ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ TRẦN THỊ MỸ DUNG Phát triển thị trường vốn Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
luËn v¨n th¹c sÜ KINH TẾ
Hµ néi - 2006
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Danh mục các từ viết tắt
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG VỐN
1.1. Những vấn đề chung về thị trường vốn
1.1.1. Khái niệm
1.1.2. Các chủ thể và công cụ tham gia trên thị trường vốn
1.1.3. Chức năng và vai trò của thị trường vốn
1.2. Xu hướng phát triển thị trường vốn trong điều kiện toàn cầu hóa
hiện nay
1.3. Kinh nghiệm phát triển thị trường vốn của một số nước trên thế
giới
1.3.1. Tình hình phát triển thị trường vốn và kinh nghiệm của Trung
Quốc
2.2.2.2. Hạn chế và tồn tại trên TTTD
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN TTV
VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HNKTQT
3.1. Định hướng phát triển thị trường vốn Việt Nam trong thời gian
tới
3.1.1. Những thách thức đối với thị trường vốn Việt Nam trong quá
trình HNKTQT
3.1.2. Mục tiêu, quan điểm và định hướng phát triển thị trường vốn
Việt Nam trong thời gian tới
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường vốn Việt Nam
trong quá trình HNKTQT
3.3.1. Định hướng các giải pháp phát triển thị trường vốn Việt Nam
trong quá trình HNKTQT
3.3.2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển thị trường vốn Việt Nam
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
: Thị trường tín dụng
TTTP
: Thị trường trái phiếu
TTV
: Thị trường vốn
WTO
: Tổ chức thương mại thế giới (World Trade
Organization)
4
Phần mở đầu
Sự cần thiết của đề tài
Thị trường vốn là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường. Đây là
nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính trung và dài hạn (thường có thời
hạn trên một năm). Các công cụ được giao dịch trên thị trường vốn gồm cổ
phiếu của các doanh nghiệp, trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, các loại
khế ước thế chấp và tín dụng ngân hàng…Các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cá
nhân, hộ gia đình, chính phủ và các định chế trung gian tham gia trên thị
trường vốn với tư cách là các chủ thể.
Cho đến nay, các nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một khái niệm thống nhất
về thị trường vốn. Căn cứ vào cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể có
quan niệm khác nhau về thị trường vốn. Hiện nay, có hai trường phái quan
điểm chính; đó là trường phái theo quan điểm của Pháp và trường phái theo
quan điểm của Mỹ, Anh, Đức. Cách phân chia thị trường theo hai trường phái
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của thị trường vốn, Đảng và nhà nước
ta đã xác định trong Nghị quyết Đại hội IX năm 2001 “Phát triển nhanh và
bền vững thị trường vốn, nhất là thị trường vốn dài hạn và trung hạn”. Ở
nước ta, thực tiễn phát triển trong nhiều năm qua cho thấy, các cấu thành cơ
bản của thị trường vốn đã dần hình thành và đang được vận hành trong một
khuôn khổ pháp lý xác định. Tuy nhiên, thị truờng vốn nước ta vẫn còn sơ
khai, đang phát triển ở trình độ thấp và quy mô nhỏ so với các nước trong khu
vực và thế giới. TTCK ở nước ta chưa thực sự trở thành kênh đắc lực trong
huy động và phân bổ vốn trung, dài hạn; do đó, nguồn cung ứng vốn cho các
doanh nghiệp chủ yếu vẫn là các ngân hàng thưong mại. Hệ thống các định
chế trung gian của thị trường vốn còn kém phát triển; hoạt động của hệ thống
ngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro; khuôn khổ pháp lý chưa hoàn chỉnh; các
nguyên tắc quốc tế và quản lý thị trường chưa được áp dụng một cách đồng
bộ. Thực tế này đã đặt ra những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, đặc biệt
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng với nhiều rủi ro
và nguy cơ không lành mạnh tiềm ẩn. 6
Như vậy, những nghiên cứu về thị trường vốn thực sự có ý nghĩa về mặt
lý luận và thực tiễn trước những vấn đề đặt ra trong thực tế đối với phát triển thị
trường vốn nước ta trong điều kiện hội nhập. Do đó, tôi đã chọn đề tài “Phát
triển thị trường vốn Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” với mục
đích nghiên cứu thực trạng và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
thị trường vốn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Nội dung của
Luận văn sẽ được phân tích theo cơ cấu các chương, bao gồm:
Chương I. Cơ sở lý luận chung về thị trường vốn
Chương I. Tình hình phát triển thị trường vốn Việt Nam trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
Chương III. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường vốn
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những giải pháp phát triển thị
trường vốn từ nay đến năm 2010.
4. Ban Kinh tế Trung ương (2004), Đề tài khoa học “Định hướng và
những giải pháp chủ yếu để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của
thị trường vốn ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng”
Nội dung: Làm rõ những chủ trương, quan điểm về phát triển thị trường
vốn Việt Nam; đánh giá tình hình thị trường vốn từ 2001-2004; đề xuất một
số giải pháp chủ yếu để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị
trường vốn ở nước ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX của Đảng.
Nhìn chung, do nghiên cứu từ lâu nên những công trình nói trên chưa
cập nhật; mặt khác, tùy thuộc mục đích, yêu cầu nghiên cứu nên chưa có công
trình nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về thị trường vốn gắn với quá trình
hội nhập kinh tế của Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ bổ sung tình hình
phát triển mới của thị trường vốn Việt Nam, đặc biệt là phần hội nhập kinh tế
quốc tế. 8
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý luận chung và tình hình
phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế để đề xuất một số gợi ý giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường vốn
Việt Nam trong điều kiện hội nhập KTQT.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: môi trường pháp lý và hiệu quả hoạt động của
thị trường vốn Việt Nam trong quá trình hội nhập KTQT
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thị trường vốn Việt Nam bao gồm thị
trường tín dụng dài hạn và thị trường chứng khoán gắn liền với quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thời gian nghiên cứu từ năm 1986
nhưng chủ yếu tập trung những năm gần đây khi những tác động của
quá trình hội nhập đã trở nên rõ ràng.
khác ngoài bản thân nó.
Bên cạnh đó, trong Bộ Tư bản, Mác đã kết luận quá trình chuyển hoá
của tiền thành tư bản như sau: “Như vậy là giá trị ứng ra ban đầu không
những được bảo toàn trong lưu thông, mà còn thay đổi đại lượng của nó, còn
cộng thêm một giá trị thặng dư, hay đã tăng thêm giá trị. Chính sự vận động
ấy đã biến giá trị đó thành tư bản” (46, tr228). Sự khác biệt giữa hàng hóa tư
bản và các hàng hóa thông thường khác được Mác nhấn mạnh: “Đối với các
hàng hoá khác, cuối cùng, giá trị sử dụng của chúng đều do người mua tiêu
dùng đi, đồng thời, thực thể của hàng hoá và giá trị của nó cũng biến mất
theo. Trái lại, hàng hoá tư bản lại có đặc tính là khi giá trị sử dụng của nó
được đem tiêu dùng đi, hàng hoá- tư bản không những vẫn giữ nguyên giá trị
và giá trị sử dụng của nó, mà còn làm cho giá trị và giá trị sử dụng của nó
tăng thêm lên nữa” (47, tr 537)
Tuy hiện vẫn còn nhiều khái niệm khác nhau về vốn (tư bản), nhưng
khi nghiên cứu bản chất của nó, chúng ta có thể nhận thấy một số đặc trưng 10
chung. Trước hết, vốn là hình thái giá trị được biểu hiện bằng tiền. Nói như
vậy có nghĩa là vốn không chỉ tồn tại dưới hình thức giá trị độc lập (tiền tệ)
mà còn tồn tại trong các tài sản hữu hình, vô hình và đại diện cho một lượng
giá trị hàng hoá, dịch vụ, tài sản nhất định. Vốn còn được thể hiện bằng tiềm
năng và lợi thế vô hình như vị trí địa lý, bản quyền sáng chế…Thứ hai, vốn
được biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tất cả tiền đều là vốn. Tiền chỉ là
vốn khi nó được đưa vào sử dụng với mục đích đầu tư hoặc kinh doanh.
Trong quá trình vận động, tiền quay trở về điểm xuất phát với một lượng lớn
hơn bản thân nó. Cuối cùng, trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng
hoá đặc biệt. Theo Mác, “Tiền chỉ được đem nhượng lại với hai điều kiện,
một là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một kỳ hạn nhất định, và hai là nó sẽ
quay về điểm đó với tư cách là tư bản đã thực hiện, nghĩa là sau khi đã thực
Cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong quan điểm về thị trường
vốn. Căn cứ vào cách tiếp cận khác nhau, người ta có thể có quan niệm khác
nhau, giới hạn phạm vi khác nhau về phạm trù này. Tuy nhiên, các nghiên
cứu cho thấy có hai trường phái chủ yếu; đó là các trường phái theo quan
điểm của Pháp (và một số nước khác) và trường phái theo quan điểm của Mỹ,
Anh, Đức (và một số nước khác).
Theo quan điểm của Pháp (và một số nước khác), TTV là thị trường
giao dịch cả nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn. Căn cứ vào phương
thức chuyển dịch vốn theo thuộc tính thời gian và hình thức vận động, TTV
được phân chia thành thị trường tiền tệ và thị trường tài chính. Cụ thể:
Thị trường vốn
Thị trường tiền tệ Thị trường tài chính
- Thị trường tín dụng - TT chứng khoán
- Thị trường Liên ngân hàng
- Thị trường các giấy tờ có giá ngắn hạn 12
Như vậy, theo quan điểm này, TTV là khái niệm rộng và bao hàm cả
thị trường tài chính. Trong đó, các nguồn vốn ngắn hạn vận động không tập
trung, chủ yếu là các phương tiện thanh toán và được quy thành đối tượng của
thị trường tiền tệ. Các nguồn vốn dài hạn, ngược lại, vận động tập trung thành
các kênh lớn để đáp ứng nhu cầu đầu tư sản xuất kinh doanh và được tụ lại trên
các điểm giao dịch vốn lớn, được quy thành đối tượng của thị trường tài chính.
Cách phân chia theo quan điểm này đã bao quát được cả nguồn vốn
ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, việc phân chia thành các bộ phận nhỏ hơn là
thị trường tiền tệ và thị trường tài chính lại chưa có đủ căn cứ thuyết phục. Bởi
vì, tài chính là một khái niệm rộng gồm nhiều khâu và lĩnh vực hoạt động giao
dịch các nguồn vốn tài chính, kể cả nguồn vốn tài chính ngắn hạn và dài hạn.
đó TTCK đóng vai trò chủ yếu và quan trọng. TTTD dài hạn hoạt động thông
qua các nghiệp vụ vay để cho vay của các TCTD. Tùy từng loại hình cụ thể,
những TCTD này được phép huy động vốn bằng các nghiệp vụ nhận tiền gửi,
phát hành các giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD và vay ngân hàng nhà
nước. Đồng thời, các TCTD được phép cấp tín dụng dưới nhiều hình thức
khác nhau (cho vay, cho thuê tài chính…). Thị trường này có vai trò quan
trọng trong các kênh huy động vốn cho phát triển, đặc biệt khi TTCK vẫn
đang ở giai đoạn đầu phát triển như nước ta. Tuy nhiên, hoạt động của thị
trường này lại tách rời người sở hữu vốn và người sử dụng vốn. Những ràng
buộc như quy định lãi suất, điều kiện cho vay của các TCTD…đã khiến cho
hoạt động của thị trường này mang tính chất độc quyền.
Để khắc phục những hạn chế trên TTTD dài hạn, TTCK ra đời như một
bổ sung tất yếu khách quan vào các kênh huy động vốn truyền thống. Trong
điều kiện của nền kinh tế hiện đại, TTCK được quan niệm là nơi diễn ra các
hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán
này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua chứng khoán lần đầu từ
những người phát hành; ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại
các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. 14
Trên lý thuyết, căn cứ vào các bộ phận cấu thành, TTCK được phân
loại thành TTCK nhà nước, TTCP và TTTP. Trong đó, TTCK nhà nước (các
giấy ghi nợ của Nhà nước như trái phiếu, tín phiếu kho bạc nhà nước dài hạn
và các chứng chỉ đầu tư…); TTTP là thị trường mua bán các chứng khoán có
lãi suất cố định (trái phiếu). Trong số các bộ phận cấu thành TTCK, thị trường
cổ phiếu là hạt nhân cơ bản và rất nhạy cảm với các biến động của nền kinh tế
như lạm phát, thất nghiệp…
1.1.2. Các chủ thể và công cụ tham gia trên thị trường vốn
Các chủ thể chủ yếu và cơ bản tham gia trên TTV gồm có Nhà nước,
nhau như: công ty chứng khoán, công ty tài chính chứng khoán, hiệp hội các
nhà buôn chứng khoán…
Ở nước ta, sau 20 năm đổi mới, các chủ thể theo thông lệ quốc tế cơ
bản đã được hình thành nhưng vẫn còn ít về số lượng và non kém về mặt
nghiệp vụ.
Các công cụ tài chính (hàng hóa) trên TTV được hiểu là quyền đòi nợ
tài chính như chứng chỉ, cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu, hợp đồng bảo
hiểm…Các công cụ này đều có tính thanh khoản và có thể được phân loại
thành các công cụ của từng thị trường. Trên TTV, các công cụ tài chính
thường có thời gian đáo hạn trên một năm, bao gồm các công cụ nợ và công
cụ vốn. Các công cụ của TTV có mức giá biến động mạnh hơn so với các
công cụ trên thị trường tiền tệ và được coi là những khoản đầu tư có rủi ro
cao. Tuy nhiên, khi thị trường tài chính ngày càng phát triển, các công cụ tài
chính được sử dụng đan xen giữa các thị trường. Những công cụ mới không
ngừng ra đời và mang đặc trưng của nhiều loại công cụ tài chính khác. Chính
vì vậy, ranh giới giữa các công cụ tài chính và giữa các bộ phận thị trường
cấu thành ngày càng mang tính tương đối.
Cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ
vật chất hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc của một công ty cổ phần. Cổ phiếu 16
là một loại chứng khoán vốn, thể hiện quan hệ đồng sở hữu giữa người phát
hành và nhà đầu tư. Người mua cổ phần được gọi là cổ đông của công ty. Cổ
đông nhận được một (các) giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu.
Người mua cổ phiếu trở thành người sở hữu một phần công ty và được hưởng
các quyền đối với công ty tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ nắm giữ. Khi
công ty làm ăn thua lỗ, các cổ đông phải chịu thiệt hại tương ứng với giá trị cổ
phiếu của họ. Căn cứ vào tính chất các quyền lợi cổ phiếu mang lại cho cổ
vào thời điểm thỏa thuận hợp đồng. Hợp đồng kỳ hạn được thỏa thuận, ký
trực tiếp bởi hai bên ký hợp đồng; được mua bán trên thị trường phi tập trung
và được thanh toán vào ngày đáo hạn.
Hợp đồng tương lai (Futures) cũng là hợp đồng mua hoặc bán một
lượng xác định các tài sản cơ sở tại một thời điểm xác định trong tương lai với
một mức giá xác định tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng. Khác với hợp đồng
kỳ hạn, hợp đồng tương lai nói chung được xử lý trên một Sở giao dịch. Điều
này cho phép giá cả được hình thành hợp lý hơn do các bên mua, bên bán
được cung cấp thông tin đầy đủ và công khai. Mặt khác, các giao dịch của
hợp đồng tương lai giúp xóa bỏ rủi ro tín dụng. Việc thực hiện các hợp đồng
tương lai được đảm bảo bằng lòng tin và uy tín của những người chủ sở hữu
giao dịch và công ty thanh toán bù trừ. Chính sự linh hoạt của hợp đồng tương
lai đã khắc phục được những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn và thương
được xem là một cách thức tốt hơn để phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh.
Quyền chọn (Options) là một công cụ cho phép người nắm giữ có
quyền mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc bán (nếu là quyền chọn bán) một số
lượng xác định các đơn vị tài sản cơ sở tại hay trước một thời điểm xác định trong
tương lai với một mức giá xác định (strike price) ngay tại thời điểm thỏa thuận.
Quyền mua trước (Rights) là quyền ưu tiên các cổ đông được mua
chứng khoán mới phát hành (theo tỷ lệ với số lượng cổ phiếu mà cổ đông
đang nắm giữ) với mức giá xác định (thường rẻ hơn giá thị trường) và trong 18
một thời hạn nhất định (thường có thời hạn rất ngắn, có khi chỉ vài tuần) trước
khi cổ phiếu được chào bán lần đầu ra công chúng (thông qua TTCK).
Chứng quyền (Warrants) là quyền cho phép các cổ đông mua một số cổ
phần nhất định theo một mức giá xác định trong một thời hạn tương đối lâu
(hàng năm). Chứng quyền tương tự quyền chọn mua, nhưng thời hạn của
chứng quyền dài hơn nhiều (hàng năm) trong khi thời hạn của quyền mua
của nền kinh tế.
Đối với doanh nghiệp, TTV có vai trò giúp các doanh nghiệp cải thiện
năng lực quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Đồng thời, tạo điều kiện đa dạng hóa các nguồn huy động và đầu tư vốn, giúp
nhà đầu tư chia sẻ và phân tán bớt rủi ro.
Thực tế đã chứng minh rằng, khu vực tài chính của một quốc gia sẽ
thêm hùng mạnh, dòng vốn được luân chuyển hiệu quả hơn nếu có thị trường
vốn vận hành tốt. Ngoài hệ thống ngân hàng đóng vai trò trung gian trong
việc huy động vốn và cho vay, các thị trường trái phiếu và cổ phiếu có thể
chuyển vốn một cách hữu hiệu từ các nhà đầu tư (kể cả người cư trú và người
nước ngoài) cho khu vực doanh nghiệp thông qua việc phát hành và kinh
doanh chứng khoán.
TTV vận hành tốt sẽ giúp người vay đa dạng hóa hình thức và nguồn
vốn. Người đi vay nhờ đó sẽ ít chịu rủi ro vốn bị đứt đoạn (ví dụ như tình
trạng ngân hàng họ vay vốn mất khả năng cung cấp) hoặc phải vay với giá
quá cao (khi có quá ít nguồn vốn). Tương tự như vậy, TTV phát triển đến
mức cao giúp nhà đầu tư đa dạng hóa các khoản đầu tư và từ đó loại bỏ các
rủi ro không đáng có.
Thị trường các chứng khoán được niêm yết cũng hết sức quan trọng để
định giá một cách hữu hiệu những thỏa thuận bảo hiểm phức tạp hơn cần thiết
cho việc quản lý các rủi ro trong khu vực ngân hàng và rộng hơn là trong nền
kinh tế. Ví dụ, các dạng thức phổ biến nhất của tiền tệ chỉ có thể được định
giá một cách hữu hiệu nếu có thị trường vận hành tốt và thuận lợi cho chứng
khoán nợ không chứa rủi ro. 20
1.2. Xu hướng phát triển TTV trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay
Tự do hoá TTV là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong nền kinh
tế thị trường và trong quá trình hội nhập tài chính giữa các nền kinh tế. Về
rủi ro tiềm ẩn.
1.3.1. Tình hình phát triển TTV và kinh nghiệm của Trung Quốc
TTCK Trung Quốc ra đời từ rất sớm nhưng phải đến khi thực hiện
chính sách mở cửa, cải cách nền kinh tế, thì việc phát hành trái phiếu, tín
phiếu, thực hiện cổ phần hóa DNNN mới có tác động tích cực đến TTCK.
Năm 1986, thị trường phi tập trung đầu tiên được mở cửa; sau đó, ngày
19/12/1990, SGDCK Thượng Hải ra đời, tiếp đến là SGDCK Thẩm Quyến
(3/7/1991). Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, TTCK Trung Quốc được
xem là tương đối hoàn thiện.
Trong quá trình phát triển TTV, Trung Quốc đã chú trọng xây dựng hệ
thống pháp luật làm khuôn khổ hoạt động cho thị trường. Khung pháp lý
TTCK của Trung quốc tương đối hoàn chỉnh và tiến bộ với văn bản pháp lý
cao nhất điều chỉnh hoạt động của TTCK là Luật chứng khoán (được ban
hành năm 1999). Về mặt tổ chức quản lý, Trung Quốc đã thành lập cơ quan
quản lý TTCK với hai bộ phận: Hội đồng chứng khoán Nhà nước và Ủy ban
Giám quản chứng khoán. Hệ thống giao dịch trên TTCK được tự động hóa
hoàn toàn và được quản lý chặt chẽ bằng hệ thống luật pháp. Sau gần 15 năm
hoạt động, TTCK Trung Quốc đã đạt được những thành tựu quan trọng, một
phần chủ yếu nhờ hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, thực thi nghiêm
minh và cơ cấu tổ chức hệ thống quản lý thị trường được cải tiến.
Về mặt tổ chức TTCK, chính sách tập trung hóa quản lý và kiểm soát
của chính phủ đối với thị trường là phương hướng quan trọng được chính phủ
Trung Quốc nỗ lực thực hiện. Trước năm 1992, TTCK chịu sự quản lý và
giám sát của chính quyền địa phương. Từ tháng 10/92 đến tháng 3/98, TTCK
chịu sự quản lý và giám sát đồng thời của Hội đồng Chứng khoán quốc gia
(SCSC) và Ủy ban Chứng khoán Trung Quốc (CRSC). Từ tháng 4/98, hai cơ 22
quan này được sát nhập (CSRC) và thống nhất quản lý, giám sát TTCK. Một
phát triển của chứng khoán hoá các khoản nợ. Một bước tiến cụ thể của Trung
Quốc trong kế hoạch này là đã ban hành Các quy tắc quản lý cho việc chứng
khoán hóa thí điểm các tài sản tín dụng vào tháng 4/2005; trong đó quy định
rõ các vấn đề liên quan đến trách nhiệm pháp lý của người được ủy thác khi
xảy ra thất thoát trong giao dịch, quyền truy đòi của nhà đầu tư và làm thế nào
ngăn chặn giao dịch nội gián liên quan đến chứng khoán hóa các khoản nợ.
Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu là giải pháp thiết thực và hữu ích
đố với hệ thống các NHTM. Trước hết, các NHTM sẽ giải phóng được một số
vốn lớn nằm trong quỹ dự phòng rủi ro, từ đó có thể bổ sung thêm nguồn vốn
quý giá để thực hiện các khoản vay mới. Ngoài ra, phương thức này sẽ tạo ra
sức cạnh tranh mới trên thị trường tài chính Trung Quốc, đặc biệt khi Trung
Quốc sẽ mở cửa thị trường tài chính vào cuối năm 2007. Việc chứng khoán
hóa các khoản nợ xấu sẽ giúp các NHTM Trung Quốc gia tăng được lợi
nhuận bằng cách tái bố trí lại các khoản cho vay của mình. Một ngân hàng có
thể cho vay theo lãi suất thị trường, sau đó chứng khoán hóa các khoản vay
này ở một lãi suất thấp hơn; cuối cùng, các NHTM Trung Quốc sẽ có một
cách thức chia sẽ rủi ro tín dụng mới. Thông thường, các ngân hàng sẽ phân phối
lại rủi ro tín dụng bằng cách cân đối giữa các khoản cho vay và các khoản tiền
gửi. Thay vì vậy, khi thực hiện chứng khoán hóa, các ngân hàng có thể chuyển
giao phần rủi ro tín dụng này cho các nhà đầu tư chứng khoán. Chính phủ Trung
Quốc đã thử nghiệm nhiều biện pháp khác nhau để xử lý nợ xấu, nhưng cuối
cùng, thực tiễn từ Trung Quốc cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa đến
kết luận là phương thức chứng khoán hóa các khoản nợ là một biện pháp thích
hợp và tốt nhất để xử lý nợ xấu của các hệ thống tài chính.
Đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc là trường hợp
điển hình thực hiện hội nhập quốc tế khu vực ngân hàng thông qua các cam
kết trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Tiến trình hội nhập quốc tế của
Trung Quốc được tiến hành từng bước và được hỗ trợ bằng các chương trình