Sử dụng phần mềm Matlab trong dạy học bài tập chương Động học chất điểm sách giáo khoa vật lý 10 - Pdf 25

1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN THỊ THU HIỀN
SỬ DỤNG PHẦN MỀM MATLAP TRONG
DẠY HỌC BÀI TẬP CHƢƠNG “ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM”
SÁCH GIÁO KHOA VẬT LÝ 10 Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(Bộ môn Vật lý)
Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM VẬT LÝ


TN
: Trung học phổ thông
: Thực nghiệm

3
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1

1.1.4. Phương pháp giải bài tập vật lí
14
1.1.5. Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí
16
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
20
1.2.1. Giáo dục và công nghệ
20
1.2.2. Vai trò của CNTT trong dạy học Vật lí
21
1.2.3. Khai thác và sử dụng một số phần mềm để dạy học môn Vật lí
22
1.2.4. Ưu điểm và hạn chế của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Vật


23
1.3. Giới thiệu phần mềm Matlab
25
1.3.1. Các kiểu dữ liệu
25
1.3.2. Các phép tính với ma trận
26
1.3.3. Cú pháp
26
1.3.4. Cú pháp đặc biệt (syntactic sugar)
27


38
2.2.1. Các khái niệm cơ bản
38
2.3. Phân loại và soạn thảo hệ thống bài tập chương Động học chất điểm.
38
2.3.1. Phân loại bài tập chương Động học chất điểm.
38
2.3.2. Soạn thảo hệ thống bài tập chương Động học chất điểm
38
2.3.3. Sử dụng phần mềm Matlab xây dựng hệ thống bài tập đã soạn thảo
40
Kết luận chương 2
44
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
45
3.1. Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
45
3.2. Đối tượng và phương thức thực nghiệm sư phạm
45
3.2.1. Đối tƣợng thực nghiệm sƣ phạm
45
3.2.2. Phƣơng thức thực nghiệm sƣ phạm
45
3.3. Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
46
còn bị ảnh hưởng mạnh mẽ.
Trước tình hình đó, bộ Giáo dục và Đào tạo cần thay đổi đồng bộ các
thành tố của quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức
tổ chức, phương tiện, kiểm tra đánh giá nhằm kích thích khả năng tư duy,
sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS. Đặc biệt là cần đổi mới phương
pháp dạy học nhằm tạo được những con người đáp ứng được với những yêu
cầu của thời đại.
Ở nước ta, trong những năm gần đây, thực hiện việc nghiên cứu đổi
mới nội dung phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng cho HS các phương
pháp nhận thức khoa học, phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong quá trình
dạy học nói chung và dạy Vật lý nói riêng đã thu hút được nhiều sự quan tâm
của các nhà lý luận dạy học, các giáo viên phổ thông.
Quá trình dạy học Vật lí có thể nâng cao chất lượng học tập và phát
triển năng lực của học sinh bằng nhiều phương pháp, cách thức khác nhau.
Trong đó giải bài tập vật lí với tư cách là một phương pháp được xác định từ
lâu trong giảng dạy Vật lí có tác dụng tích cực đến việc giáo dục và phát triển
năng lực của học sinh. Đó là một thước đo đúng đắn, thực chất sự tiếp thu,
vận dụng kiến thức và kĩ năng, kĩ xảo của học sinh. Bài tập Vật lí giúp học
sinh hiểu sâu sắc hơn những quy luật vật lí, những hiện tượng vật lí, biết phân
tích những vấn đề thực tiễn. Thông qua việc giải các dạng bài tập, học sinh
vận dụng kiến thức để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể
2
khác thì kiến thức đó mới trở nên sâu sắc, hoàn thiện và biến thành vốn kiến
thức riêng của mình.
Việc sử dụng phần mềm để mô phỏng, mô hình hóa các hiện tượng Vật
lý giúp học sinh nhận thức vấn đề, nhận thức các hiện tượng vật lý một cách
trực quan. Việc dạy học Vật lý với sự hỗ trợ của các phần mềm sẽ tiết kiệm

“Động học chất điểm” như thế nào?
5. Giả thuyết khoa học
Sử dụng phần mềm toán học Matlap lập trình các bài tập chương
“Động học chất điểm” với độ trực quan và khả năng khái quát hóa cao nhằm
phát huy tính tích cực của HS.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí
luận của việc xây dựng bải tập Vật lý chương “Động học chất điểm” nhằm
phát huy tính tích cực nhận thức cho HS.
Điều tra, khảo sát tình hình dạy học bài tập và việc ứng dụng công nghệ
thông tin (CNTT) phần “Động học chất điểm” sách giáo khoa Vật lý 10.
Sử dụng phần mềm Matlab xây dựng các dạng bài tập trong sách giáo
khoa phần “Động học chất điểm” sách giáo khoa Vật lý 10.
Thiết kế phương án dạy học phần “Động học chất điểm” sách giáo khoa
Vật lý 10 Ban cơ bản có sử dụng các dạng bài tập đã xây dựng.
Thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính hiệu quả của các dạng bài
tập đã thiết kế trong dạy học phần “Động học chất điểm” sách giáo khoa
Vật lý 10.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng phương pháp nghiên cứu các tài liệu, sách báo liên quan đến
đề tài để xác định cơ sở lí luận của đề tài.
Nghiên cứu tài liệu về phần mềm Matlab trên máy tính.
8.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
4
Điều tra giáo dục, sử dụng phương pháp này để khảo sát tình hình dạy học
vật lí nói chung, dạy học bài tập vật lí nói riêng ở trường THPT trong tỉnh Bắc

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY
GIẢI BÀI TẬP VẬT LÍ PHỔ THÔNG CÓ SỰ HỖ TRỢ CỦA
PHẦN MỀM TOÁN HỌC MATLAB
1.1. Những vấn đề lí luận về dạy giải bài tập Vật lí
1.1.1. Khái niệm về bài tập Vật lí. [1,Tr1]
Theo X.E. Camenetxki và V.P.Oorrekhop « Trong thực tế dạy học, bài
tập Vật lí được hiểu là một vấn đề được đặt ra mà trong trường hợp tổng quát
đòi hỏi những suy luận logic, những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở
các định luật và các phương pháp vật lí ». Thực ra, trong các giờ học Vật lí,
mỗi một vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu giáo khoa trong các tiết học
chính là một bài tập đối với học sinh. Hiểu theo nghĩa rộng thì sự tư duy định
hướng một cách tích cực luôn luôn là việc giải bài tập.
Trong các tài liệu giáo khoa cũng như các tài liệu về phương pháp dạy
học bộ môn người ta thường hiểu bài tập Vật lí là những bài luyện tập được
lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện
tượng Vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển tư duy Vật lí của học sinh
và rèn kĩ năng vận dụng kiến thức của học sinh vào thực tiễn.
Với định nghĩa trên, cả hai ý nghĩa khác nhau của bài tập Vật lí là vận
dụng kiến thức và hình thành kiến thức mới đều có mặt. Do đó, bài tập Vật lí
với tư cách là một phương pháp dạy học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong
việc hoàn thành nhiệm vụ dạy học vật lí ở nhà trường phổ thông.
1.1.2. Vai trò của bài tập vật lí. [1, tr 7-11]
Thông qua dạy dọc về bài tập vật lí, người học có thể nắm vững một
cách chính xác, sâu sắc và toàn diện hơn những quy luật Vật lí, những hiện
tượng Vật lí, biết cách phân tích chúng và ứng dụng chúng vào các vấn đề
thực tiễn, làm cho kiến thức trở thành vốn riêng của người học.
Bài tập Vật lí có thể được sử dụng nhu một phương tiện độc đáo để nghiên
cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức cho học sinh. Trong quá trình giải quyết
7
mình, qua đó kích thích hứng thú, đam mê của các em với môn học, bồi
dưỡng khả năng quan sát. Bài tập Vật lí góp phần xây dựng một thế giới quan
duy vật biện chứng cho học sinh, làm cho họ hiểu rõ thế giới tự nhiên là thế
giới vật chất, vật chất luôn ở trạng thái vận động, họ mong muốn đem tài năng
và trí tuệ của mình cải tạo thiên nhiên.
Giải bài tập vật lí không phải là một công việc nhẹ nhàng, nó đòi hỏi sự
làm việc căng thẳng, tích cực của học sinh, một sựu vận dụng tổng hợp những
kiến thức, kinh nghiệm đã có thể tìm lời giải nêu ra trong bài tập vật lí.
Tuy nhiên không phải cứ cho học sinh làm bài tập là chúng ta đạt ngay
được các yêu cầu mong muốn. Bài tập vật lí chỉ phát huy tác dụng to lớn của
nó trong những điều kiện sư phạm nhất định. Kết quả rèn luyện kĩ năng, kĩ
xảo giải bài tập phụ thuộc rất nhiều vào việc có hay không có một hệ thống
bài tập được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với nục đích dạy học, với yêu cầu
rèn luyện kĩ năng kĩ xảo cho người học.
1.1.3. Phân loại bài tập vật lí. [9, tr.12]
Số lượng các bài tập Vật lí sử dụng trong thực tiễn dạy học hiện nay
rất nhiều, vì vậy cần có sự phân loại sao cho có tính tương đối thống nhất về
mặt lí luận cũng như thực tiễn để người dạy lựa chọn và sử dụng hợp lí các
bài tập Vật lí trong dạy học. Các bài tập vật lí khác nhau về nội dung và mục
đích dạy học, trong dạy học vật lí có thể phân loại chúng theo các cách sau:
- Phân loại theo nội dung.
- Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải.
- Phân loại theo yêu cầu luyện tập kĩ năng, phát triển tư duy sáng
tạo của học sinh.
chương, các phần vật lí khác nhau trong chương trình vật lí đã học.
Theo nội dung, bài tập vật lí cũng có thể phân chia thành các bài tập
có nội dung trừu tượng và bài tập có nội dung cụ thể. Ở các bài tập có nội
Phân loại theo phƣơng
thức cho điều kiện và
phƣơng thức giải
Phân
loại theo
nội dung
BÀI TẬP VẬT LÍ
Phân loại
theo yêu cầu
phát triển tƣ
duy
Bài
tập
luyệ
n tập
Bài
tập
sáng
tạo
Bài
tập
đồ
thị
Trắc
nghiêm
khách
quan

tập

thuậ
t
tổng
hợp
Bài
tập

nội
dung
lịch
sử

Nhiệt
Điện
Quang
Bài
tập
vật lí
vui
9
dung trừu tượng, các dữ kiện đều cho dưới dạng các kí hiệu, lời giải cũng sẽ
biểu diễn dưới dạng một công thức chứa đựng ẩn số và dữ kiện đã cho.
Ngược lại, với các bài tập có nội dung cụ thể, các dữ kiện đều cho
dưới dạng các con số cụ thể. Ưu điểm của bài tập trừu tượng là nhấn mạnh
bản chất vật lí của hiện tượng mô tả trong bài tập, còn ưu điểm của các bài

hiện tượng gì xảy ra và xảy ra thế nào. Ta thực hiện suy luận lôgic,thiết lập
luận ba đoạn, trong đó ta mới biết tiền đề thứ hai (phán đoán khẳng định
riêng), cần phải tìm tiền đề thứ nhất (phán đoán khẳng định chung) và kết
luận (phán đoán khẳng định riêng). Trong trường hợp hiện tượng xảy ra phức
tạp, ta phải xây dựng một chuỗi luận ba đoạn liên tiếp ứng với các giai đoạn
diễn biến của hiện tượng.
- Bài tập định lƣợng (bài tập tính toán): Đó là các bài tập khi giải
phải sử dụng các phương pháp Toán học, bằng cách dựa trên các định luật,
các quy tắc và công thức Vật lí. Đây là dạng bài tập phổ biến, thường được
soạn thảo cho chương trình Vật lí phổ thông. Các bài tập này có thể giải trên
lớp, trong giờ luyện tập, giao về nhà cho học sinh tập vận dụng kiến thức (sau
đó có sự kiểm tra của giáo viên). Dạng bài tập này có ưu điểm làm sâu sắc các
kiến thức của học sinh, rèn luyện cho học sinh vận dụng phương pháp nhận
thức đặc thù của Vật lí, đặc biệt phương pháp suy luận Toán học. Tuỳ theo
phương pháp Toán học được vận dụng, bài tập tính toán được quy về các bài
tập số học, đại số và hình học.
- Phương pháp số học: Phương pháp giải chủ yếu là phương pháp số
học, tác động lên các con số hoặc các biểu diễn chữ mà không cần thành lập
phương trình để tìm ra ẩn số.
- Phương pháp đại số: Dựa trên các công thức Vật lí, lập các phương
trình từ đó giải chúng để tìm ra ẩn số.
- Phương pháp hình học: Khi giải dựa vào hình dạng của đối lượng, các
dữ liệu cho theo hình vẽ để vận dụng quy tắc hình học hoặc lượng giác để giải.
11
Trong các phương pháp trên, phương pháp đại số là phương pháp phổ
biến nhất, quan trọng hơn cả vì vậy cần thường xuyên quan tâm rèn luyện cho
học sinh.

Hình 1.3: Sơ đồ lập luận theo phương pháp tổng hợp
SƠ ĐỒ LẬP LUẬN THEO PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP
Định luật 1(Công thức 1)
p=f(b)
Định luật 2(Công thức 2)
Y = f(a,p)
Định luật 3(Công thức 3)
Z = f(c)
Định luật 4(Công thức 4)
X=f(y,z)= f(a,b,c)

Hai phương pháp trên đều có giá trị như nhau, chúng bổ sung cho
nhau. Phương pháp phân tích nếu tìm được công thức đúng thì nhanh chóng
hướng tới kết quả bài toán. Tuy nhiên, học sinh không tập trung chú ý nhiều
vào các giai đoạn trung gian, điều đó nói chung là không có lợi, đặc biệt đối
với học sinh yếu, họ sẽ nắm bản chất Vật lí kém sâu sắc hơn. Phương pháp
tổng hợp cho phép đi sâu vào các giai đoạn trung gian, học sinh chú ý hơn tới
bản chất Vật lí và mối liên hệ giữa các đại lượng và hiện tượng. Phương pháp
tổng hợp giống như phương pháp " thử " và “ sai ” nên gần với tư duy trực
quan, cụ thể của học sinh. Trong khi phương pháp phân tích đòi hỏi cao hơn
về mức độ tư duy logic và chuẩn bị Toán học. Vì vậy căn cứ vào đối tượng
học sinh, mục đích dạy học, giáo viên nên sử dụng hợp lí các phương pháp
này. Trong những bài tập tính toán tổng hợp, hiện tượng xảy ra do nhiều
nguyên nhân, trải qua nhiều giai đoạn, khi xây dựng lập luận có thể phối hợp
hai phương pháp.
13
- Bài tập thí nghiệm: là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để

dụng các định luật vật lí, nhiều khi thuộc các phần khác nhau của định luật vật
lí, đưa ra một vài kết luận, sử dụng một số kĩ năng thực nghiệm.
1.1.4. Phương pháp giải bài tập vật lí
Đối với học sinh phổ thông, vấn đề giải và sửa bài tập gặp không ít
khó khăn vì học sinh thường không có kiến thức lý thuyết chắc chắn và kĩ
năng vận dụng kiến thức vật lí còn hạn chế. Vì vậy các em giải một cách mò
mẫm, không có định hướng rõ ràng, áp dụng công thức máy móc và nhiều khi
không giải được. Có nhiều nguyên nhân:
- Học sinh chưa có phương pháp khoa học để giải bài tập vật lí.
- Chưa xác định được mục đích của việc giải bài tập là xem xét, phân
tích các hiện tượng vật lí để đi đến bản chất vật lí.
Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học,
đảm bảo đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết. Nó
không những giúp học sinh có kiến thức lý thuyết chắc chắn mà còn rèn luyện
kĩ năng suy luận logic, làm việc một cách khoa học, có kế hoạch.
Quá trình giải một bài tập vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu điều
kiện của bài tập, xem xét hiện tượng vật lí, xác lập được những mối liên hệ cụ
thể dựa trên sự vận dụng kiến thức vật lí vào điều kiện cụ thể của bài tập đã
cho. Từ đó tính toán những mối liên hệ đã xác lập được để dẫn đến lời giải và
kết luận chính xác.
Bài tập vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong
phú. Vì vậy không thể chỉ ra được một phương pháp nào cụ thể mà có thể áp
dụng để giải được tất cả bài tập. Song trong thực tế người ta cũng thừa nhận
một quan điểm chung về quá trình giải một bài tập Vật lí. Theo quan điểm đó,
người thầy giáo không chỉ đơn giản trình bày cách giải cho học sinh mà phải
thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng học sinh trong quá trình giải bài tập,
cần phải dạy học sinh tự lực giải được bài tập Vật lí. Vì vậy sau mỗi chương,
mỗi phần của chương trình Vật lí, giáo viên trình bày cách giải mẫu mỗi loại
16
- Xem xét kết quả về ý nghĩa thực tế có phù hợp không?
- Giải bài tập theo cách khác xem có cho cùng kết quả không?
Hoạt động giải bài tập trong thực tế có khi không thấy tách bạch rõ
bước thứ ba với bước thứ hai. Có thể, sau khi xác lập được một mối liên hệ
vật lí cụ thể nào đó người ta thực hiện ngay sự luận giải với mối liên hệ đó
(biến đổi phương trình đó) rồi tiếp sau đó mới lại xác lập một mối liên hệ vật
lí khác. Có nghĩa là, các bước có mối liên hệ xen kẽ trong quá trình giải bài
tập, vận dụng kiến thức vật lí vào điều kiện cụ thể của bài tập để xác lập một
mối liên hệ cụ thể, và việc luận giải tiếp theo với mối liên hệ đã xác lập được
này. Vì vậy, khi khái quát hóa phương trình giải một bài tập vật lí ta vẫn có
thể chỉ ra được đâu là những phương trình cơ bản cụ thể cần xác lập để sự
luận giải từ các phương trình đó cho phép rút ra kết quả cần tìm.
Đối với bài tập phần chương Động học chất điểm, việc hướng dẫn học
sinh giải bài tập là quan trọng. Thực tế cho thấy học sinh chỉ có thể giải bài
tập nếu học sinh có kiến thức lý thuyết chắc chắn và thực hiện thành thạo các
bước giải bài tập vật lí nói chung. Phương pháp giải bài tập chương động học
chất điểm cũng có đầy đủ các bước giải giống như phương pháp giải bài tập
vật lí nói chung.
Bước 1. Tìm hiểu đề bài.
Bước 2. Lập mối liên hệ của các dữ kiện xuất phát với cái phải tìm
Bước 3. Luận giải rút ra kết quả cần tìm.
Bước 4. Kiểm tra và biện luận kết quả.
1.1.5. Hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí
Để việc hướng dẫn giải bài tâp cho học sinh có hiệu quả, thì trước hết
giáo viên phải giải được bài tập đó, và phải xuất phát từ mục đích sư phạm để
xác định kiểu hướng dẫn cho phù hợp.

hành động đó là những hành động sơ cấp đối với học sinh. Nghĩa là, kiểu
hướng dẫn này đòi hỏi phải xác định angorit giải bài tập. Kiểu hướng dẫn
angorit thường được áp dụng khi cần dạy cho học sinh phương pháp giải một
lớp các bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học sinh các kĩ năng giải
Tư duy giải
bài tập vật lí
Phân tích phương pháp
giải bài tập vật lí cụ thể
Mục đích sư
phạm
Xác dịnh kiểu hướng
dẫn
Phương pháp
hướng dẫn giải bài
tập vật lí cụ thể
18
một bài tập vật lí xác định. Người ta xây dựng các angorit giải cho từng loại
bài tập cơ bản, điển hình và luyện tập cho học sinh kĩ năng giải loại bài tập đó
dựa trên việc làm cho học sinh nắm chắc các angorit giải.
Ƣu điểm: Dạy cho học sinh được phương pháp giải một loại bài tập
điển hình. Đồng thời, rèn luyện cho học sinh kĩ năng giải một bài tập xác
định.
Nhƣợc điểm: Học sinh có thói quen chấp hành những hành động đã
được chỉ dẫn theo mẫu đã có sẵn, do đó ít có tác dụng rèn luyện cho học sinh
khả năng tìm tòi, sáng tạo, hạn chế sự phát triển tư duy sáng tạo của học sinh.
Để khắc phục nhược điểm này, trong quá trình giải bài tập, giáo viên phải lôi
cuốn học sinh tham gia vào quá trình xây dựng angorit cho bài tập.

sẵn. Nét đặc trưng của kiểu hướng dẫn này là, giáo viên định hướng hoạt động
tư duy của học sinh theo đường lối khái quát của việc giải quyết vấn đề. Sự
định hướng ban đầu đòi hỏi sự tự lực tìm tòi giải quyết của học sinh. Nếu học
sinh không đáp ứng được thì sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sự phát
triển định hướng khái quát hóa ban đầu, cụ thể hóa thêm một bước bằng cách
gợi ý thêm cho học sinh, để thu hẹp hơn phạm vi phải tìm tòi, giải quyết cho
vừa sức với học sinh. Nếu học sinh vẫn không đủ khả năng tự lực tìm tòi giải
quyết thì sự hướng dẫn của giáo viên chuyển dần thành hướng dẫn theo mẫu
để đảm bảo cho học sinh hoàn thành được yêu cầu của một bước. sau đó tiếp
tục yêu cầu học sinh tự lực tìm tòi giải quyết các bước tiếp theo. Nếu cần thì
giáo viên lại giúp đỡ thêm. Cứ như vậy cho đến khi giải quyết xong vấn đề
đặt ra. Phương pháp hướng dẫn này được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn
tiến trình hoạt động giải bài tập của học sinh, nhằm giúp cho học sinh tự giải
được bài tập đã cho, đồng thời dạy cho học sinh cách suy nghĩ trong quá trình
dạy giải bài tập.
Ƣu điểm: Kết hợp được việc thực hiện các yêu cầu: rèn luyện tư duy
của học sinh trong quá trình giải bài tập và đảm bảo cho học sinh giải được
bài tập đã cho. Sự hướng dẫn như vậy đòi hỏi giáo viên theo sát tiến trình hoạt
động giải bài tập của học sinh, không thể chỉ dựa vào những lời hướng dẫn có
20
thể soạn sẵn, mà phải kết hợp được việc định hướng với việc kiểm tra kết quả
hoạt động của học sinh để điều chỉnh sự giúp đỡ, thích ứng với trình độ của
học sinh.
Ví dụ: Đối với các bài toán giáo viên có thể hướng dẫn học sinh theo
cách định hướng khách quan khái quát hóa như sau: đề bài đã cho cái gì? Yêu
cầu tìm cái gì? Hay có thể xác nhận được những mối liên hệ cụ thể gì đối với
cái đã cho và cái phải tìm? Nó liên quan đến những kiến thức gì ?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status