Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua các hình thức tổ chức tự học môn Lịch sử lớp 10 trường trung học phổ thông chuyên Lam Sơn, Thanh Hó - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHAN THỊ HÀ
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH QUA CÁC
HÌNH THỨC TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ LỚP 10
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHUYÊN
LAM SƠN, THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC


Chủ biên
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
CNTT
Công nghệ thông tin
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
DHLS
Dạy học lịch sử
ĐHQG
Đại học Quốc gia
ĐHSP
Đại học Sư phạm
GDH
Giáo dục học
GS
Giáo sư
GV
Giáo viên
HN
Hà Nội
HS
Học sinh
KHGD
Khoa học giáo dục
KN
Kĩ năng
LA
Luận án
LLSX

Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do lựa chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu 9
4. Mục đích nghiên cứu và Nhiệm vụ nghiên cứu 9
5. Phạm vi nghiên cứu 10
6. Phương pháp nghiên cứu 10
7. Giả thuyết khoa học 10
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 10
9. Cấu trúc của Luận văn 11
Chương 1: TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH QUA CÁC
HÌNH THỨC TỔ CHỨC TỰ HỌC MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
CHUYÊN. LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1. Cơ sở lí luận 12
1.1.1. Quan niệm về hứng thú 12
1.1.2. Quan niệm về hứng thú học tập lịch sử 19
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của hứng thú trong học tập lịch sử ở trường phổ
thông 24
1.1.4. Các hình thức tổ chức tự học môn LS ở trường THPT 30
1.2. Thực tiễn tạo hứng thú học tập lịch sử thông qua các hình thức tổ
chức tự học cho HS ở trường THPT chuyên hiện nay 47
1.2.1. Một số nét nổi bật ở trường THPT chuyên hiện nay 47
1.2.2. Thực tiễn việc tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh qua các
hình thức tổ chức tự học ở trường THPT chuyên Lam Sơn hiện nay 49
Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC

được quán triệt sâu sắc nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục – đào tạo. Và đây cũng là vấn đề nhận được rất nhiều
sự quan tâm, đầu tư của các nhà nghiên cứu sư phạm, các nhà khoa học cũng
như các thầy cô đang trực tiếp giảng dạy tại các trường THPT.
Thêm vào đó, trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng, việc
tạo hứng thú học tập cho học sinh là rất quan trọng và cần thiết. Chỉ khi nào
có đam mê, hứng thú, người học mới tích cực, chủ động học tập và phát huy
được nhiều năng lực, sở trường của bản thân trong việc chiếm lĩnh và khám
phá tri thức nhân loại. Điều đó đã được nhà tâm lý học Liên Xô Salovay
khẳng định trong cuốn “Từ hứng thú đến tài năng”: “Biết cách phát triển
hứng thú, chúng ta sẽ phát huy một trong những năng lực quý giá nhất của
con người là năng lực tập trung vào hoạt động, hoàn toàn say mê với công
việc cần làm”. [11, tr. 1]
Bên cạnh đó, nguồn tri thức mà học sinh nhận được không đơn nhất từ
phía giáo viên cung cấp mà học sinh có thể tìm kiếm nó thông qua tính năng
của công nghệ thông tin, sự đa dạng trong các kênh dẫn kiến thức. Vì vậy,
việc hình thành kỹ năng tự nghiên cứu, tự học rất cần thiết nhằm hình thành
“xã hội học tập” và việc phát triển nền “giáo dục suốt đời” với phương châm
học suốt đời: “Học, học nữa, học mãi”. Muốn vậy, ngay từ bậc phổ thông giáo
viên cần hướng dẫn, tổ chức cho học sinh các hình thức tự học để từ đó giúp
học sinh có được kỹ năng tự học, biết được cách thức chiếm lĩnh nguồn tri
thức phong phú của nhân loại nói chung và kiến thức lịch sử ở trường THPT
nói riêng một cách hiệu quả theo kế hoạch học tập cũng như mục tiêu cuộc
sống của bản thân đề ra.

2
Ngoài ra, trong khoá trình Lịch sử ở bậc THPT, chương trình lớp 10 có nội
dung phong phú, bao gồm phần lịch sử thế giới cổ, trung, cận đại và lịch sử
Việt Nam trước năm 1858. Những nội dung kiến thức này rất nhiều vấn đề
hấp dẫn, nó thể hiện quá trình phát triển của lịch sử văn minh nhân loại và dân

từ cái chung đến cái riêng, nguyên tắc tôn trọng đặc điểm đối tượng… Kế
thừa những thành tựu của Cômenxki, ngày nay lý luận dạy học đã xây dựng
được một hệ thống các nguyên tắc dạy học: Đảm bảo tính vững chắc của tri
thức kĩ năng kĩ xảo với tính mềm dẻo của tư duy, đảm bảo sự thống nhất giữa
các cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học, nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức
chung và vừa sức riêng trong dạy học. [25, tr. 7]
J.J. Rousseau (1712 - 1778), người Thụy Sĩ cho rằng phải hướng học
sinh tích cực tự đánh giá kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.
Ông đã nói: “Đừng cho trẻ con khoa học mà phải để cho nó tự phát minh ra”.
[24, tr. 6]
Đến thế kỷ XIX, Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824 - 1870) đã
nghiên cứu về tính tích cực, tính độc lập của học sinh, ông đánh giá rất cao
vai trò của tính tích cực, tính độc lập. Theo ông, tính tích cực, tính độc lập là
cơ sở duy nhất để cho sự học có hiệu quả. Ông cho rằng cần giáo dục cho học
sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành động một cách
sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển của bản thân.
Trong dạy học không nên dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy của người
giáo viên, còn học sinh thì lại thụ động mà cần phải làm sao cho học sinh tích
cực ở mức độ cao nhất. Như vậy, vấn đề tự học của học sinh đã được các nhà
khoa học đề cập khá rõ ràng, các công trình nghiên cứu không chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu về tự học mà còn chỉ ra rằng muốn cho sự học có hiệu quả thì
cần phải làm gì? [25, tr. 8]
John Dewey (1859 - 1952), người Mĩ cho rằng: “Việc dạy học phải
kích thích được hứng thú, phải để học sinh độc lập, tìm tòi, thầy giáo là người
thiết kế, người cố vấn”. [24, tr. 6]
Thailleirent, người Pháp rất chú trọng đến việc phát huy óc sáng tạo và
tính độc lập suy nghĩ của học sinh. Ông cho rằng chỉ có khi nào người ta tự

4
tìm tòi, tự phát minh ra điều gì đó thì người ta mới thực sự là biết, thực sự

5
(Nxb Lao Động, 2002). Cuốn sách “Quá trình dạy - tự học” của Giáo sự
Nguyễn Cảnh Toàn (Nxb Giáo dục Hà Nội 1997) đã đi sâu tìm hiểu hoạt động
dạy của thầy, tự học cuả trò. Mặt khác, trong cuốn sách khác: “Luận bàn và
kinh nghiệm về tự học ”, tác giả đã đưa ra kinh nghiệm bản thân về việc tự
học và hiệu quả của quá trình tự học qua giảng dạy ở chương trình nghiên cứu
hệ đại học Sư phạm, vừa học vừa làm của giáo viên. Từ đó ông rút ra những
cản trở của việc tự học và cách khắc phục những khó khăn đó.
Về phương pháp tự học lịch sử đã được trình bày trong cuốn “Phương
pháp dạy học lịch sử” do Giáo sư Phan Ngọc Liên và Trần Văn Trị chủ biên,
NXB Giáo dục 1992, đặc biệt là cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử ” của tác
giả Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi xuất bản
năm 2009.
Cuốn “Đổi mới việc dạy, học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm” của
Hội khoa học lịch sử Việt Nam do GS Phan Ngọc Liên chủ biên đã đề cập
đến phương hướng, biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở
trường phổ thông hiện nay trong đó nhấn mạnh tới vấn đề phát huy năng lực
tư duy của học sinh.
Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử
ở trường THCS” do GS Phan Ngọc Liên, PGS Trịnh Đình Tùng chủ biên đã
đề cập đầy đủ cơ sở lí luận, thực tiễn của việc phát huy tính tích cực học tập
của học sinh. Đồng thời để ra những biện pháp sư phạm cần thiết nhằm phát
huy tính tích cực, khả năng tư duy độc lập của học sinh THCS.
Tác phẩm “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch
sử ở trường phổ thông”, GS.TS Nguyễn Thị Côi đã trình bày cụ thể quan
niệm về tự học lịch sử, nội dung và các hình thức tự học ở nhà, nhấn mạnh
giáo viên phải rèn luyện cho học sinh thói quen, phương pháp tự học ở nhà.
[24, tr. 8]
PGS.TS Nguyễn Ngọc Bảo trong cuốn sách “Phát triển tính tích cực,
tính tự học của học sinh trong quá trình dạy học” đã đưa ra quan niệm học là

tổ chức tự học ở nhà của học sinh THPT của Đào Thị Oanh, Vấn đề tạo hứng
thú cho người học của Nguyễn Hoài Sanh, Khảo sát hứng thú học tập môn

7
ngữ văn của Nguyễn Hồng Trâm - Nguyễn Thị Hồng Nam, Tự học ở tuổi học
đường của Lê Hải Yến, Hoạt động tự học của sinh viên trong đào tạo theo hệ
thống tín chỉ của Phạm Thị Thanh Hải….cũng đã trình bày về vấn đề tự học
và hứng thú học tập trong phạm vi của các môn học khác – đây là nguồn tài
liệu tham khảo để nghiên cứu phần lí luận cho đề tài.
Đặc biệt là Hội thảo khoa học “Nghiên cứu phát triển – Tự học - Tự
đào tạo” tổ chức tại Hà Nội ngày 6/1/1998 với nhiều bài phát biểu, bài viết
xung quanh vấn đề tự học, phát huy nguồn lực con người và các biện pháp
cần được tiến hành đồng bộ hiện nay để phát triển năng lực tự học nâng cao
chất lượng giáo dục đào tạo. [24, tr. 9]
Bên cạnh đó vấn đề này đã được tìm hiểu qua một số khoá luận của
sinh viên, luận văn Thạc sỹ, luận án Tiến sỹ khoa học giáo dục, khoa học Tâm
lí giáo dục của trường ĐHSP Hà Nội. Luận văn Thạc sỹ Đinh Thị Cúc với đề
tài: “Hướng dẫn phương pháp tự học phần chủ nghĩa duy vật biện chứng triết
học Mác cho sinh viên trường Cao đẳng kỹ thuật Hà Tây”. Luận văn Thạc sỹ
của tác giả Cao Đức Sáu “Hướng dẫn phương pháp tự học nhằm nâng cao
chất lượng dạy học môn Kinh tế chính trị Mác Lênnin của trường Cao đẳng
Kiên Giang ”. Hoặc “Các biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học
sinh THPT thông qua dạy học” của Nguyễn Thanh Hùng, “Rèn luyện năng
lực tự học cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 – 1918
ở lớp 11 trường THPT (chương trình chuẩn)” của Nguyễn Thị Thanh Thuỷ,
“Một số biện pháp gây hứng thú học tập lịch sử cho HS THPT (vận dụng qua
phần LSTG Cận đại lớp 10 Chương trình chuẩn)” của Nguyễn Thị Hằng…
cũng đã trình bày một cách cụ thể về năng lực tự học, biện pháp sư phạm gây
hứng thú.
Các công trình nghiên cứu trên là những gợi mở quý báu về mặt lí luận

Có các bài viết xung quanh vấn đề tổ chức hình thức tự học cho học
sinh như: “Sử dụng câu hỏi nhằm tổ chức hoạt động tự học cho học sinh
trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930 - 1954” ở lớp 12 (Chương
trình chuẩn)” của Th.S Nguyễn Thị Duyên, “Tổ chức học sinh tự học với tài
liệu tham khảo trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918 (lớp 11)”
của Th.S Nguyễn Thị Hà, “Tổ chức tự học ở nhà cho học sinh THPT thông

9
qua hệ thống bài tập” của Th.S Võ Văn Minh hay “Tổ chức hoạt động tự học
ở nhà cho học sinh trong dạy học chương ‘Việt Nam từ năm 1858 đến cuối
thế kỉ XIX’ - lớp 11 trung học phổ thông” của tác giả Ngô Phú Hoài.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên sâu, chuyên
biệt về các hình thức tổ chức tự học lịch sử cho học sinh ở trường THPT
chuyên, để làm rõ những vấn đề về lí luận chung, cũng như chỉ ra các biện
pháp sư phạm trong việc tổ chức hình thức tự học cho HS nhằm tạo hứng thú
học tập trong DHLS ở trường THPT chuyên nói chung và trường THPT
chuyên Lam Sơn nói riêng. Đây cũng chính là những vấn đề mà tác giả muốn
tập trung nghiên cứu trong đề tài này.
3. Đối tượng nghiên cứu
Các hình thức tổ chức tự học Lịch sử cho học sinh lớp 10 ở trường
THPT chuyên Lam Sơn Thanh Hoá.
4. Mục đích nghiên cứu và Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xác định hình thức tổ chức tự học để
tạo hứng thú học tập cho HS trường chuyên, qua đó góp phần nâng cao chất
lượng DHLS ở trường THPT nói chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng.
4.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và khảo sát thực tiễn liên quan đến vấn
đề tổ chức tự học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch

sinh tự khám phá, tự tìm tòi, nghiên cứu rồi tiến tới chiếm lĩnh kiến thức, từ
đó học sinh ngày càng hứng thú với công việc học tập. Nếu thực hiện tốt
những yêu cầu và giải pháp về tổ chức hình thức tự học mà đề tài đã đề xuất
thì sẽ tạo hứng thú học tập cho HS và góp phần nâng cao chất lượng DHLS ở
trường THPT nói chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn được hoàn thành sẽ có ý nghĩa cơ bản sau:
Về lý luận: luận văn hệ thống những vấn đề lý luận về các hình thức tổ
chức tự học môn LS để tạo hứng thú học tập cho HS. Đồng thời, luận văn

11
cũng xác định biện pháp cụ thể trong tổ chức tự học gây hứng thú cho HS
trường THPT nói chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng.
Về thực tiễn: Những biện pháp sư phạm được nêu trong luận văn có thể
ứng dụng vào dạy học Lịch sử ở trường THPT. Thổ Nhĩ Kì là tài liệu tham
khảo cho sinh viên sư phạm ngành Lịch sử, cho GV ở trường THPT nói
chung và trường chuyên Lam Sơn nói riêng, cũng như cho các tác giả quan
tâm tới việc nghiên cứu và vận dụng đổi mới PPDH LS.
9. Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, đề tài gồm 2
chương.
Chương 1: Tạo hứng thú học tập cho HS thông qua các hình thức tổ chức
tự học môn LS ở trường THPT chuyên. Lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS qua các hình thức
tổ chức tự học môn LS lóp 10 ở trường THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa.
Thực nghiệm.


hứng thú gì nữa, bộ phim gây được hứng thú cho tác giả. [31, tr. 861]
Theo Từ điển Tâm lý của Nguyễn Khắc Viện (cb): “Hứng thú là biểu
hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thoả mãn, tạo ra khoái cảm
thích thú…”. [32, tr. 161]
Theo Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học
sinh như thế nào” tập II đã nêu: “Hứng thú là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc
cảm đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có
tính chất hấp dẫn. “Hứng thú là thể hiện xúc cảm của nhũng nhu cầu nhận
thức ở người”. Do đó việc thoả mãn các hứng thú sẽ thúc đẩy lấp các lỗ hổng
trong kiến thức, làm cho sự định hướng tìm hiểu các sự kiện, hiện tượng có ý

13
nghĩa đối với cá nhân trở nên đầy đủ và sâu sắc hơn. Nói cách khác, hứng thú
là một cơ chế thúc đẩy thường xuyên đối với nhận thức.
N.G Môrôzôva thì lại cho rằng hứng thú từ đối tượng này đến đối
tượng khác, đối với mọi lứa tuổi đều là một niềm vui. Niềm vui thường mang
đến cho con người cuộc sống tốt đẹp, đồng thời cả những khả năng và phương
pháp làm việc tốt hơn. Học tập cũng như bất kì một dạng lao động nào, đều
cần thiết mang lại niềm vui cho con người. Niềm vui là nguồn sáng tạo, thành
đạt những chiến công mới trong hoạt động. Hứng thú nhận thức làm cho con
người trở thành chủ thể tìm kiếm, ham muốn tri thức, kiên trì, cần mẫn. Đặc
biệt, nhờ có hứng thú nhận thức, việc tự giáo dục, rèn luyện trở thành có
phương pháp và có hiệu quả.
Côvaliôp trong cuốn “Tâm lý học cá nhân”: “Hứng thú là thái độ đặc
thù của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời
sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó”. “Hứng thú đó là sự kết hợp độc
đáo các quá trình tình cảm – ý chí và quá trình trí lực, tính tích cực nhận thức
và hoạt động của con người được nâng cao” và “Đó là thái độ riêng của cá
nhân đối với đối tượng, ý thức được ý nghĩa cuộc sống và sự hấp dẫn về tình
cảm gây ra”. [23, tr. 23]

chỉ là xúc cảm bên ngoài của học sinh thì đến một lúc nào đó, khi xúc cảm
qua đi, học sinh sẽ nhanh chóng quên những gì vừa tiếp nhận được, vừa nhìn
thấy. Chỉ với những kích thích từ bên trong, hứng thú mới có thể duy trì được
một cách bền vững, mới có thể trở thành động cơ hoạt động học của học sinh.
Hứng thú học tập có đối tượng hẹp hơn nhiều so với hứng thú nhận
thức (hứng thú nhận thức có đối tượng là việc nhận thức thế giới khách quan
nói chung: quá trình nhận thức bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng
trong thế giới khách quan). Khái niệm hứng thú học tập theo nghĩa rộng là
việc lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử xã hội nói chung, nghĩa là nó gần với

15
khái niệm nhận thức. Nhưng khái niệm học tập theo đúng nghĩa tâm lý học là
hoạt động học tập được tổ chức bằng phương pháp nhà trường với nội dung,
phương pháp và hình thức tổ chức chuyên biệt. Vậy hứng thú học tập là loại
hứng thú gắn với các môn học trong nhà trường; nó là thái độ đặc biệt của
người học với môn học mà họ thấy có ý nghĩa và khả năng đem lại khoái cảm
trong quá trình học tập bộ môn. Hứng thú học tập bao gồm cả thái độ đối với
các hành động học tập để đạt tới tri thức và kỹ năng, kỹ xảo đó trong các môn
học. Từ sự phân tích này chúng tôi cho rằng khi nghiên cứu hứng thú học tập
một môn học cụ thể cần xem xét cả hứng thú với nội dung môn học và hứng
thú với hoạt động học tập bộ môn để lĩnh hội nội dung môn học. Điều này
giải thích tại sao có những học sinh rất thích nghe giảng bài trên lớp nhưng lại
không hứng thú với việc học bài, làm bài tập, đọc các tài liệu tài liệu tham
khảo và ứng dụng tri thức vào thực tiễn.
Dấu hiệu đặc trưng của hứng thú học tập cũng là sự thích thú với môn
học và tính tích cực trong hoạt động học tập bộ môn, xúc cảm tích cực là dấu
hiệu rõ ràng nhất, đặc trưng nhất của hứng thú học tập nhưng không thể đồng
nhất những xúc cảm tích cực với hứng thú, xúc cảm là quá trình tâm lý, nó
nảy sinh trong những tình huống cụ thể của quá trình học tập còn hứng thú là
thuộc tính tâm lý tương đối ổn định của cá nhân. Xúc cảm là dấu hiệu của

được hệ thống tri thức và có phương pháp học tập tốt sẽ là cơ sở để học sinh
giải quyết những tri thức phức tạp hơn. Hứng thú học tập của học sinh được
phát triển dưới sự chỉ đạo của giáo viên, có sự hợp tác của tập thể lớp và sự cố
gắng của chính bản thân từng học sinh. [6, tr. 16]
Gây hứng thú học tập cho học sinh còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
khả năng diễn đạt, ngôn ngữ trong sáng, giàu hình ảnh của giáo viên, yếu tố
gia đình học sinh… Tất cả những điều đó được phối hợp với nhau để kích
thích hứng thú học tập của học sinh, từ đó kích thích quá trình tâm lý ở các

17
em, hoạt động học tập sẽ trở nên say mê và đạt được hiệu quả cao. Khi đã đạt
được kết quả học tập cao sẽ là yếu tố quyết định để hứng thú học tập tiếp tục
được nảy sinh và duy trì.
Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu tâm lí học, giáo dục học đã phân loại
hứng thú học tập như sau:
- Căn cứ vào đối tượng gây nên hứng thú:
+ Hứng thú vật chất: là loại hứng thú được biểu hiện cho sự say đắm và theo
đuổi đối với vật chất. Hứng thú vật chất là do năng lực bản thân quyết định
vấn đề bảo tồn và tiếp tục đến đời sau. Có thể biểu hiện thành nguyện vọng,
muốn có chỗ ở, có đủ tiện nghi sinh hoạt, hứng thú ăn mặc, hứng thú thời
trang…Trong xã hội tư bản thì hứng thú vật chất mang tính chất kỳ quặc và
ích kỷ. Nó trở thành lòng ham muốn, sự xa hoa, tích luỹ tiền và vì bản thân
tiền của.
+ Hứng thú tinh thần: là chỉ hứng thú đối với văn hoá, khoa học, nghệ thuật.
Nhà khoa học hứng thú đối với việc tìm kiếm khoa học là vì vui thú mà quên
u sầu, nhà phát minh đối với hứng thú phát minh cũng sẽ vui mà quên hết mệt
mỏi. Hứng thú tinh thần có thể tăng thêm yêu cầu ham muốn học hỏi của con
người, khiến cho người đi làm việc và tìm kiếm một cách dạt dào sức sống.
- Căn cứ vào chiều hướng của hứng thú:
+ Hứng thú trực tiếp: là những hứng thú đối với bản thân quá trình nhận thức,

- Căn cứ vào tính bền vững của hứng thú, người ta chia hứng thú thành hai
loại: hứng thú bền vững và hứng thú không bền vững.
- Căn cứ vào mức độ sâu sắc của hứng thú, có hứng thú sâu sắc, hứng thú hời
hợt. [5, tr. 25]
Những biểu hiện của hứng thú học tập trong giờ học được cụ thể bằng
hoạt động của học sinh: chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu trong các giờ
học, học sinh thích làm và làm đầy đủ các bài tập của môn học, tích cực hành
động, nhận thức, xúc cảm và hành vi phát triển theo chiều hướng tốt.

19
Như vậy, hứng thú là một hoạt động tâm lí phức tạp của cá nhận, nó có
liên quan đến nhiều thuộc tính tâm lý khác như nhu cầu, xúc cảm… Để đạt
được hứng thú học tập cần có quá trình lâu dài và phải phụ thuộc vào nhiều
yếu tố. Hứng thú học tập là động lực quan trọng thúc đẩy người học đạt kết
quả cao, tạo cho cá nhân động lực để làm việc. Do đó, để học sinh thu được
kết quả học tập tốt, trong quá trình dạy học, giáo viên cần có biện pháp gây
hứng thú học tập cho học sinh.
1.1.2. Quan niệm về hứng thú học tập lịch sử
Trước khi tìm hiểu về hứng thú trong học tập lịch sử, chúng ta cần nhận
thức được mục tiêu của bộ môn lịch sử ở trường phổ thông.
Mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện rõ trong Luật
Giáo dục (2005): “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Mục tiêu bộ môn Lịch sử là việc cụ thể hoá mục tiêu giáo dục chung.
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành tháng 5/2006 đã xác định mục tiêu
môn Lịch sử như sau: “Môn Lịch sử ở trường phổ thông nhằm giúp cho học
sinh có được những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử
thế giới; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục

cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội
loài người. Trên cơ sở đó, giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành.
Để thực hiện được mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường THPT, nhằm đáp ứng
được yêu cầu của giáo dục, trước hết phải rèn luyện năng lực tự học của học
sinh. Bởi vì, năng lực tự học được phát huy, học sinh sẽ nắm vững kiến thức,
hiểu được lịch sử, từ đó hình thành tư tưởng, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, góp
phần to lớn vào việc giáo dục toàn diện cho học sinh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status