý, đoạn văn ấy
gọi là đoạn nội dung. Nếu đoạn văn diễn đạt không hoàn chỉnh về nội dung
thì đoạn đó gọi là đoạn lời. Về hình thức: đoạn văn thể hiện sự hoàn chỉnh bởi
những dấu hiệu nhận biết, nó tách khỏi đoạn văn khác ở dấu hiệu chấm câu
xuống dòng, bắt đầu bằng chữ cái viết hoa và lùi vào đầu dòng.
Ở nhà trường, với mục đích rèn luyện cho học sinh biết cách chia bài
văn ra các ý rõ ràng, minh bạch, vì thế chúng ta chỉ nghiên cứu đoạn văn
trong một lần xuống dòng và đoạn văn gồm hai câu trở lên, diễn đạt một ý
tương đối hoàn chỉnh.
* Khái niệm đoạn văn nghị luận :
Đoạn văn nghị luận là một phần của văn bản nghị luận. Văn bản nghị
luận là văn bản được viết ra nhằm xác lập cho người đọc (Người nghe) một tư
tưởng, một quan điểm.
* Phân loại đoạn văn nghị luận theo hình thức kết cấu :
Đoạn diễn dịch :
Là đoạn văn có câu chủ đề ở đầu đoạn. Diễn dịch là phương pháp trình
bày ý từ luận điểm, rồi dùng luận cứ để giải thích, chứng minh nhằm làm
sáng tỏ cho luận điểm.
Câu chủ đề của đoạn văn là câu chứa đựng nội dung chính, khái quát, là
hạt nhân ý nghĩa của cả đoạn
Câu chủ đề có thể đứng ở những vị trí khác nhau trong đoạn nhưng
thường ở vị trí mở đầu đoạn văn. Khi đứng ở vị trí này, câu chủ đề thường
làm nhiệm vụ định hướng triển khai nội dung cho toàn đoạn.

24
Xét về kết cấu, đoạn văn có câu chủ đề đứng đầu đoạn là đoạn văn có
kết cấu diễn dịch.
Sơ đồ 1.1: Kết cấu của đoạn văn diễn dịch như sau
chất của một câu chủ đề. Nhưng ở vị trí đó, câu chủ đề ấy không làm nhiệm
vụ định hướng nội dung triển khai cho toàn đoạn mà lại làm nhiệm vụ khép
lại nội dung cho đoạn văn ấy.
Ví dụ minh hoạ:
Tại Nhật Bản, do tham nhũng Đảng tự do cầm quyền đã mất đa số ghế
tại hạ viện (1). Mới đây chính phủ Hàn Quốc đã bắt giam hai cựu bộ trưởng
Bộ quốc phòng và hai cựu tướng lĩnh về tội nhận hối lộ một triệu đô la (2).
Giới lập pháp ở Đài Loan hiện phải công khai tài sản của mình và rồi đây các
viên chức cao cấp trong chính phủ cũng sẽ làm điều đó (3). Tham nhũng là
vấn đề đƣợc quan tâm hàng đầu ở Châu Á (4).
Đoạn song hành.
Khi các ý trong đoạn văn được trình bày theo kiểu không ý nào móc
vào ý nào, hoặc ý nọ bao trùm lên ý kia, các ý có quan hệ ngang nhau, ta sẽ có
đoạn văn được viết theo kết cấu song hành. Đoạn song hành có câu chủ đề ẩn.
Sơ đồ1.3: Mối quan hệ giữa các câu song hành
Ví dụ minh họa.
Câu 1
Câu 2

Câu X

Câu kết thúc đoạn
Câu 1
Câu 2

Câu 3


Chúng ta không thể nói tiếng ta đẹp như thế nào, cũng như ta không thể nào
phân tích cái đẹp của ánh sáng, của thiên nhiên (2). Nhưng đối với chúng ta là
người Việt Nam, chúng ta cảm thấy thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp
Câu 1
Câu 2

Câu X

Trích đoạn Mục tiêu, nội dung chương trình Ngữ văn 10 Soạn giáo án thực nghiệm Tổ chức kiểm tra, đánh giá
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status