Ứng dụng công nghệ thông tin để dạy học xác suất thống kê tại trường Đại học Hải Phòng - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THOA ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
ĐỂ DẠY HỌC XÁC SUẤT THỐNG KÊ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN)
Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ PHÊ ĐÔ HÀ NỘI – 2012

3
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT


SGK
Sách giáo khoa
SV
Sinh viên
TKBG
Thiết kế bài giảng
XS
Xác suất
XSTK
Xác suất thống kê

4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Kết quả phân loại trình độ của SV qua lần kiểm tra trước thực
nghiệm .
91
Bảng 3.2: Bảng thống kê nhận xét về bài giảng
92
Bảng 3.3: Bảng thống kê sự hứng thú đối với cách giảng của cô
92
Bảng 3.4: Kết quả kiểm tra 45 phút sau thực nghiệm
93 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ


v
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
6
1.1. Vai trò của CNTT trong dạy học
6
1.1.1. Đôi nét về CNTT
6
1.1.2. Ứng dụng CNTT trong dạy học của GV
6
1.1.3.Ứng dụng CNTT trong học tập của SV
11
1.2. Vai trò của CNTT trong dạy học Toán
12
1.2.1. Vấn đề khai thác sử dụng CNTT trong dạy học toán
12
1.2.2. Tổ chức dạy học toán trong môi trường CNTT
14
1.3. Nhận định
22
1.4. Vị trí của XSTK trong chương trình dạy học ở Đại học Hải
Phòng
23
1.4.1. Cấu trúc chương trình
23
1.4.2 Thực trạng sử dụng CNTT trong dạy học XSTK ở trường
Đại học Hải Phòng
26
CHƢƠNG 2: DẠY HỌC XÁC SUẤT THỐNG KÊ TẠI

CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
90
3.1. Mục đích, nội dung thực nghiệm sư phạm
90
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
90
3.1.2. Nội dung thực nghiệm
90
3.2. Tổ chức thực nghiệm
90
3.2.1. Kế hoạch, thời gian và địa điểm thực nghiệm
90
3.2.2. Phương pháp thực nghiệm
90
3.3. Kết quả thực nghiệm .

3.3.1. Kết quả về mức độ hiểu bài và sự hứng thú của SV đối với
bài giảng
92
3.3.1. Kết quả kiểm tra đánh giá sau thực nghiệm :
93
3.3.2. Phân tích kết quả thực nghiệm :
93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
96
1. Kết luận
96
2. Khuyến nghị
96


học, thư viện quốc gia của các nước trong khu vực và trên thế giới. Mở cổng
kết nối Internet trực tuyến cho hệ thống giáo dục đại học".

9
+ Chỉ thị số 29 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký ngày
30/7/2001 về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong
ngành giáo dục giai đoạn 2001-2005 nêu rõ: “Đối với giáo dục và đào tạo,
CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phương pháp phương
thức dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới một “xã hội học tập”. Mặt
khác giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng bậc nhất thúc đẩy sự phát
triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT”.
+ Chỉ thị số 40/CT-TW của Ban chấp hành TW Đảng ra ngày 15/6/2004
về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục đã nêu rõ: Ứng dụng CNTT trong dạy học toán “Tích cực áp dụng
một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng CNTT vào
hoạt động dạy và học”.
Như vậy với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới phương pháp
giảng dạy thì một trong các biện pháp khả thi là biết kết hợp các phương pháp
dạy học truyền thống và không truyền thống trong đó có sử dụng CNTT như
một yếu tố không thể tách rời. Trong những năm gần đây, phong trào đổi mới
phương pháp dạy học đã được đẩy mạnh ở tất cả các cấp học, bậc học và đã
đạt được những thành tựu đáng kể.
Tại các trường đại học phong trào đổi mới phương pháp dạy học diễn ra
rất mạnh mẽ. Rất nhiều khoa, trường chuyên nghiên cứu về phương pháp dạy
học đã được thành lập. GV các trường đã đi sâu vào nghiên cứu và áp dụng
các phương pháp dạy học vào dạy học toán và đã đạt được những chuyển biến
tích cực.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của tin học các tác giả nghiên cứu
lâu năm về môn XSTK đã kịp thời bổ sung vào nội dung dạy học của mình
toán XSTK gắn liền với tin học. Có rất nhiều phần mềm dạy học XSTK như

thiết kế xây dựng một số bài giảng XSTK .
- Thiết kế một số bài giảng cụ thể trong phần XSTK ở trường ĐHHP có
ứng dụng CNTT. 11
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1 . Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các sách, báo, tạp chí thuộc 4 loại:
6.1.1. Các văn kiện của Đảng và nhà Nước, của Bộ GD- ĐT có liên quan
đến việc dạy và học toán.
6.1.2. Các sách, bài báo, về khoa học toán học liên quan đến đề tài.
6.1.3. Các sách, bài báo về giáo dục học môn toán, về tâm lý học, giáo
dục học liên quan đến đề tài.
6.1.4. Các công trình nghiên cứu, các vấn đề có liên quan trực tiếp đến
đề tài của luận văn.
6.2. Phương pháp quan sát - điều tra
Thăm lớp, dự giờ, quan sát việc dạy của GV và việc học của SV trong
quá trình dạy học XSTK có và không có sự hỗ trợ của CNTT.
6.3. Thực nghiệm sư phạm
6.3.1. Tổ chức thực nghiệm sư phạm có đối chứng thông qua các lớp học
thực nghiệm và các lớp học đối chứng trên cùng một lớp đối tượng nhằm
kiểm chứng hai quá trình dạy học XSTK tại trường ĐHHP có sử dụng CNTT
và không sử dụng CNTT.
6.3.2. Phân tích xử lý kết quả điều tra của GV thực nghiệm sư phạm.
6.4. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phương pháp toán thống kê trong xử lý kết quả thực nghiệm sư
phạm đối với SV trong dạy học XSTK tại trường ĐHHP với sự hỗ trợ CNTT.
7. Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận
+ Làm sáng tỏ những quan điểm về ứng dụng CNTT và vai trò của

Một máy tính nối mạng không chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửi
email mà nó là kênh kết nối chúng ta với cả thế giới. Chúng ta có thể tiếp cận
với tri thức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gia những
hội thảo, hội nghị ở cách xa nửa vòng trái đất. Mạng máy tính toàn cầu thực
sự đã tạo ra một thế giới mới, trong đó cũng có gần như các hoạt động của thế
giới thực: thương mại điện tử, giáo dục điện tử, trò chơi trực tuyến, các diễn
đàn, các mạng xã hội, các công dân điện tử…
Thông qua các diễn đàn và mạng xã hội, mọi người có thể trao đổi, chia
sẻ với nhau các tài nguyên số, cũng như các kinh nghiệm trong công việc,
trong đời sống thường ngày.
Trong lĩnh vực giáo dục, các bậc phụ huynh trên cả nước có thể chia sẻ
kinh nghiệm về cách chăm sóc con cái; GV có thể chia sẻ các bài giảng và bài
giảng với nhau, để xây dựng một "kho tài nguyên" khổng lồ phục vụ cho việc
giảng dạy của mỗi người. SV cũng có thể thông qua các mạng xã hội để trao
đổi những kiến thức về học tập và thi cử.
1.1.2. Ứng dụng CNTT trong dạy học của GV
1.1.2.1. Phát triển và hoàn thiện tài liệu dạy học
Trong môi trường học tập mang tính chất cá thể hoá cao, SV theo đuổi
những câu hỏi, sử dụng các tài liệu và tham gia vào các hoạt động thì người
thầy dựa vào CNTT để phát triển và hoàn thiện tài liệu nhằm đáp ứng tốt các
nhu cầu phân hóa SV. Có hai cách thức khác nhau mà GV có thể sử dụng
CNTT để soạn tài liệu hướng dẫn cho SV:

14
+ Phát triển tài liệu hướng dẫn dựa trên cơ sở CNTT
CNTT cho phép GV sáng tạo tài liệu cho mình, có thể được xem là vô
cùng hấp dẫn. Ngày nay có nhiều phần mềm mà GV dễ dàng sử dụng để tạo
tài liệu giảng dạy như Power Point, Latex, GV càng dễ dàng lập được các tài
liệu có cả hình ảnh, âm thanh sống động.
+ Mô phỏng

lại tiếp tục giải thích điều mà một số SV lại chẳng cho đó là khó hiểu. CNTT
có thể giúp cải thiện được vấn đề này bằng việc cung cấp một thiết bị hướng
dẫn cho ta thông tin phản hồi tức thì từ tất cả các SV có mặt trong lớp.
+ Lưu trữ và truy cập vào công việc của SV và có nhận xét tại chỗ: Cho
đến nay chưa có phương tiện nào cho ta được một hệ thống hoàn chỉnh để
nhập, lưu trữ, truy cập, phân tích, trình diễn số liệu và thực hiện hoạt động
như CNTT. GV đang thiếu một sự hỗ trợ khi cố tạo lập một cơ sở dữ liệu
mang tính hệ thống về tốc độ tiến bộ của trẻ em trong một khoảng thời gian
đủ dài.
+ Quản lý có hướng dẫn học tập của SV: Công tác giảng dạy kéo theo
lượng công việc khổng lồ về quản lý các mục tiêu hỗ trợ dạy-học và hồ sơ
thực hành của SV, đặc biệt là khi nội dung hướng dẫn đã được soạn thảo riêng
cho cá nhân. Một trong các “ngăn chứa” lớn nhất của các hệ thống chuyên về
học tập là để chứa phần mềm nhằm tự động hoá quy trình này. Mục tiêu học
tập của mỗi SV, đơn vị học phần dự định và đã hoàn thành, công việc đánh
giá cuối mỗi tiểu mục đều được ghi lại. Rất nhiều hệ thống có khả năng làm
ra các báo cáo tình hình học tập cả cho cá nhân SV và cho tập thể lớp. Những
điểm đặc trưng về “quản lý có hướng dẫn” như vậy sẽ không thể làm được
nếu thiếu vắng một hệ thống chuyên về học tập được thiết kế để bố trí hướng
dẫn đúng chỗ, đúng lúc.
1.1.2.3. Mở rộng kiến thức của GV
Các hệ thống viễn thông đang giúp GV cởi bỏ sự biệt lập truyền thống để
tăng cường giao tiếp với đồng nghiệp và chuyên gia khác. Những quan hệ qua

16
lại này có thể giúp GV mở rộng tầm nhìn về các môi trường dạy và học hiệu
quả, hiểu cách thức mà CNTT sẽ hỗ trợ, tìm hiểu về các chiến lược hướng dẫn
có hiệu quả, chia sẻ thông tin về SV, và đón nhận sự hỗ trợ động viên để học
hỏi. Phương tiện viễn thông cho phép GV sống trong môi trường thông tin
thường xuyên với những con người phía bên ngoài lớp học mà vẫn không gây

Một xu thế tích hợp công nghệ được quan tâm là việc xây dựng môi trường
học tập cộng tác với thời gian và không gian thực. SV tự tìm tòi khám phá
kiến thức và học tập theo tiến độ và khả năng riêng của mình. Ngoài ra, đưa
công nghệ tích hợp vào bài giảng còn được thực hiện bằng việc lựa chọn phần
mềm thích hợp, soạn bài giảng có sử dụng công nghệ hỗ trợ dạy học, tổ chức
cho SV hoạt động trong môi trường học tập do công nghệ tạo ra. Vấn đề này
có thể tiếp cận trên ba hướng:
+ Hướng thứ 1: GV có thể đi tìm một ứng dụng công nghệ nào đó đang
có sẵn để ứng dụng vào bài giảng hiện tại. Trong chương trình giảng dạy có
sẵn những “khoảng trống” để tiếp đón phần mềm ứng dụng này.
+ Hướng thứ 2: GV có một chương trình giảng dạy hoàn chỉnh và tổng
thể. Xuất phát từ nguồn lực hiện có, GV lựa chọn và bố trí theo trình tự những
gì muốn sử dụng.
+ Hướng thứ 3: GV xây dựng một đơn vị chương trình giảng dạy theo
một đề tài hay một chủ đề, có sử dụng một loạt các ứng dụng công nghệ khác
nhau. Bất kể là cách thức sử dụng công nghệ ra sao (đơn chương trình, đa
chương trình) hay ứng dụng công nghệ sử dụng cao hay thấp (chế bản văn
bản, CD-ROM), thì việc hoà nhập công nghệ nào cũng buộc GV phải tái suy
nghĩ, tái chuyển đổi và tái bố cục chương trình giảng dạy của mình. Mọi sử
dụng công nghệ đều bắt buộc GV phải nêu được các câu hỏi như: Công nghệ
mang lại điều gì cho SV trong quá trình lĩnh hội tri thức? SV sẽ hợp tác với
nhau ra sao trong học tập? Mối quan hệ giữa công nghệ với các tài liệu hướng
dẫn khác? SV phải cần những kiến thức, quy trình và kỹ năng gì để có thể sử
dụng công nghệ? Kiến thức gì về nội dung hay nguyên lý giảng dạy hoặc về
công nghệ mà tôi cần phải có để có thể củng cố cách học tập trong SV của

18
tôi? Trả lời cho các câu hỏi như trên đòi hỏi GV tự bồi dưỡng để có thể ứng
dụng CNTT khi dạy học trên lớp.
1.1.3. Ứng dụng CNTT trong học tập của SV

1.3. Vai trò của CNTT trong dạy học Toán
1.2.3. Vấn đề khai thác sử dụng CNTT trong dạy học toán
Cùng với sự phát triển như vũ bão của CNTT, việc nghiên cứu và triển
khai các thế mạnh của CNTT nhằm hỗ trợ quá trình dạy học toán được nhiều
quốc gia và các nhà giáo dục quan tâm. Tài liệu The free NCET (1995) leanet
đã mô tả 6 hướng cơ bản trong việc sử dụng CNTT nhằm cung cấp các điều
kiện cho người học toán, cụ thể:
+ Học tập dựa trên thông tin ngược: Máy tính có khả năng cung cấp
nhanh và chính xác các thông tin phản hồi dưới góc độ khách quan. Từ những
thông tin phản hồi như vậy cho phép người học đưa ra sự ước đoán của mình
và từ đó có thể thử nghiệm, thay đổi những ý tưởng của người học.
+ Khả năng quan sát các mô hình: Với khả năng và tốc độ xử lý của
máy tính điện tử giúp người học đưa ra nhiều ví dụ khi khám phá các vấn đề
trong toán học. Máy tính sẽ trợ giúp người học quan sát, xử lý các mô hình, từ
đó đưa ra lời chứng minh trong trường hợp tổng quát.
+ Phát hiện các mối quan hệ trong toán học: MTĐT cho phép tính toán
biểu bảng, xử lý đồ hoạ, quan sát sự thay đổi một cách chính xác và liên kết
chúng với nhau. Việc cho thay đổi một vài thành phần và qua các thành phán
còn lại đã giúp người học phát hiện ra mối tương quan giữa các đại lượng.
+ Thao tác với các hình động: Người học có thể sử dụng MTĐT để biểu
diễn các biểu đồ một cách sinh động. Việc đó đã giúp cho người học hình
dung ra các hình hình học một cách tổng quát từ hình ảnh của máy tính.
+ Khai thác tìm kiếm thông tin: MTĐT cho phép người sử dụng làm việc
trực tiếp với các dữ liệu thực, từ đó hình dung ra sự đa dạng của nó và sử
dụng để phân tích hay làm sang tỏ một vấn đề toán học.
+ Dạy học với máy tính: Khi người học thiết kế thuật toán để sử dụng
MTĐT giúp tìm ra kết quả thì người học phải hoàn thành dãy các chỉ thị

20
mệnh lệnh một cách rõ ràng, chính xác. Họ đã sắp đặt các suy nghĩ của mình

ứng được các yêu cầu sau:
 Các câu hỏi phải mang tính gợi mở, định hướng giúp cho SV con
đường xử lý thông tin để đi đến kiến thức mới.
 Các câu hỏi phải trợ giúp SV củng cố kiến thức mới và tăng cường khả
năng vận dụng kiến thức trong thực hành.
 Các câu hỏi phải có tính mở để khuyến khích SV phát huy tính sáng
tạo, khả năng phân tích tổng hợp, khái quát hoá các tri thức đã được trang bị
để giải quyết vấn đề. Điều khác biệt so với các hình thức dạy học truyền
thống là quá trình truyền đạt, phân tích, xử lý thông tin và kiểm tra đánh giá
kết quả được GV, SV thực hiện có sự trợ giúp của các phần mềm và MTĐT.
1.2.4. Tổ chức dạy học toán trong môi trường CNTT
1.2.2.1. Sử dụng phương tiện CNTT trong các giờ lên lớp với số đông SV
Hình thức này được áp dụng với quy mô số SV từ 40 đến 60. Ngoài các
phương tiện dạy học thông thường của một lớp học truyền thống như bảng
đen, phấn trắng, thước kẻ lớp học được trang bị thêm máy tính, máy chiếu
Project, Trong giờ học, cả lớp quan sát kết quả xử lý của máy tính trên màn
hình lớn.
+ Hình thức này có những đặc điểm sau:
- GV trực tiếp lên lớp khai thác các tính năng của CNTT để trình bày
kiến thức một cách sinh động. Một số trường hợp, GV có thể chuẩn bị sẵn
hình vẽ, bảng biểu, để rút ngắn thời gian thao tác với máy tính.
- SV quan sát và phán đoán theo sự định hướng của GV. SV ít được trực
tiếp thao tác với máy tính.
+ Xu hướng diễn ra trong lớp học như sau:
- Từng SV làm việc gần như "độc lập" với nhau, cùng tập trung vào quan
sát, xử lý những thông tin trên màn hình.
- Những SV khá, giỏi chưa được phát huy tối đa khả năng của bản thân
vì cả lớp cùng được giao một nhiệm vụ cụ thể như nhau.

22

SV học kém sẽ có khả năng, cơ hội thể hiện và học hỏi nhiều hơn với chính
các thành viên trong nhóm.
Hình thức học "cộng tác" chỉ thực sự phát huy tác dụng nếu ta đảm bảo
được các yếu tố quan trọng sau:
 Thiết lập sự phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm.
 GV hình thành và phát triển được kỹ năng hợp tác của mỗi SV.
 Khẳng định rõ ràng trách nhiệm của từng cá nhân trong nhóm.
 Tạo được môi trường tương tác giữa các thành viên trong nhóm.
 Hình thành kỹ năng giao tiếp, ứng xử cho SV trong học tập.
 Hình thức phân chia nhóm: Tuỳ từng nội dung mà ta có thể chia nhóm
ngẫu nhiên hay chia nhóm theo trình độ người học. Ví dụ: Khi làm việc với
nội dung mới có thể sử dụng nhóm ngẫu nhiên để SV giỏi, khá có thể kèm
cặp, giúp đỡ SV yếu. Nếu là giờ luyện tập, rèn luyện kỹ năng thì có thể phân
chia theo trình độ người học để giao nhiệm vụ phù hợp nhằm phát huy được
tối đa khả năng của người học.
1.2.2.3. Hình thức SV làm việc độc lập tại lớp
- Mỗi SV được sử dụng một máy tính. Lớp học được tổ chức tại phòng
máy tính của trường.
- Nhiệm vụ của cả lớp được phân thành các nhiệm vụ nhỏ để giao cho
các cá nhân (do vậy SV đều ý thức được rằng, tuy hoạt động độc lập nhưng
thành công của bản thân chính là thành công của cả lớp và ngược lại).
+ Hình thức này có các đặc điểm chính sau:
- SV có điều kiện phát huy hết khả năng của bản thân.
- Trong một thời điểm có thể giải quyết nhiều bài toán khác nhau.
- Phù hợp với việc nhận thức chênh lệch trong một lớp. Tuỳ mức độ khả
năng của bản thân mà SV được khuyến khích đảm nhận những nhiệm vụ vừa
sức.
- Đòi hỏi trình độ phân tích, tổng hợp vấn đề của GV ở mức cao.

25
nhất định. Việc phân tích, đánh giá các đáp ứng của người học thường dựa
trên các yêu cầu đã chuẩn bị sẵn. Số lượng cũng như nội dung của mỗi Slide
được xác định sao cho thể hiện được tốt nhất nội dung bài giảng cũng như ý
đồ sư phạm. Lượng thông tin của mỗi Slide cũng không hạn chế, với sự hỗ trợ
của các phần mềm công cụ thì nội dung không chỉ là dạng văn bản mà còn là
âm thanh, hình vẽ, ảnh động, thậm chí cả video. Bài giảng điện tử cho phép ta
trình diễn một cách trực quan sinh động các nội dung mà nếu không sử dụng
máy vi tính thì không thể nào mô tả được; với chức năng siêu liên kết cho
phép ta kết nối các Slide của bài giảng thành một hệ thống, từ một vị trí ta có
thể truy nhập đến bất kỳ một nội dung (một Slide) nào khác trong bài giảng.
Mặt khác, ta có thể kết nối hàng loạt các bài giảng với nhau thành một hệ
thống hoàn chỉnh để giảng dạy một vấn đề, một chương. Vì bài giảng điện tử
tích hợp sẵn một khối lượng kiến thức được liên kết sẵn cho phép người GV
ôn tập đến phần nào, GV kích chuột vào tên mục để chuyển đến slide nội
dung của mục đó. Với bài giảng điện tử này tiến trình lên lớp rất linh hoạt,
tiến trình ôn tập có thể rẽ nhánh, triển khai đi sâu vào những nội dung chi tiết,
quay lui chuyển về những nội dung đã trình bày Hơn nữa, khối lượng kiến
thức được ôn tập lại trong một tiết rất lớn và GV tiết kiệm được thời gian để
viết kẻ, vẽ lên bảng. Nhờ sự hỗ trợ của máy tính và bài giảng điện tử, giờ ôn
tập chương không còn là cảnh GV liệt kê lại nội dung đã học mà nó là quá
trình làm việc tích cực của trò dưới sự dẫn dắt của thầy. Tuy nhiên bài giảng
điện tử được thiết kế theo một kịch bản của người GV dự định trước nên việc
đưa ra các tình huống là hữu hạn, các giải pháp đáp ứng yêu cầu cố định,
trong đó thực tế rất đa dạng và phong phú. Vậy GV cần phối hợp với các
phương pháp, hình thức dạy học khác để phát huy tối đa tính tích cực, chủ
động của người học nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
Quy trình thiết kế một bài giảng điện tử:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status