Phát triển vận tải đa phương thức quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*** TÔ THANH BÌNH

PHÁT TRIỂN VẬN TẢI ĐA PHƯƠNG THỨC
QUỐC TẾ TRONG BỐI CẢNH
VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
***

1.1.1. Khái niệm vận tải đa phương thức quốc tế 7
1.1.2. Đặc điểm của vận tải đa phương thức quốc tế 8
1.2. Vai trò của vận tải đa phƣơng thức quốc tế đối với hoạt động
xuất nhập khẩu 11
1.3. Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hƣởng đến sự phát
triển của vận tải đa phƣơng thức quốc tế của Việt Nam 12
1.3.1. Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO 12
1.3.2. Hội nhập khu vực các quốc gia Đông Nam Á 16
1.3.3. Hợp tác tiểu vùng sông Mêkông 18
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển vận tải đa phƣơng thức
quốc tế 20
1.4.1. Kinh nghiệm phát triển vận tải đa phương thức quốc tế
của một số nước 20
1.4.2. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 23
CHƢƠNG 2 25
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VẬN TẢI ĐA PHƢƠNG THỨC
QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 25
2.1. Các giai đoạn phát triển của vận tải đa phƣơng thức quốc tế
tại Việt Nam 25
2.1.1. Giai đoạn từ 1980 đến 1986 25
2.1.2. Giai đoạn từ 1986 đến 2003 25

2.1.3. Giai đoạn từ 2003 đến nay 27
2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở pháp lý của vận tải đa
phƣơng thức quốc tế tại Việt Nam 28
2.2.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật 28
2.2.2. Cơ sở pháp lý 54
2. 3. Các mô hình vận tải đa phƣơng thức quốc tế mà Việt Nam đã
và đang áp dụng 74
2.2.1. Mô hình đường biển - đường bộ 74

Ngân hàng phát triển châu Á
2
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam châu Á
3
CBTA
Hiệp định vận tải xuyên biên giới
4
DWT
Tải trọng tổng cộng của tàu
5
EDI
Công nghệ truyền thông dữ liệu điện tử
6
FIATA
Hiệp hội giao nhận vận tải quốc tế
7
GATS
Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ
8
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
9
GMS
Tiểu vùng sông Mêkông
10
IATA
Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế
11
ICC

Trang
1
Bảng 2.1
Khối lượng hàng hóa vận tải bằng đường bộ
giai đoạn 2007-2011
29
2
Bảng 2.2
Sản lượng và doanh thu trong ngành vận tải
đường sắt giai đoạn 2007-2011
31
3
Bảng 2.3
Hệ thống đường sắt Việt Nam năm 2011
33
4
Bảng 2.4
Tỷ trọng vận chuyển container bằng đường sắt
so với số container thông qua cảng Hải Phòng
giai đoạn 2005-2011
34
5
Bảng 2.5
Số lượng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
Hàng hải ở Việt Nam
36
6
Bảng 2.6
Hiện trạng đội tàu biển theo loại tàu tính đến
tháng 12/2011

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động vận chuyển hàng hóa luôn đóng một vai trò quan trọng trong
nền kinh tế. Đối với thương mại quốc tế, vận tải được coi như một bộ phận
không thể tách rời, một mắt xích trong lưu chuyển hàng hóa trên phạm vi toàn
cầu.
Cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, sự mở rộng hợp tác và
thương mại quốc tế, các phương thức, cách thức tổ chức vận tải cũng ngày
càng phát triển đáp ứng nhu cầu luôn chuyển hàng hóa ngày càng tăng.
Thương mại quốc tế cùng với tác động của khoa học kỹ thuật, vận tải
container và công nghệ thông tin đã thúc đẩy quá trình hình thành và phát
triển vận tải đa phương thức quốc tế. Sự ra đời của vận tải đa phương thức
quốc tế chính là một bước tiến mới của quá trình phát triển của vận tải. Vận
tải đa phương thức quốc tế là một loại hình vận tải hiện đại mà hiệu quả về
mặt kinh tế của nó đang được các nước ghi nhận và áp dụng. Nó tạo ra sự đổi
mới trong cách thức kinh doanh vận tải: đáp ứng phương thức giao hàng
“door to door” - “từ cửa tới cửa”, giảm thời gian lưu kho bãi, hạn chế những
phiền toái về thủ tục và nâng cao chất lượng cũng như an toàn trong vận
chuyển hàng hóa.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, đất nước ta đã
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường
có sự quản lý của nhà nước. Cùng với sự phát triển kinh tế, yêu cầu về lưu
chuyển hàng hóa cũng được đặt ra. Vận tải đa phương thức quốc tế đã được
áp dụng từ những năm 1930 của thế kỷ XX ở các nước phát triển. Xuất hiện
tại Việt Nam từ cuối những năm 1980, nhưng vận tải đa phương thức quốc tế
mới chỉ được quan tâm và đầu tư phát triển những năm gần đây. Tuy nhiên,
2

Nguyễn Hồng Đàm (chủ biên), Hoàng Văn Châu, Nguyễn Như Tiến,
Vũ Sỹ Tuấn biên soạn, xuất bản năm 2005.
Giáo trình “Logistics và vận tải quốc tế” do các tác giả Hoàng Văn
Châu (chủ biên), Trịnh Thị Thu Hương, Vương Thị Bích Ngà biên
soạn, xuất bản năm 2009.
Các giáo trình này đã và đang được giảng dạy về các nghiệp vụ trong
vận tải, giao nhận và logistics trong các trường đại học có đào tạo chuyên
ngành thương mại quốc tế. Tuy nhiên, giáo trình mới chỉ trình bày một cách
cơ bản, khái quát về các loại hình và cách thức vận hành của vận tải đa
phương thức quốc tế, chưa coi vận tải đa phương thức quốc tế như là một đối
tượng riêng.
2) Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện phương pháp lựa chọn container trong
vận tải đa phương thức ở Việt Nam” tác giả Vũ Thế Bình (Đại học Hàng hải
- 2000):
Trên cơ sở khảo sát hoạt động vận tải, nghiên cứu tình hình cảng và
bến container, tác giả đưa ra kiến nghị về việc lựa chọn container hợp lý theo
các đặc trưng cơ bản của tàu, các giới hạn cho phép nhằm phát triển đội tàu
container phù hợp với tuyến liner, với thông lệ quốc tế nhằm đảm bảo hiệu
quả cao nhất trong vận tải đa phương thức sử dụng container ở Việt Nam.
3) Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện thủ tục giao nhận hàng hóa trong vận tải
đa phương thức ở Việt Nam” tác giả Nguyễn Hồng Vân (Đại học Hàng hải -
2007):
Tác giả đã phân tích một cách có hệ thống các vấn đề về lý luận và thực
tiễn liên quan đến thủ tục giao nhận hàng hoá trong vận tải đa phương thức
quốc tế, từ đó đưa ra những đánh giá thực trạng thủ tục giao nhận hàng hoá và
4

đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện thủ tục giao nhận hàng hoá trong vận
tải đa phương thức quốc tế ở Việt Nam.
4) Luận án tiến sĩ “Các giải pháp cơ bản hoàn thiện công tác quản lý và

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của vận tải đa phương thức quốc tế.
- Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với phát
triển vận tải đa phương thức quốc tế Việt Nam.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm phát triển vận tải đa phương thức quốc tế
tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vận tải đa phương thức quốc tế.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu sự phát triển của vận tải đa phương thức
quốc tế trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sự phát triển của vận tải đa phương thức
quốc tế tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1980 đến nay.
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng sự phát triển của vận tải đa
phương thức quốc tế trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế và
những ảnh hưởng của nó đến phát triển vận tải đa phương thức quốc tế tại
Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là sự vận dụng một cách tổng
hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cơ bản như: phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để xem xét quá trình hình thành, phát triển của vận
tải đa phương thức quốc tế tại Việt Nam, mối tương quan giữa vận tải đa
phương thức quốc tế với các nhân tố ảnh hưởng; phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh nhằm phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của vận tải đa
6

phương thức quốc tế tại Việt Nam. Đồng thời, luận văn cũng kế thừa các kết
quả nghiên cứu đã có, bổ sung và phát triển các luận cứ khoa học và thực tiễn
mới phù hợp với mục đích nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của luận văn
 Làm rõ cơ sở khoa học của phát triển vận tải đa phương thức quốc tế của

người điều hành vận tải đa phương thức quốc tế đưa đến một địa điểm chỉ
định ở một nước khác”.
Theo Ủy ban Thương mại và Phát triển của Liên Hiệp quốc
(UNCTAD): “Vận tải đa phương thức là sự vận tải hàng hóa trên cơ sở một
chứng từ, sự vận chuyển đó phải đi qua biên giới quốc tế. Vận tải đa phương
thức quốc tế phải có sự kết hợp của hai hoặc nhiều phương thức vận tải khác
nhau”.
Theo Nghị định số 87/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009:
“Vận tải đa phương thức” là việc vận chuyển hàng hoá bằng ít nhất
hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa
phương thức.
8

“Vận tải đa phương thức quốc tế” là vận tải đa phương thức từ nơi
người kinh doanh vận tải đa phương thức tiếp nhận hàng hoá ở Việt Nam đến
một địa điểm được chỉ định giao trả hàng ở nước khác và ngược lại.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu vận tải đa phương thức quốc tế là một
phương pháp vận tải, trong đó hàng hóa được vận chuyển bằng hai hay nhiều
phương thức vận tải khác nhau, trên cơ sở một chứng từ vận tải, một chế độ
trách nhiệm và chỉ một người chịu trách nhiệm về hàng hóa trong suốt hành
trình chuyên chở từ một địa điểm nhận hàng ở một nước này đến một địa
điểm giao hàng ở một nước khác.
Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên hiểu vận tải đa phương thức quốc
tế đơn thuần chỉ là hai hay nhiều phương tiện vận tải kết hợp lại, mà sự kết
hợp đó phải trở thành một hệ thống, trong đó, các phương thức vận tải tham
gia một cách nhịp nhàng để đưa hàng hóa từ nơi gửi tới nơi nhận một cách
nhanh nhất, an toàn nhất.
1.1.2. Đặc điểm của vận tải đa phương thức quốc tế
Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể thấy vận tải đa phương thức
quốc tế có một số đặc điểm khác biệt so với các phương thức vận tải thông

lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Điều này đặt ra yêu cầu về một phương thức vận
tải mang lại hiệu quả cao nhất, chi phí thấp nhất và có độ an toàn cao. Vận tải
đa phương thức quốc tế đáp ứng được những yêu cầu đó.
Nhân tố thứ hai, sự phát triển kinh tế đặt ra nhu cầu ngày càng cao về
vận chuyển hàng hóa. Đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhu
cầu vận chuyển hàng hóa phục vụ cho thương mại quốc tế càng lớn. Một quốc
gia có nền kinh tế phát triển, có sự hội nhập kinh tế quốc tế càng lớn thì yêu
10

cầu của phát triển vận tải đa phương thức quốc tế càng cấp thiết. Nó mang lại
hiệu quả phát triển kinh tế lớn hơn, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế chặt chẽ hơn.
Nhân tố thứ ba, cơ sở hạ tầng giao thông và thông tin liên lạc có ý
nghĩa quyết định đến sự phát triển của vận tải đa phương thức quốc tế. Vận tải
đa phương thức quốc tế là một phương thức vận tải có tính quy chuẩn cao, do
đó nó đòi hỏi hạ tầng giao thông và thông tin liên lạc ở một điều kiện nhất
định mới đáp ứng được. Chính vì vậy, hạ tầng giao thông và thông tin liên lạc
là yếu tố quan trọng nhất tác động tới sự phát triển của vận tải đa phương thức
quốc tế.
Nhân tố thứ tư, cơ sở pháp lý cho vận tải đa phương thức quốc tế: Vận
tải đa phương thức quốc tế là một phương thức vận tải tương đối khác biệt với
vận tải đơn phương thức. Vì vậy, để phát triển vận tải đa phương thức quốc
tế, nó đòi hỏi một cơ sở pháp lý riêng. Việc một quốc gia xây dựng được một
cơ sở pháp lý sẽ là yếu tố quan trọng cho phát triển vận tải đa phương thức
quốc tế.
- Các nhân tố bên ngoài:
Nhân tố thứ nhất, thương mại quốc tế đòi hỏi các nước có sự hợp tác,
giao thương. Hàng hóa được vận chuyển giữa các nước cũng đặt ra yêu cầu về
độ an toàn, chi phí thấp và thuận tiện. Đây là yếu tố làm cho vận tải đa
phương thức quốc tế phát triển ngày một mạnh mẽ.
Nhân tố thứ hai, hạ tầng giao thông: Hạ tầng giao thông cho vận tải đa

dụng phương thức vận tải, công cụ xếp dỡ và cơ sở hạ tầng, tiếp nhận công
nghệ vận tải mới và quản lý hiệu quả hơn hê thống vận tải.
Ngoài ra nó còn tạo ra những dịch vụ mới, góp phần thu hút một lực
lượng lao động khá lớn, giải quyết công ăn việc làm cho xã hội.
12

Lợi ích của việc áp dụng vận tải đa phương thức quốc tế là rất lớn, tuy
nhiên phát triển nó lại đòi hỏi phải đầu tư khá lớn cho cơ sở hạ tầng như
đường sá, cầu cống, ga cảng, bến bãi, trạm đóng gói giao nhận container,
phương thức vận chuyển, xếp dỡ… Đây là một trở ngại lớn đối với các nước
đang phát triển.
1.3. Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ảnh hƣởng đến sự phát triển của
vận tải đa phƣơng thức quốc tế của Việt Nam
1.3.1. Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
Tổ chức thương mại thế giới là diễn đàn thương mại với 154 thành
viên. Các quốc gia thành viên thương lượng giải quyết những tranh chấp phát
sinh trong quan hệ thương mại. Cơ sở pháp lý là các Hiệp định do phần lớn
các cường quốc thương mại trên thế giới đàm phán và ký kết. Những văn bản
này tạo thành qui định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế.
Ngày 11-1-2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của
tổ chức Thương mại thế giới. Gia nhập WTO, chúng ta đã cam kết tham gia
đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu: mở rộng thị trường hàng hóa dịch vụ;
đầu tư quốc tế; đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơn các thể chế; đồng thời
cải tiến nền hành chính quốc gia theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, theo phân
loại của WTO thì không có dịch vụ vận tải đa phương thức. Do đó Việt Nam
không có cam kết về dịch vụ vận tải đa phương thức quốc tế.
Mặc dù vậy, cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có nêu rõ: “khi vận
tải đường bộ, đường thuỷ nội địa, vận tải ven biển và trong đất liền, và các
dịch vụ hỗ trợ liên quan không được quy định đầy đủ trong biểu cam kết dịch
vụ (trong WTO) thì người khai thác dịch vụ vận tải đa phương thức quốc tế

đến các dịch vụ này. Các hãng hàng không nước ngoài hoạt động, cung cấp
14

dịch vụ vận chuyển hàng không tại Việt Nam theo các quy định hiện hành của
pháp luật Việt Nam.
Tuy nhiên, WTO điều chỉnh một số dịch vụ liên quan tới vận tải hàng
không (thuộc phạm vi của Hiệp định Chung về Thương mại dịch vụ - GATS)
và Việt Nam đã đưa ra cam kết mở cửa trong những lĩnh vực này với điều
kiện như sau:
Dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không: Các hãng hàng không
nước ngoài được phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam thông qua văn
phòng bán vé của mình hoặc các đại lý tại Việt.
Dịch vụ đặt chỗ, giữ chỗ bằng máy tính: Để cung cấp dịch vụ này,
nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải sử dụng mạng viễn thông
công cộng dưới sự quản lý của cơ quan Nhà nước về viễn thông
Việt Nam.
Dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay: Kể từ ngày 11/1/2007,
Việt Nam cho phép thành lập liên doanh trong đó phần vốn góp của
phía nước ngoài không được vượt quá 51% vốn điều lệ của liên
doanh. Sau 5 năm kể từ khi gia nhập (tức là từ ngày 11 tháng 1 năm
2012), cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước
ngoài để cung cấp dịch vụ này.
* Đối với dịch vụ vận tải đường thuỷ nội địa: Việt Nam cam kết chỉ cho
phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ vận tải
đường thủy nội địa để chuyên chở hành khách và vận tải hàng hóa dưới hình
thức thành lập liên doanh với đối tác Việt Nam với điều kiện tỷ lệ vốn góp
của phía nước ngoài không vượt quá 49% vốn của liên doanh.
* Đối với dịch vụ hỗ trợ vận tải biển: Việt Nam mới chỉ cam kết mở
cửa thị trường trong các loại dịch vụ và với các điều kiện cụ thể sau:
15

giao nhận hàng hoá; chuẩn bị chứng từ; cung cấp thông tin kinh
doanh. Theo cam kết trong WTO, nhà đầu tư nước ngoài muốn cung
cấp dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa ở Việt Nam phải thiết lập liên
doanh với đối tác Việt Nam. Trong liên doanh, tỷ lệ vốn góp của
phía nước ngoài không vượt quá 51%. Sau ngày 11/1/2014, các nhà
đầu tư nước ngoài có thể lập liên doanh với đối tác Việt Nam mà
không bị hạn chế vốn của phía nước ngoài trong liên doanh hoặc lập
doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Các dịch vụ thực hiện thay mặt cho chủ hàng: kiểm tra vận đơn;
dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa; giám định hàng hóa, dịch vụ lấy
mẫu và xác định trọng lượng; giám định hàng hóa; dịch vụ nhận
hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải
Như vậy, chúng ta có thể thấy việc gia nhập tổ chức thương mại thế
giới WTO có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển vận tải đa phương thức quốc tế
Việt Nam. Tuy không có cam kết về vận tải đa phương thức quốc tế, nhưng
Việt Nam có cam kết riêng trong từng ngành cụ thể liên quan đến vận tải đa
phương thức quốc tế. Những cam kết này đều có tác động tới sự phát triển của
vận tải đa phương thức quốc tế tại Việt Nam.
1.3.2. Hội nhập khu vực các quốc gia Đông Nam Á
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một liên minh chính
trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Hiệp hội gồm 10 quốc gia thành viên: Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Singapore, Philippines, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanmar và Campuchia. Trải
qua 45 năm hình thành và phát triển, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
đang ngày càng hợp tác hơn, hướng đến hình thành Cộng đồng kinh tế
ASEAN vào năm 2015.
17

Trong hợp tác phát triển kinh tế và thương mại giữa các thành viên,
việc phát triển vận tải rất được coi trọng. Các nước thành viên đã đề xuất

thành viên khác”. Tuy nhiên, người đó phải đăng ký kinh doanh vận tải đa
phương thức quốc tế theo tiêu chuẩn đã được đề ra với cơ quan có thẩm
quyền nước mình và phải xuất trình giấy đăng ký được cấp đó cho cơ quan có
thẩm quyền đăng ký kinh doanh vận tải đa phương thức quốc tế của nước
thành viên kia.
Bên cạnh đó, ngoài việc liên kết, hợp tác với các nước thành viên, Việt
Nam còn hợp tác với các nước đối tác của khối ASEAN như Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc… Đây là một điều kiện thuận lợi giúp chúng ta tiếp cận
công nghệ vận tải đa phương thức quốc tế của các nước phát triển, nâng cao
khả năng và năng lực cạnh tranh.
1.3.3. Hợp tác tiểu vùng sông Mêkông
Tiểu vùng sông Mêkông (GMS) bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia,
Thái Lan, Myanmar và Trung Quốc. Đây là khu vực kinh tế tự nhiên gắn kết
với nhau bởi sông Mêkông. Vào năm 1992, với sự hỗ trợ của Ngân hàng phát
triển Châu Á (ADB), các nước trong GMS đã khởi động chương trình hợp tác
kinh tế tiểu vùng để đẩy mạnh quan hệ kinh tế dựa trên nền văn hoá và lịch sử
chung.
Chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mêkông trong lĩnh vực giao thông
vận tải tập trung vào phát triển hành lang vận tải, một ưu tiên có ý nghĩa vô
cùng quan trọng để liên kết tiểu vùng với nhau và đẩy mạnh liên kết vận tải
tới các khu vực khác. Nhờ có sự hợp tác tiểu vùng sông Mêkông, các hành
lang vận tải liên kết tiểu vùng được thiết lập:
19

 Hành lang kinh tế Bắc - Nam, gồm ba tuyến: Côn Minh tới Băng Kốc
qua Lào hoặc Myanmar; Côn Minh tới Hà Nội và tiếp tục tới Hải
Phòng; Côn Minh, Nam Ninh tới Hà Nội.
 Hành lang kinh tế Đông - Tây là tuyến đường thẳng và liên tục duy
nhất giữa Ấn Độ Dương (biển Andaman) và biển Nam Hải (Trung
Quốc).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status