đại học quốc gia hà nội
Khoa s- phạm
Nguyễn thị kim xuyến
Hà Nội - 2009 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phƣơng pháp dạy học đang là nhiệm vụ cấp bách trong giai
đoạn hiện nay. Mục tiêu của đổi mới PPDH là đào tạo đƣợc những con ngƣời
mới đáp ứng thời đại công nghiệp hoá và toàn cầu hoá phát triển nhanh chóng
nhƣ hiện nay. Bốn trụ cột của GD trong thế kỷ XXI là “học để biết, học để
làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình” mà UNESCO đã đề
ra [36] là mục tiêu để GD Việt Nam hƣớng tới một nền GD tiến bộ, hiện đại
ngang tầm với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Với mục tiêu đó thì HS
không những cần phải chiếm lĩnh đƣợc kiến thức mà còn phải có năng lực hoà
nhập trong xã hội, một trong những năng lực đó là khả năng hợp tác.
Trong cuộc sống, toán học giữ một vị trí quan trọng, giúp cho con ngƣời
rèn luyện phƣơng pháp tƣ duy, phƣơng pháp suy luận, phƣơng pháp giải quyết
vấn đề một cách khoa học nên việc rèn luyện năng lực giải bài tập toán là
nhiệm vụ cần thiết và thƣờng xuyên của ngƣời giáo viên.
Phƣơng pháp dạy học hợp tác đã đƣợc nghiên cứu và áp dụng ở các bậc
học tại nhiều nƣớc trên thế giới. Với PPDH này đã huy động đƣợc sự tham gia
tích cực của mọi học sinh vào quá trình học tập, tăng cƣờng khả năng tiếp thu
kiến thức và phát triển kỹ năng xã hội của học sinh một cách rõ rệt. Việc vận
dụng PPDH hợp tác không đơn giản là chỉ áp dụng một cách máy móc việc
4. Câu hỏi nghiên cứu: Biện pháp và ý nghĩa việc rèn luyện năng lực giải bài
tập toán học cho học sinh THPT?
5. Giả thuyết khoa học: Sử dụng PPDH hợp tác vừa có tác dụng rèn luyện năng
lực giải bài tập toán học cho HS vừa có tác dụng rèn luyện kỹ năng hợp tác.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện năng lực toán học và PPDH hợp tác.
- Thiết kế một số tình huống dạy học hợp tác và một số giáo án nhằm
rèn luyện năng lực giải bài tập toán học cho học sinh THPT.
- Tiến hành thử nghiệm sƣ phạm đối với những biện pháp đã đề ra.
7. Phương pháp nghiên cứu 3
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về Tâm lý học, Giáo dục học,
lý luận và phƣơng pháp dạy học Toán, Đo lƣờng và đánh giá trong giáo dục, các
luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ có liên quan để phân tích các nguyên nhân và
xây dựng các biện pháp dạy học nhằm hạn chế, sửa chữa các sai lầm của HS
trong khi giải bài tập toán, góp phần rèn luyện năng lực toán học cho HS.
- Quan sát: Tiến hành dự giờ quan sát, ghi hình các giờ dạy học theo
phƣơng pháp dạy học hợp tác nhằm bổ sung cho lý luận và chỉnh lý các biện
pháp sƣ phạm.
- Phỏng vấn: Đƣa ra các câu hỏi tham khảo ý kiến một số giáo viên và
học sinh để có nhận xét khách quan về những ƣu khuyết điểm của những giờ
học rèn luyện giải bài tập toán thông qua phƣơng pháp dạy học hợp tác.
- Tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết và rút kinh nghiệm sau mỗi giờ học
- Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành thực nghiệm dạy học một số tình
huống và giáo án đã thiết kế cho học sinh lớp 10 và lớp 11.
8. Dự kiến luận cứ
Luận cứ lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện năng lực toán
học và PPDH hợp tác.
“Trong một tình huống học hợp tác, quá trình tƣơng tác đƣợc đặc trƣng
bởi sự ràng buộc giữa mục tiêu tích cực và trách nhiệm cá nhân”[31].
(D.Johnson & R.Johnson, 1990)
“Học hợp tác là một chiến lƣợc học tập có cấu trúc, có chỉ dẫn một cách
hệ thống, đƣợc thực hiện cùng nhau trong các nhóm nhỏ, nhằm đạt đƣợc nhiệm
vụ chung”. ( J.Cooper, 1990)
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những thành tựu lớn lao thu đƣợc liên
quan đến sự nỗ lực chung của tập thể chứ không phải là kết quả của một cá
nhân tạo lập.
Hầu hết sự học tập của chúng ta đều có gốc ở sự thành công thu đƣợc
thông qua hợp tác. Cùng với những ngƣòi khác, chúng ta có thể làm nhiều hơn
và thu đƣợc nhiều hơn mức chúng ta làm một mình[29]. 5
Theo Vygotsky: “Điều ngƣời học có thể làm qua hợp tác hôm nay thì họ
có thể làm một mình ngày mai” và học tập cùng nhau có thể phát triển đƣợc kỹ
năng nhận thức và xã hội.
Trong việc tổ chức lớp học, làm việc hợp tác theo nhóm mang lại cho
học sinh nhiều cơ hội để học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ nhau, chia sẻ với nhau niềm
vui thắng lợi và nỗi buồn thất bại. “Vào những năm 90 của thế kỷ 20, làm việc
theo nhóm là yếu tố đánh giá năng lực quản lý thƣờng xuyên nhất trong các
nghiên cứu của các tổ chức trên khắp thế giới” (Goleman, 1998). Chúng ta có
thể chuẩn bị cho học sinh của mình bƣớc vào môi trƣờng làm việc thực tế bằng
cách tạo cho họ những cơ hội thực nhƣ vậy để làm việc với nhau, cùng tạo ra
sản phẩm và giải quyết vấn đề.
Học hợp tác ( Cooperative Learning) là một quan điểm học tập rất phổ
biến ở các nƣớc đang phát triển và đem lại hiệu quả giáo dục cao. Học hợp tác
là một định hƣớng giáo dục mà trong đó học sinh cùng làm việc để đạt đƣợc
mục tiêu học tập. Quan điểm học tập này yêu cầu sự tham gia, đóng góp trực
thức, mà còn đạt đƣợc mục đích cao hơn là dạy cho học sinh cách sống. Đặc
điểm của dạy học hợp tác là nó tạo nên sự chấp nhận, tôn trọng, liên kết và tin
tƣởng lẫn nhau giữa các đối tƣợng trong giáo dục. Dạy học hợp tác khẳng định
tầm quan trọng của sự ủng hộ về mặt xã hội. Trong học tập hợp tác, sức ép
thành tích luôn đặt ra phù hợp và cân bằng với mức độ của sự ủng hộ về mặt
xã hội. Mỗi khi sự tăng cƣờng học tập đòi hỏi cao thì cũng là lúc phải phát
triển sự ủng hộ nhau một cách tích cực [32]. Để đạt đƣợc thành tích trong học
tập, học sinh cần cùng nhau tìm kiếm và khai thác thông tin. Chính việc học
hợp tác sẽ giúp học sinh làm đƣợc điều đó.
Chúng tôi quan niệm DH hợp tác là một PPDH. Trong PPDH hợp tác,
vai trò của GV là ngƣời tổ chức, điều khiển việc học của học sinh thông qua
học hợp tác bằng việc thiết kế các giờ học hợp tác, vai trò của HS là ngƣời học
tập trong sự hợp tác, trong đó mỗi HS đƣợc học tập trong một nhóm, có sự
cộng tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm để đạt đƣợc mục đích
chung. Hợp tác vừa là phƣơng tiện vừa là mục tiêu dạy học. Hoạt động trong 7
giờ dạy học hợp tác bao gồm: hợp tác giữa các HS trong một nhóm, hợp tác
giữa các nhóm, hợp tác giữa HS với GV[19, tr.18].
Tóm lại, PPDH hợp tác là một mắt xích quan trọng trong quá trình dạy
học. Có thể vận dụng PPDH hợp tác trong việc rèn luyện năng lực giải bài tập
toán học cho học sinh THPT. Với phƣơng pháp học tập này HS đƣợc tham gia
vào các nhóm học tập không chỉ thúc đẩy quá trình học tập, tăng tính chủ
động, sáng tạo trong quá trình giải bài tập, tạo niềm vui khi giải đƣợc một bài
toán làm tăng thêm hứng thú, kích thích sự tìm tòi lời giải bài toán, mà còn
giúp HS phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, phát triển tƣ duy hội
thoại, nâng cao lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm và sự tự tin của ngƣời học,
giúp thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh mang tính tích cực trong học
tập[19, tr.18]. Trƣớc giờ học hợp tác, GV cần phổ biến và hƣớng dẫn cho HS
nhóm sẽ gắn bó với nhau do chính môi trƣờng làm việc tạo nên.
Yếu tố 2. Tương tác “mặt đối mặt”: Trong cách học tập này học sinh
đƣợc bố trí ngồi đối diện nhau tạo nên bầu không khí thoải mái, cởi mở, dễ
dàng hợp tác với nhau. Chính cách sắp xếp này tạo nên những tác dụng tích
cực đối với mọi học sinh. Đó là:
- Tăng cƣờng tính tích cực trong hoạt động học tập, làm nảy sinh những
hứng thú mới trong quá trình trao đổi bình đẳng với nhau.
- Rèn luyện đƣợc những kỹ năng xã hội nhƣ cách diễn đạt ý tƣởng, cách cƣ
xử, cách phản hồi đối với những ý kiến của bạn qua lời nói, ánh mắt, cử chỉ…
- Phát triển mối quan hệ thân thiện với nhau, gắn bó, yêu thƣơng, giúp
đỡ lẫn nhau.
Yếu tố 3. Trách nhiệm cá nhân: Mỗi thành viên trong nhóm đƣợc phân
công nhiệm vụ khác nhau nhƣng có liên quan, phụ thuộc lẫn nhau để đạt mục
tiêu chung của cả nhóm. Do đó, mỗi thành viên đều phải nỗ lực và có ý thức
chịu trách nhiệm cá nhân trƣớc nhiệm vụ chung của nhóm. Mỗi thành viên
trong nhóm cần đƣợc phân công thực hiện một vai trò nhất định. Vai trò của
các thành viên trong nhóm có thể thay phiên nhau nhƣ sau: 9
- Nhóm trƣởng: Điều khiển hoạt động của nhóm, phân công nhiệm vụ
phù hợp cho các thành viên trong nhóm
- Thƣ ký: Ghi chép lại tất cả các ý kiến gợi ý của các thành viên trong
nhóm. Tóm tắt các câu trả lời cho từng câu hỏi cho đến khi cả nhóm hài lòng
và đi đến thống nhất.
- Ngƣời điều khiển thời gian: Nhắc nhở nhóm giới hạn về thời gian, điều
chỉnh hoạt động của nhóm theo thời gian quy định.
Để tăng trách nhiệm của cá nhân cần chia nhóm phù hợp với từng nội
dung học tập, có phiếu học tập quy định nhiệm vụ học tập cụ thể, bất ngờ kiểm
tra thành viên bất kỳ trong nhóm trình bày công việc và kết quả của
thực hiện các hoạt động nhận thức và giao tiếp giữa các cá nhân. Trong quá
trình HS trao đổi, thảo luận sẽ phát sinh những ý kiến trái ngƣợc nhau nên sẽ
nảy sinh những vấn đề phải tranh luận, gây ồn ào trong lớp học. Bên cạnh đó
còn nảy sinh những vấn đề khác nhƣ:
HS ỉ lại, lƣời suy nghĩ, lƣời học.
HS mất trật tự, đùa nghịch không tham gia vào thực hiện nhiệm vụ đƣợc
giao
HS tự ti, ít nói, không tham gia ý kiến, cũng không phản đối ý kiến,
HS không đồng đều về năng lực học tập.
Mặc dù trong lớp học dù có ít học sinh đến đâu đi chăng nữa, thì trong tất
cả các phƣơng pháp dạy học mà GV vận dụng vẫn nảy sinh những vấn đề trên.
Do đó trong dạy học hợp tác GV sẽ rất lo ngại những vấn đề về điều
khiển, kiểm soát lớp học, giữ nội quy lớp học bởi vì kiểm soát, quản lý tốt lớp
học là một phần quan trọng của công việc dạy học, đó chính là bƣớc ban đầu
hƣớng vào những mục tiêu quan trọng có liên quan đến học tập một cách ý
thức và có hiệu quả.
Trong vấn đề quản lý lớp, GV có thể vận dụng những hình thức nhƣ sau:
- Làm nhiệm vụ hoà giải khi nảy sinh mâu thuẫn: Có thể nảy sinh nhiều
mâu thuẫn trong quá trình học hợp tác nhƣ do bất đồng quan điểm, tranh nhau
đƣa ra ý kiến của mình, tranh chấp về quyền chỉ đạo nhóm, do các thành viên
chƣa quen với cách làm việc nhóm, do một số thành viên trong nhóm tự ti, học 11
yếu làm ảnh hƣởng tới kết quả chung của nhóm…Lúc này ngƣời GV cần làm
nhiệm vụ hoà giải, nhắc nhở HS về các yếu tố quan trọng về sự phụ thuộc tích
cực , trách nhiệm cá nhân và các hành vi mong đợi vốn là các khía cạnh cần
thiết của nhóm học hợp tác. Giao cho mỗi thành viên một vai trò đặc trƣng mà
có thể tránh hoặc giải quyết đƣợc các mâu thuẫn. Giao cho một quan sát viên
theo dõi các công việc của nhóm, qua đó tạo ra lời giải cần thiết cho việc hoà
nhiều việc nhỏ sẽ là động cơ thúc đẩy cũng nhƣ tạo đƣợc sự tự tin và là cơ sở
để các em thực hiện đƣợc nhiệm vụ phức tạp hơn, khó hơn. Cứ nhƣ vậy GV sẽ
tăng dần về mức độ khi mỗi lần giao nhiệm vụ, và cuối cùng là đạt đƣợc mục
tiêu của mình.
- Động viên, khen thƣởng kịp thời: HS thƣờng rất thích đƣợc khen
thƣởng, dù là một thành công tuy nhỏ nhƣng nếu có một sự động viên kịp thời
sẽ là động lực thúc đẩy sự chăm chỉ, tích cực của các em rất nhiều. Có khi lời
khen, hay sự động viên và phần thƣởng chỉ cần là một tràng pháo tay, một lời
động viên của GV cũng giúp và thúc đẩy các em nỗ lực và cố gắng nhiều hơn
trong quá trình học tập để thực hiện nhiệm vụ của mình. Nhất là trong nhóm,
nếu một thành viên trong nhóm đƣợc khen nghĩa là thành viên đó mang đƣợc
thành tích về cho nhóm sẽ làm gia tăng sự hứng thú, sự tự giác của cả nhóm.
Tuy nhiên sự khen thƣởng cần đảm bảo chính xác và công bằng.
Đối với những HS ỉ lại, lƣời suy nghĩ, lƣời học. Nhiều quan điểm cho
rằng với phƣơng pháp học hợp tác sẽ hạn chế đƣợc tình trạng ỉ lại, lƣời suy
nghĩ, lƣời học của HS bởi chính sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau của các thành
viên trong nhóm hợp tác. Nhƣng cũng có quan điểm cho rằng học hợp tác
nhóm có thể tạo điều kiện cho những HS lƣời- những HS không hoàn thành
nhiệm vụ mà vẫn đƣợc điểm do thành tích của cả nhóm. Để hạn chế tình trạng
này, GV có thể áp dụng các hình thức sau:
- Trao đổi để HS đó hiểu rõ về trách nhiệm của bản thân và của nhóm:
Thành tích của cá nhân chính là thành tích của nhóm, nếu bản thân mình ỉ lại,
lƣời suy nghĩ sẽ không những không đóng góp đƣợc thành tích gì cho nhóm
mà còn làm thành tích chung của nhóm bị ảnh hƣởng do sự lƣời biếng của
mình. 13
- Giao cho HS đó đảm nhiệm một vai trò cụ thể trong nhóm
- Phân công HS khác bám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ của HS đó.
nhóm học sẽ có những HS rất yếu, nhƣng cũng có những HS giỏi. Học hợp tác
chính là môi trƣờng để các em đƣợc học tập ở nhau, đặc biệt là những HS yếu
hơn sẽ học từ các bạn giỏi hơn, các HS khá, giỏi tiếp thu nhanh hơn sẽ truyền
đạt cho các em học yếu tiếp thu chậm. Và chính những HS yếu sẽ thúc đẩy HS
khá giỏi phải giải thích và làm rõ chi tiết những gì đã đƣợc học, khuyến khích
các bạn có cách nghĩ đa dạng và độc đáo trong quá trình hợp tác. HS khá, giỏi
có cơ hội để tự rèn luyện khả năng diễn đạt, tự điều chỉnh và củng cố kiến thức
cho mình thông qua quá trình giảng giải cho bạn. HS yếu, kém sẽ đƣợc học cả
về kiến thức, cả về cách suy nghĩ cách làm bài từ các bạn khá. Không những
thế, học hợp tác còn làm nảy sinh sáng tạo, tốn ít thời gian làm bài, giải quyết
đƣợc nhiều vấn đề hoặc làm đƣợc nhiều bài tập hơn, do đó HS giỏi cũng không
cảm thấy bị thiệt thòi và HS yếu, kém lại có kết quả học tập cao hơn khi tham
gia học hợp tác. PPDH hợp tác chính là môi trƣờng thuận lợi để HS đƣợc rèn
luyện và nâng cao năng lực học tập của mình. Vấn đề đặt ra là ngƣời GV cần
phải thiết kế nhiệm vụ học tập sao cho mỗi HS, dù ở trình độ nào cũng giải
quyết đƣợc ít nhất một phần của nhiệm vụ đó, vì thế trong phiếu học tập, GV
không đƣa ra một nhiệm vụ duy nhất, mà chia nhỏ theo hƣớng phân bậc thành
nhiều nhiệm vụ cụ thể (từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trìu tƣợng, giải
nhiều loại bài tập khác nhau, hoặc tìm nhiều cách giải cho một bài toán…).
Khi đó mỗi HS trƣớc hết sẽ tự chọn nhiệm vụ phù hợp với năng lực của mình,
sau đó là cùng chia sẻ những nhiệm vụ còn lại thông qua sự hợp tác[19, tr. 51].
1.1.2. Quá trình dạy học hợp tác:
1.1.2.1. Lập kế hoạch cho bài dạy học hợp tác
(Phần này được trình bày dựa theo [19] và [32])
Khi tiến hành giờ học hợp tác, GV cần xác định rõ hai loại mục tiêu:
- Một là mục tiêu về kiến thức bao gồm: kiến thức, kỹ năng, tƣ duy,
thái độ.
- Hai là mục tiêu về kỹ năng hợp tác
16
vừa học vào vốn kiến thức đã có, hoặc chỉ ra cho HS thấy nhiệm vụ ở nhà sẽ
đề cập tới vấn đề gì, có liên hệ gì với bài sau. Sau đó kết thúc bài học.
Khi chuẩn bị xong phần thảo luận, chuẩn bị khâu tổ chức lớp học hợp
tác
- Tạo ra các nhóm học sinh tự nguyện hoặc ngẫu nhiên theo vị trí ngồi
của HS. GV có thể sắp xếp chỗ ngồi khác nhau trong từng giờ học để HS đƣợc
gặp gỡ trao đổi với nhiều bạn khác trong lớp.
- Phân công cho mỗi nhóm thực hiện nhiệm vụ ban đầu
- Thực hiện phần đầu của bài học. Đƣa ra nhiệm vụ thảo luận cho mỗi
nhóm từ 3 đến 4 phút để hoàn thành. Sử dụng cách thức trình bày/chia sẻ/lắng
nghe/đƣa ra câu trả lời mới. Chọn ngẫu nhiên 2 hoặc 3 HS trình bày tóm tắt
phần thảo luận của mình, dùng cách này để tăng cƣờng trách nhiệm cá nhân,
các nhóm đều nghiêm chỉnh thực hiện nhiệm vụ và tự kiểm ttra lẫn nhau để
chắc chắn rằng cả nhóm đều chuẩn bị tinh thần trả lời câu hỏi.
- Tiếp tục thực hiện phần hai của bài giảng, đƣa ra nhiệm vụ thứ hai.
Lặp lại trình tự này cho tới khi hoàn thành bài học.
- Kết thúc bài học là đƣa ra nhiệm vụ cuối cùng, thƣờng là những bài tập
để rèn luyện năng lực của mỗi cá nhân. Dành 5-6 phút để tóm tắt và thảo luận
về những vấn đề đã đƣợc đề cập trong giờ học.
Thực hiện trình tự này đều đặn để giúp HS nâng cao kỹ năng và đẩy
nhanh tốc độ hoàn thành những nhiệm vụ thảo luận ngắn. Có thể đƣa vào một
số câu hỏi nhƣ: “ Em đã tham gia thảo luận nhƣ thế nào?”, “Trong quá trình
nhóm thảo luận em có tham gia ý kiến gì?”, “ Em thƣờng lắng nghe ý kiến của
bạn hay đƣa ra ý kiến của mình?”, “ Em cần chuẩn bị những gì để thảo luận
tốt hơn?”…Điều đó sẽ thúc đẩy HS học tập tích cực hơn, bổ xung kiến thức
mình còn hạn chế để có thể đƣa ra đƣợc ý kiến của mình, phản hồi những ý
kiến của bạn trong quá trình lắng nghe nhóm thảo luận.
Quá trình học hợp tác nhóm không chỉ giúp HS chủ động nhận thức, mà
làm một nhiệm vụ đƣợc giao ở bên ngoài trong một thời gian nhất định. Trong
lần thảo luận tiếp theo với GV, các nhóm phải trình bày kết quả cho lớp. 18
Chia nhóm đánh giá: Một nhóm chịu trách nhiệm thảo luận một chủ đề nào đó
và một nhóm khác có trách nhiệm đƣa ra các quan sát, nhận xét và đánh giá kết
quả của nhóm kia.
Chia nhóm cập nhật kết quả : Cuối mỗi bài học, HS phải trả lời những câu hỏi
hoặc những bài tập nhỏ của GV hoặc của nhóm bạn đặt ra và chứng minh câu
trả lời của mình. Các nhóm cập nhật các câu trả lời sau đó thảo luận, tổng hợp,
so sánh các câu hỏi và các câu trả lời để có đƣợc phƣơng án trả lời đúng. Sau
đó, GV tổ chức một buổi thảo luận để kiểm tra các câu trả lời hợp lý và tổng
hợp thành chuỗi kiến thức của cả một chuyên đề hoặc của cả một chƣơng nào
đó. Thích hợp với bài ôn tập chƣơng.
1.1.2.3. Các bước tiến hành dạy học hợp tác
(Phần này được trình bày dựa theo [19] và [35])
a. Các bƣớc tiến hành dạy học hợp tác:
Dạy học hợp tác dựa trên hoạt động của các nhóm đƣợc tiến hành theo
các bƣớc sau:
Hoạt động của giáo viên:
Bƣớc 1: Thành lập nhóm học sinh từ 5 -10 HS một cách ngẫu nhiên
Bƣớc 2: Phát cho các nhóm nội dung về những nhiệm vụ và yêu cầu mà
nhóm phải thực hiện
Bƣớc 3: Định hƣớng sự hoạt động cho nhóm
Bƣớc 4: Tổ chức thảo luận trên lớp
Bƣớc 5: Đánh giá kết quả, tính điểm của mỗi nhóm
Bƣớc 6: Nhận xét, rút kinh nghiệm về sự hoạt động của các nhóm
Hoạt động của học sinh:
Để nhóm đạt thành tích cao thì mọi thành viên trong nhóm đều phải cố gắng
tin, cảm nhận, ý kiến phản ứng, nhu cầu, mục đích, mối quan tâm, các nguồn
lực, và những điều trung thực khác. Mỗi HS cũng phải có khả năng tiếp nhận
thông tin một cách chính xác sao cho bản thân có thể hiểu đƣợc các ý tƣởng,
niềm tin, cảm nhận,…của ngƣời khác. Qua truyền đạt và tiếp nhận, nhóm HS
có thể làm sáng tỏ mục tiêu chung, theo dõi bạn mình, thuyết phục bạn, thống 20
nhất hành động, giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ cho nhau và thúc đẩy nhau hoạt
động
Kỹ năng xây dựng và duy trì bầu không khí tin tƣởng lẫn nhau: Sự tin
tƣởng thể hiện ở những hành vi cởi mở và chia sẻ, chấp nhận, ủng hộ và những
ý muốn hợp tác. Khi đánh giá hành vi đƣợc tin tƣởng của một HS, điều quan
trọng cần nhớ là sự chấp nhận và ủng hộ của một ngƣời đối với những đóng góp
của các thành viên khác không có nghĩa là ngƣời đó phải đồng ý với mọi điều mà
những ngƣời khác nói ra. Một cá nhân có thể bộc lộ sự chấp nhận và ủng hộ trƣớc
sự cởi mở và chia sẻ với ngƣời khác trong khi vẫn nói lên các ý tƣởng khác thậm
chí cả những quan điểm đối lập. Vì thế kỹ năng xây dựng và duy trì bầu không
khí tin tƣởng lẫn nhau hết sức quan trọng trong quá trình hợp tác.
Kỹ năng kèm cặp nhau: Kèm cặp, giúp đỡ nhau để cùng hoàn thành mục
tiêu học tập. Điều này giúp các em thân thiện với nhau, hiểu nhau hơn và gần
gũi hơn.
Kỹ năng lãnh đạo: Thể hiện những hành động giúp cho nhóm hoàn
thành nhiệm vụ. Thƣờng làm nổi bật vai trò của những học sinh có năng lực tốt
hơn.
Kỹ năng tƣ duy phê phán: Những xung đột giữa các tƣ tƣởng, ý kiến, kết
luận, lý thuyết, lời giải và đặc biệt là phƣơng pháp giải toán,… gây ra những
cuộc tranh luận là một khía cạnh quan trọng của học hợp tác. Qua sự tranh
luận, đƣa ra ý kiến của mình, phản bác ý kiến của bạn, HS đƣợc rèn luyện tƣ
duy phê phán và tạo cho mình sự tự tin, mạnh dạn, tin tƣởng năng lực của bản
quát hoá…môn toán còn có tác dụng góp phần phát triển nhân cách, rèn luyện
những đức tính, phẩm chất của ngƣời lao động mới nhƣ tính cẩn then, chính
xác, tính kỷ luật, tính phê phán, tính sáng tạo, bồi dƣỡng óc thẩm mỹ.
Thứ hai, môn toán cung cấp vốn văn hoá phổ thông tƣơng đối hoàn
chỉnh bao gồm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và phƣơng pháp tƣ duy
Thứ ba, môn toán còn là công cụ giúp cho việc dạy và học các môn học
khác. Do tính trìu tƣợng cao, Toán học còn có tính thực tiễn phổ dụng. Những
tri thức và kỹ năng toán học trở thành công cụ để học tập những môn học khác
trong nhà trƣờng, là công cụ của nhiều ngành khoa học khác nhau vì vậy môn 22
toán là thành phần không thể thiếu của trình độ văn hoá phổ thông của con
ngƣời mới. Cùng với việc kiến tạo tri thức, môn toán trong nhà trƣờng phổ
thông còn rèn luyện cho HS những năng lực tính toán, năng lực vẽ hình, năng
lực vận dụng toán học vào các môn học khác…Môn toán còn giúp HS hình
thành và phát triển năng lực của bản thân trong việc giải quyết vấn đề thực tế
trong công việc và trong cuộc sống. Vì thế, môn Toán càng có ý nghĩa quan
trọng hơn trong giai đoạn hiện nay, thời kỳ phát triển mới của đất nƣớc.
b. Mục tiêu và nhiệm vụ dạy học môn Toán THPT:
Theo mục tiêu GD hiện nay, trong dạy học môn Toán nếu chỉ truyền thụ
kiến thức toán học cho HS là chƣa đủ, mà ngƣời GV còn cần phải truyền thụ
cho HS cách chủ động học tập, khơi gợi niềm say mê, hứng thú, sáng tạo, chủ
động rèn luyện các năng lực xã hội[25]. Với vai trò và vị trí đã đƣợc xác định,
mục tiêu cụ thể của môn toán đƣợc xác định nhƣ sau:
Mục tiêu về kiến thức, tƣ duy: Nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục trong
giai đoạn hiện nay, việc dạy học không chỉ trang bị tri thức cho ngƣời học mà
quan trọng hơn là dạy HS biết cách học, làm nảy sinh ở HS tính ham hiểu biết,
kích thích năng lực hội thoại phê phán, say mê tự học nên trong dạy học môn
Toán, chúng ta cần tập luyện cho HS năng lực tập trung học tập bao gồm: rèn
máy móc. Vì vậy ngƣời GV cần để ý cả 2 phƣơng diện này để giúp mọi đối
tƣợng HS “biết làm” toán. Điều đó sẽ giúp mỗi HS hình thành năng lực “biết
làm” trong thực tiễn công việc của các em sau này. Ví dụ: trong giờ thực hành
vẽ đồ thị hàm số bậc hai-lớp 10. HS đƣợc rèn luyện quy trình vẽ Parabol, qua
cách vẽ các em hợp tác phát hiện và phân biệt số giao điểm của Parabol với
trục hoành, trục tung từ đó liên hệ với số nghiệm của phƣơng trình bậc hai đã
học. Qua đó các em vừa đƣợc rèn luyện năng lực vẽ đồ thị tạo đà cho việc vẽ
đồ thị ở lớp 12, vừa đƣợc rèn luyện kỹ năng làm bài linh hoạt. Mặt khác trong
quá trình học hợp tác, HS đƣợc thử nghiệm các vai trò cá nhân trong nhóm
nhƣ: nhóm trƣởng, thƣ ký, quan sát viên, thành viên. Sau nhiều lần tham gia
nhƣ vậy làm kỹ năng giao tiếp và tình bạn đƣợc tăng lên, HS sẽ dần nhận ra
năng lực của mình trong việc lĩnh hội kiến thức cũng nhƣ trong giao tiếp, từ đó
tạo điều kiện để HS có thể tự tin chọn ngành nghề của mình. 24
Mục tiêu về thái độ: Thông qua học toán, rèn luyện cho HS khả năng
nhìn nhận sự vật hiện tƣợng, các mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau theo
quy luật. Đồng thời tính chính xác và chặt chẽ của toán học sẽ rèn luyện cho
HS cách nhìn sự vật một cách tƣờng minh, rõ ràng, tuy nhiên lại hạn chế tính
mềm dẻo, uyển chuyển trong các tình huống cƣ xử thực tế. Do đó cần kết hợp
học tập toán với các HĐ học tập có tính chất xã hội nhƣ: học hợp tác nhóm, thi
đố vui toán học, hoạt động ngoại khoá…Chúng ta cũng nên tạo điều kiện để
HS đƣợc học tập ở bạn, phát huy tính tự trọng, tinh thần trách nhiệm đối với
công việc, đối với mọi ngƣời, tạo không khí học cùng nhau vì lợi ích chung,
tạo cơ hội để HS đƣợc chia sẻ suy nghĩ, biết cảm thông, biết sẵn sàng giúp đỡ
bạn học. Ví dụ: trong giờ học luyện tập chứng minh bất đẳng thức - lớp 10, GV
tổ chức cho HS học tập theo PP hợp tác nhóm, hình thức các nhóm thi đua lẫn
nhau, tìm ra nhiều cách chứng minh bất đẳng thức:
a