ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
LÊ THỊ BÍCH THUỶ
SỬ DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM THIẾT KẾ GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ
DẠY CHUYÊN ĐỀ SINH LÍ THỰC VẬT CHO HỌC SINH
CHUYÊN BẬC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN SINH HỌC
Mã số: 601410 Người hướng dẫn khoa học: TSKH. Mai Văn Hưng
HÀ NỘI 2009
- 1 -
MỤC LỤC
Trang
DỰNG CÁC GIÁO ÁN ĐIỆN TỬ CHUYÊN ĐỀ SINH LÍ THỰC VẬT 36
2.1. Vai trò của các phần mềm công cụ trong dạy học hiện nay 36
2.2. Nguyên tắc sử dụng các phầm mềm công cụ trong dạy học sinh học 37
2.3. Sử dụng các phần mềm công cụ trong thiết kế giáo án
điện tử dạy học chuyên đề Sinh lí thực vật 39
2.4. Quy trình thiết kế bài giảng điện tử 39
2.4.1. Những kĩ năng cần có để soạn giáo án điện tử 39
2.4.2. Lựa chọn các phần mềm thích hợp 40
2.4.3. Các yêu cầu sƣ phạm trong việc thiết kế giáo án điện tử 40
2.4.4. Mẫu kế hoạch xây dựng giáo án điện tử
ở trƣờng phổ thông trung học 41
2.4.5. Các bƣớc xây dựng giáo án điện tử 45
2.4.6. Các bƣớc thiết kế bài giảng điện tử trên PowerPoint 48
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 55
3.1. Mục đích thực nghiệm 55
3.2. Nội dung thực nghiệm 55
- 3 -
3.3. Phƣơng pháp thực nghiệm 55
3.3.1. Chọn trƣờng, lớp thực nghiệm 55
3.3.2. Bố trí thực nghiệm 56
3.3.3. Các bƣớc thực nghiệm 56
3.4. Phân tích kết quả thực nghiệm 59
3.4.1.Về mặt định lƣợng 59
3.4.2. Phân tích định tính các bài kiểm tra 67
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
1. Kết luận 72
2. Khuyến nghị 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
- 1 -
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là đào tạo
những con người và thế hệ trẻ có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại,
phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và
phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học, công nghệ hiện
đại, có tư duy sáng tạo…Nghị quyết TW 2 khoá VIII và Nghị quyết TW 6 khoá
IX của Đảng cộng sản Việt Nam xác định chiến lược phát triển giáo dục năm
2001- 2010: “Giáo dục - Đào tạo hướng vào mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nâng cao mặt bằng dân trí đào tạo lớp người lao
động có kiến thức cơ bản, có kỹ năng nghề nghiệp, quan tâm đến hiệu quả thiết
thực, nhạy cảm với cái mới có ý thức vươn lên về khoa học công nghệ”.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, chúng ta đang chứng kiến những
đổi thay trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người nhất là trong lĩnh vực học
tập. Sự phát triển của CNTT đã góp phần tạo ra nền kinh tế tri thức, tác động vào
hầu hết các lĩnh vực làm thay đổi sâu sắc đời sống, kinh tế, xã hội, trong đó có
giáo dục. Sự phát triển đó tạo ra các vận hội mới đồng thời với nhiều thách thức
cho ngành giáo dục Việt Nam.
Việc đổi mới PPDH nhờ ứng dụng CNTT là một chủ đề lớn mà UNESCO
chính thức đưa vào chương trình trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI. UNESCO
cũng đã dự đoán rằng sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản do ảnh
hưởng của CNTT. Với những bước tiến nhanh chóng CNTT ngày càng trở thành
một phương tiện không thể thiếu trong nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội, đặc
biệt là lĩnh vực giáo dục. Nhờ CNTT con người có thể cập nhập thường xuyên
được những kiến thức khoa học tiến tiến nhất trên thế giới vào đời sống thực tế.
Chuyên đề “Sinh lí thực vật” là một trong 6 chuyên đề quan trọng của
môn Sinh học, nhất là đối với học sinh chuyên Sinh.
tốc độ của cuộc cách mạng công nghệ, đặc biệt sự phát triển vượt bậc của công
nghệ thông tin (Communication technology), vấn đề dạy và học được đặt ra,
được tổ chức bàn bạc một cách nghiêm chỉnh chu đáo hơn trên phạm vi toàn thế
giới, với cách tiếp cận thông tin là cần thiết…
Giáo dục bậc Phổ thông và Đại học cho thế kỷ 21, người ta có thể nêu ra
nhiều mô hình giáo dục, đó là các mô hình như: mô hình truyền thống, mô hình
thông tin, mô hình tri thức…Trong đó, ta sẽ phân tích mô hình giáo dục hiện đại
nhất của thế giới hiện tại để có thể nhìn cái đích tương lai mà ta phải tiến đến:
mô hình tri thức. Mô hình “tri thức” là mô hình lấy nhóm người học làm trung
tâm, vai trò người học thích nghi, với công nghệ chủ yếu khai thác mạng
internet. Đây là mô hình giáo dục hiện đại nhất hình thành khi xuất hiện thành
tựu mới quan trọng nhất của công nghệ thông tin và mạng internet. Cũng với mô
hình mới nhất này, chúng ta hãy lưu ý đến các yếu tố thay đổi sâu sắc sau đây
của việc học:
- Yếu tố thời gian: xuất hiện khả năng giáo dục không đồng bộ.
- Yếu tố không gian: xuất hiện khả năng sinh viên tham gia học tập mà
không cần đi đến trường học.
- Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục
nữa; học sinh, sinh viên phải học cách truy tìm thông tin họ cần, đánh giá và xử
lý thông tin để biến thành tri thức giao tiếp…
Nói tóm lại, ở bước ngoặc đi vào nền văn minh trí tuệ hiện nay, những
công nghệ mới về thông tin đang tạo ra những thay đổi mang mầm mống của
một cuộc cách mạng giáo dục thực sự.
2.2. Ở Việt Nam
Từ năm 1945 đến nay đã có 3 lần cải cách giáo dục, đó là các năm 1951,
1956 và 1979. Môi trường cải cách của 3 lần có khác nhau, tuỳ thuộc vào hoàn
- 4 -
cảnh kinh tế, chính trị, xã hội và điều kiện phát triển khoa học kỹ thuật của đất
nước. Với 3 lần cải cách giáo dục, chúng ta đã cải thiện được tình hình giáo dục
là thuyết trình giảng giải xen kẽ, vấn đáp, tái hiện, biểu diễn trực quan minh hoạ
vẫn là chủ yếu. Cũng đã có nhiều GV thiết kế các giáo án điện tử cho bài giảng
nhưng chưa phổ biến, chủ yếu là những nơi có điều kiện như các thành phố lớn,
trung tâm các tỉnh thành phố hay chỉ xuất hiện trong các giờ thao giảng mẫu, các
giờ có thanh tra chuyên môn hay thi GV giỏi các cấp.
Tình trạng trên có nhiều nguyên nhân như công tác bồi dưỡng GV theo
định kỳ và không định kỳ chưa tốt, đời sống vật chất và tinh thần của GV nói
chung còn nhiều khó khăn, phương tiện, thiết bị còn nghèo nàn, số tiết/tuần của
mỗi GV còn cao (từ năm học 2006 - 2007, GV THPT còn tới 17 tiết/tuần). Việc
chuẩn bị cho 1 tiết dạy theo phương pháp tích cực tốn rất nhiều thời gian, công
sức, tiền của. Mặt khác GV còn yếu về phương pháp, HS thiếu động lực học tập.
Định hướng đổi mới PPDH ở Việt Nam đã được xác định trong Nghị
quyết Trung ương khoá VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương khoá VIII
(12/1996), được thể chế hoá trong Luật Giáo dục (năm 2005), được cụ thể hoá
trong các Chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt Chỉ thị số 14 (4/1999).
Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc
theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”. Với môi trường giáo dục
phổ thông là “giúp HS phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và các kỹ năng cơ
bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân
cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm
- 6 -
công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham
gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học: Triển khai áp dụng
CNTT trong dạy và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng
dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi
6. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng các phần mềm dạy học chuyên đề "Sinh lí thực vật" trong
việc thiết kế các giáo án điện tử trong giảng dạy sẽ giúp học sinh nắm vững kiến
thức và phát triển tư duy, nâng cao hiệu quả của quá trình dạy - học.
7. Vấn dề nghiên cứu
Làm thế nào để xác định được việc giảng dạy theo tiến trình của giáo án
điện tử có hiệu quả hơn các giáo án truyền thống nhằm phát triển tư duy của HS.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
- Điều tra thực trạng việc học tập sinh học nói chung và chuyên đề "Sinh lí
thực vật" nói riêng.
- Xác định việc áp dụng các phần mềm cho từng nội dung thích hợp.
- Thiết kế các giáo án điện tử bằng việc ứng dụng các thành tựu của khoa
học công nghệ thông tin.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra giả thuyết của đề tài.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông
tin, phần mềm công cụ làm cơ sở lý thuyết cho việc vận dụng vào thiết kế giáo
án điện tử dạy học sinh học chuyên đề Sinh lí thực vật.
- 8 -
- Nghiên cứu các nguyên tắc và yêu cầu sư phạm của việc sử dụng giáo án
điện tử trong môn sinh học nói chung và chuyên đề Sinh lí thực vật nói riêng.
- Phân tích chương trình, nội dung sách giáo khoa, tài liệu tham khảo
chuyên sâu chương trình sinh học trung học phổ thông, nội dung chuyên đề Sinh
lí thực vật có thể áp dụng để xây dựng các giáo án điện tử để dạy học.
9.2. Phương pháp điều tra
- Bằng các phiếu hỏi dành cho giáo viên, điều tra thực trạng và hiệu quả
của việc dạy học bằng các giáo án điện tử trong môn Sinh học nói chung và
hành kiểm tra vấn đáp qua từng bài giảng, và sau mỗi chương nhằm xác định
thêm kết quả giữa thực nghiệm và đối chứng.
9.4.3. Xử lí số liệu
Các số liệu điều tra cơ bản được tính toán theo tỉ lệ % số bài đạt khá, giỏi
cũng như số bài đạt yếu, kém trên tổng số bài. Việc làm này có tác dụng đánh giá
chất lượng có tính định lượng, đồng thời thấy được khả năng tiến bộ của học
sinh khi có sự tích cực hoá của phương pháp giảng dạy.
Các số liệu xác định chất lượng của các lớp thực nghiệm và đối chứng
được chấm theo thang điểm 10. Việc định tính này rất quan trọng để xác định
mức độ lĩnh hội của học sinh về nội dung nghiên cứu.
Về mặt định lượng, chúng tôi tiến hành sử dụng các tham số sau [4]:
a. Trung bình cộng: X đo độ trung bình của một tập hợp
b. Sai số trung bình cộng
c. Độ lệch chuẩn S: độ phân tán của các số liệu quanh giá trị trung bình
d. Hệ số biến thiên Cv biểu thị mức độ biến thiên trong nhiều tập hợp có
khác nhau
e. Độ đáng tin cậy sai khác giữa hai giá trị trung bình phản ánh kết quả của
hai phương án thực nghiệm và đối chứng
- 10 -
9.5. Phương pháp chứng minh luận điểm
Đọc và tổng hợp các tài liệu liên quan để làm cơ sở lí luận của đề tài như:
- Lý luận về dạy học sinh học
- Tài liệu về đổi mới dạy học sinh học
- Các luận án, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ có liên quan.
- Tài liệu hướng dẫn chuyên môn
- Các văn bản hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành giáo dục
10. Những đóng góp mới của đề tài
- Xác định được thực trạng dạy học chuyên đề "Sinh lí thực vật" cấp bậc
trung học phổ thông.
trọng là các mục tiêu mà giáo viên đặt ra phải rõ ràng nhằm giúp cho chính giáo
viên dễ dàng kiểm tra học sinh đã tiếp thu được những gì sau bài giảng.
Một bài giảng được lên kế hoạch sẽ giúp đảm bảo tính liên tục và sự tiến
bộ trong quá trình học tập. Giáo viên nên bắt đầu bài giảng bằng cách dành một
chút thời gian để hỏi học sinh với mục đích tìm hiểu xem học sinh nhớ bài cũ
như thế nào và họ hiểu biết về chủ đề của bài học mới ra sao. Người giáo viên
kiểm tra dựa trên các câu hỏi với từng cá nhân học sinh chứ không phải cả tập
thể lớp trả lời. Sau khi hỏi học sinh xong, giáo viên nên bắt đầu bài giảng bằng
cách nói với học sinh các thông tin mới hoặc chỉ cho họ làm thế nào để thực
hành các kỹ năng mới.
Giáo viên chuẩn bị giáo án trước khi bắt tay vào công việc giảng dạy.
Người GV sẽ viết ra giấy kế hoạch giảng bài của mình trước khi vào lớp. Có rất
nhiều phần cơ bản trong một giáo án, mặc dù có nhiều cách để viết ra chúng.
Bảng dưới đây sẽ minh họa cho các phần cơ bản này và cung cấp những
gợi ý hữu ích cho việc thiết kế thành công một giáo án [13].
- 12 -
Các phần của
giáo án
Gợi ý cho giáo viên
Mục đích
Đặt ra mục đích rõ ràng vào phần đầu giáo án
Nội dung
Học sinh đã biết những gì rồi và mình (người giáo
viên) định dạy gì cho họ?
Thời gian
Bài học kéo dài trong bao lâu? Mỗi hoạt động kéo
dài bao lâu? Giáo viên bắt đầu và kết thúc bài giảng
như thế nào?
Phương pháp giảng dạy
Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học
của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia
hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc
của bài học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy
được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành.
Giáo án điện từ là một bản kế hoạch lên lớp của giáo viên được xây dựng
bằng phần mềm tin học. Cần phải phân biệt giáo án điện tử với bài giảng điện tử,
đây là những tập tin có chức năng chuyển tải nội dung giáo dục đến học sinh.
Như vậy, bài giảng là công cụ tương tác giữa người học và người dạy để thực
hiện các mục tiêu của giáo án. Xét về mặt hình thức, giáo án điện tử có thể là
trang văn bản hay một file có đuôi HTML với các đường liên kết trực tuyến.
Giáo án của một bài học phải bao gồm mục đích, yêu cầu của bài giảng,
phân bổ thời gian, các bước lên lớp, hoạt động của thầy - của trò (Lesson plan &
Activity sheet). Trong giáo án điện tử các nội dung trên được tổ chức và thực
hiện dựa trên nền công nghệ thông tin (các phần mềm dạy học) và các phương
tiện dạy học hiện đại như máy tính, máy chiếu, máy ảnh, máy quay phim kĩ thuật
số [7].
- 14 -
Song thực chất có thể nói rằng giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài
giảng điện tử, do đó xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai
cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử.
Các đơn vị của bài học đều phải được Multimedia hóa. Multimedia được
hiểu là đa phương tiện, đa môi trường, đa truyền thông. Trong môi trường
multimedia, thông tin được truyền dưới các dạng:
- Văn bản (text).
- Đồ hoạ (graphics).
- Hoạt ảnh (animation).
- Ảnh chụp (image).
- Flash movies hoặc các scientific movies (phim khoa học).
luận có lý, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới.
Đây là một công dụng lớn của công nghệ thông tin và truyền thông trong quá
trình đổi mới phương pháp dạy học. Có thể khẳng định rằng, môi trường công
nghệ thông tin và truyền thông chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới sự phát triển
trí tuệ của học sinh và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới.
Cái được lớn nhất ở mỗi tiết giảng bằng giáo án điện tử chính là một
lượng lớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến các em
học sinh. Nó không những giúp cho tiết học trở nên lôi cuốn hơn mà còn hạn chế
việc giáo viên bị cháy giáo án vì thời gian được kiểm soát bằng máy. Nếu như
trong mỗi tiết học thông thường, giáo viên phải dành khá nhiều thời gian để treo
tranh ảnh, thao tác các hoạt động thí nghiệm thì trong tiết học có sử dụng giáo án
điện tử, những chuyện đó chỉ cần một cú kích con chuột [23].
- 16 -
Giảng dạy ứng dụng công nghệ thông tin có nhiều ưu điểm: giúp bài giảng
sinh động, tạo cho học sinh sự hứng thú và yêu thích môn học, đạt hiệu quả cao,
kiểm tra kiến thức của nhiều học sinh, hỗ trợ đắc lực cho các giờ thực hành.
Giáo viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện tăng cường đối
thoại, thảo luận với học sinh, qua đó kiểm soát được HS, HS được thu hút, kích
thích khám phá tri thức qua thông tin thu nhận được, có điều kiện quan sát vấn
đề, chủ động nêu câu hỏi để hỏi giáo viên, giúp cho giờ học thêm hứng thú, có
hiệu quả.
GV không phải soạn giáo án nhiều lần mà chỉ cần đầu tư thời gian một lần
và chỉnh sửa cho bài học tốt hơn vào những lần sau.
Có thể giúp người thầy trao đổi kinh nghiệm cho nhau nhanh chóng, dễ
dàng, thuận tiện. Nó cũng tăng cường tính thẩm mỹ cho học sinh. Nó cho phép
người thầy thay đổi, cập nhật hằng ngày.
Như vậy có thể tóm tắt những đặc điểm ưu việt của giáo án điện tử so với
các giáo án truyền thống soạn tay như sau:
- Có thể minh họa bài giảng một cách sinh động thông qua hình ảnh, âm
cá thể (ontogeny) của sinh vật.
Với mức độ lớn hơn, di truyền học quan tâm đến tính di truyền giữa cha
mẹ và con cái. Di truyền học quần thể (population genetics) xem xét toàn bộ
quần thể và hệ thống học (systematics) quan tâm đến sự tiến hóa của nhiều loài
thuộc các nhánh tiến hóa (lineage). Mối quan hệ qua lại giữa các quần thể với
nhau và với ổ sinh thái của chúng là đối tượng của sinh thái học (ecology) và
sinh học tiến hóa (evolutionary biology). Một lĩnh vực tương đối mới là sinh học
vũ trụ (astrobiology hoặc xenobiology) nghiên cứu về khả năng tồn tại sự sống
ngoài Trái Đất [11].
- 18 -
Các môn học trên chung quy lại bao gồm: kiến thức giải phẫu, cơ chế sinh
lí, sinh hoá, các quá trình sinh học, các quy trình công nghệ v.v Chúng đều là
kiến thức thực nghiệm, khó nhận thấy bằng các giác quan thông thường.
1.1.3.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong thiết kế giáo án điện tử
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các
phương pháp và hình thức dạy học. Những phương pháp dạy học theo cách tiếp
cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết
vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như
dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi
trường công nghệ thông tin và truyền thông. Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực
với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng,
dạy học qua cầu truyền hình. Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp
dạy sao cho học sinh nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và
phát triển cho học sinh các phương pháp học chủ động. Nếu trước kia người ta
thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng
vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của học
sinh. Như vậy, việc chuyển từ “lấy giáo viên làm trung tâm” sang “lấy học sinh
làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin công nghệ thông tin trong dạy học
chương trình giảng dạy, hướng dẫn và đánh giá. Tác động lớn nhất của công
nghệ thông tin đối với kết quả học tập của học sinh được ghi nhận trong những
trường hợp khi việc sử dụng công nghệ thông tin phù hợp với nội dung giảng
dạy và với việc đánh giá về kết quả dự kiến. Dù các thầy cô là một người không
chuyên về tin học nhưng các thầy cô vẫn hoàn toàn có thể thiết kế được các bài
giảng điện tử hấp dẫn, sử dụng được nhiều lần. Thầy cô cũng có thể chia sẻ các
- 20 -
sản phẩm của mình cho nhiều người cùng sử dụng, cùng đồng nghiệp hoàn thiện
và quan trọng hơn là nhiều lớp học sinh được hưởng lợi.
1.1.4. Các phần mềm công cụ sử dụng trong giáo án điện tử dạy học chuyên
đề Sinh lí thực vật
Hiện nay các công cụ, các phần mềm ứng dụng được dùng cho việc dạy
học bằng công nghệ thông tin là không thiếu về số lượng và đảm bảo cả về chất
lượng, từ các phần mềm thương mại cho đến các phần mềm miễn phí, mã nguồn
mở. Tuy nhiên với chi phí bản quyền phần mềm như hiện nay, với việc phổ biến
diện rộng và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục cần phải đặc biệt chú
trọng đến các phần mềm miễn phí và mã nguồn mở .
Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học có nghĩa là việc đầu tiên
mà người giáo viên phải thực hiện là có các giáo án điện tử. Giáo án điện tử cần
phải được hiểu thống nhất như là một phương pháp dạy học trong đó giáo viên
khai thác tiện ích của công nghệ thông tin để thiết kế các nội dung học tập nhằm
giúp học sinh không chỉ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng phát triển tư duy, nhận thức
mà còn phát triển cả kỹ năng xử lý thông tin và kỹ năng giao tiếp [16].
Sự lựa chọn số 1 cho một giáo viên thuộc một trường có điều kiện máy
chiếu projector) và PC thì là PowerPoint. Với các trường không có điều kiện như
vậy thì có thể in bài giảng ra tờ giấy trong và chiếu lên máy Overhead projector.
Nếu trường có điều kiện tối thiểu thì giáo viên có thể in bài giảng ra các tờ giấy
A4 phát cho học sinh và một số tờ A1/A0 để treo như poster để làm công cụ
giảng dạy trong giờ học.