Phát triển ngành chè Việt Nam trong qúa trình hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 12


PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Chè là loại cây công nghiệp dài ngày được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi
phía Bắc và Lâm Đồng. Sản xuất chè trong nhiều năm qua đã đáp ứng được nhu
cầu về chè uống cho nhân dân, đồng thời còn xuất khẩu đạt kim ngạch hàng
chục triệu USD mỗi năm. Tuy có những thời điểm giá chè xuống thấp làm cho
đời sống người dân trồng chè gặp nhiều khó khăn, nhưng nhìn tổng thể cây chè
vẫn là cây giữ vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân và góp phần tạo
việc làm tăng thu nhập cho một bộ phận đáng kể nhân dân trung du miền núi,
vùng cao, vùng xa và góp phần bảo vệ môi sinh. Vì vậy phát triển ngành chè là
vấn đề đang được coi trọng, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp nói
riêng và của nền kinh tế nước ta nói chung.
Trước yêu cầu phát triển của ngành kinh tế, đặc biệt là trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, để tồn tại và phát triển vững chắc đòi hỏi ngành công
nghiệp chè phải có những bước chuẩn bị thích hợp. Việc phân tích đánh giá thực
trạng nhằm làm rõ những thành tựu và hạn chế của ngành công nghiệp chè cũng
như đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển ngành chè Việt Nam
trong thơì kỳ hội nhập kinh tế quốc tế là hết sức cần thiết.
Đã có một số công trình nghiên cứu nhằm phát triển ngành chè Việt Nam,
cùng với sự phát triển của ngành chè. Đó là:
- Đề tài nghiên cứu khoa học:“ Định hướng- giải pháp phát triển sản xuất
chè đến năm 2010” của TS. Nguyễn Kim Phong- Tổng giám đốc Tổng
công ty chè Việt Nam Bộ NN&PTNT. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra
kiến nghị đối với Nhà nước về tổ chức quản lý và chính sách khuyến
khích sản xuất chè ở nước ta. Tuy nhiên, công trình cũng chưa đề cập
sâu những giải pháp để phát triển ngành chè Việt Nam trong điều kiện
hội nhập.
- Đề tài khoa học cấp Bộ: “ Sản xuất và xuất khẩu chè thực trạng và giải
pháp” của tác giả PGS.TS. Nguyễn Sinh Cúc; Tác giả đưa ra việc triển
78

79
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp luận
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các phương pháp cụ thể: Thống kê, hệ
thống, tổng hợp, phân tích, liệt kê... để làm sáng tỏ vấn đề.
5. NHỮNG ĐÓNG GÓP
- Đưa ra sự phân tích toàn diện thực trạng của ngành chè Việt Nam.
- Đưa ra một số kiến nghị, đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển
ngành chè Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được
chia làm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về ngành chè .
Chương 2: Thực trạng sản xuất chè Việt Nam .
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển ngành chè Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
80
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHÈ
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Lịch sử ra đời và phát triển ngành chè
Cây chè là cây có nguồn gốc từ Trung Quốc và đã được truyền bá ra khắp
thế giới. Nó có lịch sử từ rất lâu đời, từ khi phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát
triển đến nay đã có gần 4000 năm. Do đặc tính sinh trưởng, sự giao lưu văn hoá
giữa các dân tộc nên cây chè đã du nhập vào các nước trên thế giới từ khoảng
3000 năm trước. Các nước trên thế giới đã học được cách trồng và chế biến của
người Trung Quốc để phát triển các vườn chè trồng phân tán rải rác và hái lá để
uống. Đến những năm cuối của thế kỷ XX thì ngành chè đã thực sự phát triển,
đã có trên một nửa dân số thế giới uống chè. Hầu hết ở các nước đều có người
uống chè, trong đó có khoảng 160 nước có nhiều người uống chè và với thị hiếu

Chè đen BOP: Đen tương đối nâu, lọt sàng từ 10-14, đồng đều, nước đỏ
nâu có viền vàng
Chè đen BP: Đen tương đối nâu, lọt sàng từ 14-24, đồng đều, nước đỏ nâu
đậm có viền vàng.
Chè đen OF: Đen tương đối nâu, nhỏ, lọt sàng từ 24-40, nước đỏ nâu đậm.
Chè đen PF: Đen tương đối nâu, nhỏ lọt đều, lọt sàng 40-50, nước đỏ nâu
đậm.
Chè đen D: Đen tương đối nâu, nhỏ đều, sạch, lọt sàng 50, nước đỏ nâu tối.
Chè đen OTD gồm có 7 loại: BOP, FBOP, P, PS, BPS, F và D.
BOP: Xoăn, tương đối đồng đều, đen tự nhiên, có ít tuyết, nước màu nâu
đỏ sáng có viền vàng
FBOP: Nhỏ, có mảnh gẫy của OP và P, có ít tuyết.
P: Tương đối xoăn đều, có lẫn mảnh gẫy của PS; nước có màu đỏ nâu
sáng, có viền vàng.
PS: Tương đối đều, màu đen nâu, có lẫn mảnh nâu, nước có màu đỏ nâu.
82
BPS: tương đối đều, có lẫn mảnh gẫy của PS, màu đen nâu, nước có màu
đỏ nâu nhẹ.
F: Nhỏ đều, đen nâu, nước có màu đỏ nâu đậm.
Chè ướp hương: Đây là loại chè được ướp với các loại hương như hương
nhài, hương sen, hương ngâu.
Chè hoà tan, túi lọc: Được ưa chuộng ở Phương Tây
Chè sâm, chè chữa bệnh...
Trên đây là một số loại chè chính được sản xuất và tiêu dùng trên thế giới.
Trong đó có 2 loại chủ yếu là chè CTC và OTD còn các loại khác chiếm tỷ lệ
không đáng kể. Tỷ lệ chè CTC và OTD được sản xuất ra trên thế giới là 60: 40.
Đối với vùng Nam Á thì tỷ lệ này là 70:30 còn với Việt Nam thì tỷ lệ này là 10:
90 vì một số bạn hàng của Việt Nam như Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, I-rắc, Iran lại rất
thích các loại chè đen OTD. Chỉ có một số nước như Nhật Bản, Đài Loan và
một số nước Châu Á khác là ưa thích loại chè xanh.

quá cầu. Số lượng xuất khẩu cao hơn nhập khẩu. Các nước nhập khẩu lớn đều
giảm số lượng chè đen nhập khẩu. Do cung có xu hướng vượt cầu nên giá bình
quân tính theo đồng USD ở hầu hết các thị trường đấu gía đều giảm nhưng
không đáng kể. Theo cơ quan nông lương Liên Hiệp Quốc cho hay giá chè thế
giới chỉ giảm 2% trong các năm từ năm 1993-1995 và 2001-2003.
Bảng 1.1: Giá chè bình quân trên thế giới
Năm 2001 2002 2003 2004 2005
Giá (USD/kg) 1.42 1.89 2.02 1.95 1.82
Nguồn: ( Thời báo kinh tế Việt Nam- Tháng 5 năm 2005).
* Tiêu thụ và nhập khẩu:
Tốc độ tăng tiêu thụ chè đen toàn cầu trong giai đoạn 2003-2014 dự báo chỉ
sẽ đạt 1.2%/năm so với mức tăng 2.2%/năm của giai đoạn 1993-2003, đạt 2.67
triệu tấn vào năm 2014.
Mức tăng tiêu thụ giảm mạnh tại các nước sản xuất do mức tăng sản lượng
thấp hơn nhu cầu tạo nguồn hàng xuất khẩu. Lượng tiêu thụ nội địa chè đen tại
các nước sản xuất dự báo sẽ tăng khoảng 1.3%/năm, đạt 1.33 triệu tấn vào năm
84
2014. Tỷ trọng các nước sản xuất trong tổng mức tiêu thụ chè đen toàn cầu dự
báo sẽ giảm từ 52% năm 2005 xuống còn 49% trong năm 2014. Mức tiêu thụ
tăng lên chủ yếu ở các nước viễn đông trong khi các nước sản xuất chè ở Châu
Phi tăng 1.5%/năm, đạt 805.7% nghìn tấn vào năm 2014, tức là khoảng 80% sản
lượng nội địa. Tiêu thụ của Indonesia dự báo sẽ tăng 1.6%/năm, đạt 57 nghìn tấn
trong khi tiêu thụ nội địa của Băngladet và Xrilanca tăng 3.0%/năm và
2.5%/năm, đạt 48.4% và 17.5 nghìn tấn. Nhập khẩu ròng chè đen toàn cầu dự
báo sẽ tăng 1.2%/năm, đạt 1.34 triệu tấn vào năm 2014, trong đó nhập khẩu của
các nước CIS (chủ yếu là Nga) và Pakistan đạt mức tăng tương ứng 3.0%/năm
và 3.4%/năm, lên tới 342 nghìn tấn và 120.3 nghìn tấn vào năm 2014. Nhập
khẩu vào EU giảm nhẹ do mức tăng nhập khẩu của Đức, Hà lan và Pháp không
đủ bù đắp mức giảm nhập khẩu mạnh của Anh.
Trong những năm gần đây theo FAO thì có 2 khu vực đó là các nước phát

xuất khẩu toàn cầu.
Xuất khẩu chè xanh toàn cầu dự báo sẽ tăng 2.8%/ năm, đạt 275 nghìn tấn
trong đó xuất khẩu của Trung Quốc đạt 242 nghìn tấn chiếm 88% tổng lượng
xuất khẩu chè xanh toàn cầu. Xuất khẩu của Việt Nam và Indonesia dự báo sẽ
đạt mức tương ứng 28 nghìn tấn và 58 nghìn tấn vào năm 2014.
Bảng: 1.2 :
Dự báo sản xuất và xuất khẩu chè đen thế giới năm 2014 (1000 tấn)
Sản lượng Xuất khẩu
Thực
tế
Dự
báo
Tốc độ tăng %
Thực
tế
Dự
báo
Tốc độ tăng %
2003 2014 1993/03 2003/2014 2003 2014 1993/03 2003/2014
Thế giới 2244 2706 1,6 1,7 1129 1315 1,15 1,4
Kênina 291 379 3,0 2,4 268 358 3,3 2,7
Malauy 42 49 0,5 1,4 42 48 1,6 1,2
Uganđa 36 38 10,4 0,4 34 43 11,6 2,2
Tandania 29 33 2,2 1,1 20 21 0,5 0,2
Xrilanka 302 370 2,5 1,9 289 330 3,0 1,2
Ấn độ 848 1010 1,1 1,6 170 211 -0,03 2,0
86
Indônêsia 128 150 1,6 1,5 85 88 -2,6 0,4
Trung Quốc 72 46 -4,4 -4,0 41 16 -6,5 -8,2
Bănglađét 57 68 1,5 1,7 12 12 -7,8 0,2

doanh mang tính toàn cầu. Ngoài ra cánh cửa xuất nhập khẩu được mở rộng cho
phép các nước có nhiều sự lựa chọn hơn, hàng hoá và dịch vụ nhiều hơn- một
phạm vi chất lượng rộng hơn. điều này đòi hỏi các nước phải có các biện pháp
nâng cao chất lượng, giảm giá thành, quản lý chặt chẽ dư lượng độc hại trên chè,
maketting, tổ chức quản lý và nâng cao vai trò của hiệp hội ngành hàng.
87
1.1.2. Các điều kiện cơ bản để phát triển ngành chè
Về mặt tự nhiên xã hội: Cây chè là cây trồng nhiệt đới rất thích hợp với điều
kiện thổ nhưỡng, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều với hệ số dao động nhiệt độ giữa
ban ngày và ban đêm lớn (8-12
0
C). Ngoài ra độ cao và địa hình cũng có ảnh
hưởng đến chất lượng của chè. Kinh nghiệm sản xuất chè lâu đời của thế giới
cho thấy các loại danh trà chủ yếu là được trồng trên miền núi cao. Những nơi
này có nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, ánh sáng tán xạ cao, biên độ ngày đêm cao. Vì
vậy chỉ những nước có điều kiện thiên nhiên ưu đãi mới có thể trồng và phát
triển được cây chè.
Mặt khác, Cây chè cũng có nhiều tác dụng đến sức khoẻ của người tiêu
dùng, uống trà không những làm cho tinh thần được sảng khoái, giải toả được
nỗi lo toan thường nhật làm phong phú thêm đời sống tinh thần mà thực tế đang
diễn ra là sự lên ngôi của những sản phẩm chăm sóc sức khoẻ từ cây chè. Do
vậy, uống trà đang là một thứ nước uống phổ biến được hầu hết mọi người trên
thế giới ưa chuộng đã làm cho cầu về chè tăng lên và kích thích được sự phát
triển ngành chè.
Điều kiện về khoa học kỹ thuật: Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu uống
trà ngày càng cao. Vì vậy nhân tố khoa học kỹ thuật là rất quan trọng nó cần đảm
bảo được tính ổn định hoàn toàn của các thành phần hoạt tính cũng như đảm bảo
không có các vi sinh vật, vi khuẩn và nấm mốc để đưa ra những sản phẩm có chất
lượng cao phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng trên thế giới.
Phát triển ngành chè cần một lượng vốn lớn để đầu tư cho các lĩnh vực sản

đất trống đồi trọc, chống sói mòn. Ngoài ra về mặt y học thì chè là thứ nước
uống giải khát phổ biến, có tác dụng chống được lạnh, khắc phục sự mệt mỏi
của cơ thể, làm cho tinh thần minh mẫn, sảng khoái trong thời gian làm việc
căng thẳng, chất catesin của chè xanh còn có chức năng phòng ngừa bệng ung
thư bằng cách củng cố hệ thống miễn dịch, phòng ngừa bệnh cao huyết áp,
chống lão hoá.
Như vậy phát triển ngành chè đóng góp vào tích luỹ của nền kinh tế, với
trình độ khoa học công nghệ cao trở thành nhân tố then chốt thúc đẩy năng suất
89
lao động và làm tăng tích luỹ của ngành kinh tế khác. Thực tế, ngành chè cũng
đang là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
1.2. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN
NGÀNH CHÈ VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Trên thế giới chỉ có 30 nước là có điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng chè
trong khi đó ở hầu hết các quốc gia đều dùng chè với mức độ khác nhau. Vì thế
các nước có ngành chè phát triển đã tận dụng ưu thế đó để phát triển sản xuất.
Chẳng hạn như ở Trung Quốc, là một nước phát hiện và sử dụng chè sớm nhất
trên thế giới và chè đã được coi là một trong bảy thành phẩm quan trọng của đời
sống nhân dân Trung Quốc. Nhờ có những ưu thế đó mà Chính Phủ Trung Quốc
đã rất quan tâm đến việc xây dựng các cơ sở nghiên cứu chè, xây dựng các nhà
máy chế biến chè có năng suất chất lượng cao, ngoài ra Chính phủ cho xuất bản
các tạp chí, sách tham khảo và phổ biến những tài liệu khoa học kỹ thuật trồng
và chế biến chè đến tận tay người nông dân. Đặc biệt Trung Quốc còn rất chú
trọng phát triển văn hoá trà, tổ chức các lễ hội văn hóa trà. Điều này đã thu hút
được rất nhiều các du khách trong và ngoài nước do đó nâng cao được vị thế của
chè Trung Quốc trên thị trường thế giới. Ngoài ra ở Trung Quốc còn đào tạo
những đội ngũ tiếp thị, chuyên viên thị trường thành thạo, họ đã mở các văn
phòng đại diện ở các nước và các vùng, họ đã dành một khoản chi phí rất lớn
cho việc quảng cáo và tìm kiếm thị trường.
Ở Nga cũng là một nước sản xuất chè lớn và cũng là một trong những

Sở dĩ các nước trên được coi là thế giới của chè là vì ngành chè cũng
được coi là nền tảng của khu vực nông thôn và thu hút nhiều lao động. Vì thế
các nước này đã không ngừng cải tiến về mặt sản xuất, chế biến, công nghệ,
thiết bị chế biến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm mà đặc biệt phải nghiên
cứu về mở rộng thị trường chè trên thế giới. Như vậy để phát triển ngành chè thì
Nhà nước Việt Nam có thể học hỏi được một số kinh nghiệm về việc phát triển
ngành chè.
Về khoa học kỹ thuật: Chính Phủ cần coi cây chè là cây có nhiều tiềm
năng, do đó cần có những viện nghiên cứu chè chuyên nghiên cứu về giống chè,
91
phát triển công nghệ đóng gói và đa dạng hoá sản phẩm, khả năng phát triển thị
trường chè với các thiết bị hiện đại và các phương pháp tiếp cận tiên tiến để đưa
ra một số vấn đề có liên quan đến lợi ích. Đó là:
- Phát triển trồng chè
- Tác động của phân hoá học tới đất và quản lý vườn chè
- Cải thiện các chỉ số về thu hái chè
- Cơ khí hoá sản xuất
- Cải tiến về đóng gói chè
- Tác dụng của uống chè với sức khoẻ
Về phát triển xã hội: Chính phủ cần đưa ra và thưc hiện tốt việc cải thiện
chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chăm lo tốt về đời sống vật chất và tinh thần của
người lao động, cải thiện điều kiện làm việc và điều kiện sống của người lao
động và gia đình họ.
Thiết lập các trung tâm bán đấu giá chè, tạo nên sự năng động trên thị
trường, thu hút các đối tác tham gia mua bán chè, mở các chi nhánh ở các nước
tiêu thụ chè chính nhằm thực hiện chiến lược maketting của mình.
92
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT CHÈ Ở VIỆT NAM
2.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH CHÈ VIỆT NAM

nông trường: Mộc châu, Yên Mỹ, Sông Lô, Than Uyên, Quyết Thắng, Bắc
sơn...Thời kỳ này từ việc quản lý đến tổ chức đều được sắp xếp từ Trung ương
như giao kế hoạch, định giá, việc định giá lỗ lãi có nhà nước lo cho nên người
trồng chè và các cơ sở chế biến chè, các nông trường chủ yếu tập trung vào việc
thực hiện kế hoạch sản xuất và giao nộp sản phẩm. Trong thời kỳ này, cả năng
suất và sản lượng đều tăng chậm.
Bảng 2.1: Sản xuất chè thời kỳ 1975 - 1986
Năm Diện tích (Nghìn ha) Năng suất (Tạ/ha) Sản lượng (Tấn)
1975 38.8 4.6 17.840
1976 38.7 4.9 18.963
1977 43 4.2 18.060
1978 48 4.0 19.200
1979 48 4.6 22.080
1980 46 4.4 20.240
1981 44 4.7 20.680
1982 48 5.2 24.960
1983 49 4.9 24.010
1984 49 5.5 26.950
1985 50 5.5 27.500
1986 58 5.1 29.580
( Nguồn: Báo cáo của Vinatea)
- Thời kỳ 1979-1986.
Năm 1979 đánh dấu một bước chuyển biến mới về tổ chức, quản lý của
ngành chè Việt Nam. Trong khu vực kinh tế quốc doanh, nông nghiệp và công
nghiệp (trồng trọt và chế biến chè) đã được gắn kết lại vói nhau. Liên hiệp các xí
nghiệp chè Việt Nam quản lý ở cấp ngành, liên hiệp các xí nghiệp chè Lâm
94
Đồng được quản lý ở cấp tỉnh theo quyết định 75/CP và 224/CP. Đây là thời kỳ
thử nghiệm kinh tế, thành lập các xí nghiệp nông công nghiệp chè và xí nghiệp
liên hiệp công nông nghiệp chè ở các vùng chè tập trung, đã hợp nhất một vài xí

Đây là thời kỳ chuyển biến mạnh của người làm chè từ cơ chế bao cấp,
cung ứng và giao nộp sản phẩm sang cơ chế sản xuất kinh doanh tự trang trải, tự
chịu trách nhiệm về lỗ, lãi theo tinh thần đổi mới của Đại hội Đảng VI và các
hội nghị Trung Ương Đảng. Liên hiệp các xí nghiệp chè Việt Nam đã tiến hành
tổ chức lại bộ máy nhằm làm cho quá trình sản xuất của toàn bộ liên hiệp được
cân đối, có hiệu quả, sử dụng được đầy đủ tư liệu sản xuất và lao động để khai
thác tối đa tiềm năng.
Từ 47 đầu mối trực thuộc, liên hiệp đã sắp xếp lại còn 29 đơn vị sản xuất
và dịch vụ, trong đó có 23 xí nghiệp nông công nghiệp chè với qui mô hợp nhất
một nông trường với một nhà máy chế biến và 6 đơn vị dịch vụ là: Công ty
XNK và Đầu tư phát triển chè, công ty dịch vụ sản xuất và đời sống, công ty xây
lắp, nhà máy cơ khí chè, trung tâm kiểm tra chất lượng chè. Liên hiệp chịu trách
niệm phát triển các đơn vị mới, đào tạo cán bộ, cung ứng tiêu thụ chè trong
nước, xuất nhập khẩu và đối ngoại, nghiên cứu và triển khai tiến bộ khoa học kỹ
thuật, hoạch định mục tiêu phát triển chung toàn ngành, điều phối toàn bộ hoạt
động của liên hiệp. Năm 1988, hiệp hội chè Việt Nam ra đời (VITAS Viêtnam
Tea association) đã có tác dụng tốt, tham gia tư vấn cho Bộ Nông nghiệp và các
cơ quan nhà nước trong việc xây dựng chiến lược phát triển ngành chè, các chủ
trương khuyến khích phát triển sản xuất và tiêu thụ chè.
Cho đến nay ngành chè của Việt Nam đang rất phát triển, cả nước đã có 34
địa phương trồng chè và trên 600 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè với
hơn 2000 thương hiệu khác nhau, hiện tại Việt Nam là một nước xuất khẩu chè
lớn thứ 7 trên thế giới. Sản phẩm chè của Việt Nam đã có mặt tại 57 quốc gia và
vùng lãnh thổ, Việt Nam cũng chế biến được 15 loại chè khác nhau, tuy nhiên
thì xuất khẩu phần lớn vẫn là chè đen (gần 60%) còn lại là chè xanh và một số ít
các loại khác.
96
2.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH CHÈ
Ở VIỆT NAM
2.2.1. Điều kiện tự nhiên

cao. Đất ở vùng này có kết cấu và tầng dày tốt.
2.2.2 Vốn đầu tư
Nguồn vốn chính là tài sản, là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho các
doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh. Để phát triển sản xuất chè, ngoài
việc cần vốn để đầu tư cho trồng mới và thâm canh chè, đầu tư cho công nghiệp
chế biến là cực kỳ quan trọng. Tổng vốn đầu tư trong giai đoạn từ năm 2001 đến
2005 được chia như sau:
98
B ảng 2.2 : Cơ cấu phân bổ vốn đầu tư cho phát triển ngành chè
Đơn vị: Tỷ đồng
Hạng mục Giai đoạn 2001-2005
Tổng vốn đầu tư 3.369
Trong đó:
Cho nông nghiệp 1.509
Trong đó: Cho trồng mới, chăm sóc 859
Cho công nghiệp 1.001
(Nguồn: Tổng công ty chè Việt Nam)
Ngoài ra, Nhà nước còn huy động nguồn vốn tự có trong nhân dân bằng
cách, Nhà nước sẽ giao quyền sử dụng đất cho người trồng chè còn người dân
bỏ vốn ra để phát triển cây chè, như vậy khi người dân tự bỏ vốn ra để sản xuất
thì họ sẽ có trách nhiệm hơn với công việc họ đang làm.
2.2.3. Công nghệ sản xuất
Do lượng cung chè lớn nên ngành chè Việt Nam đã có định hướng xuất
khẩu từ những năm sau giải phóng và hiện nay thì việc sản xuất của ngành chè
càng được chú trọng và tạo thuận lợi cho ngành chè phát triển.
Kỹ thuật canh tác: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất
lượng cây chè. Nếu áp dụng khoa học kỹ thuật tốt sẽ tạo điều kiện tăng năng
suất, nâng cao chất lượng sản phẩm chè. Đã có nhiều công trình nghiên cứu và
tổng kết từ thực tiễn về kỹ thuật trồng chè. Để đảm bảo chống sói mòn, trồng
được nhiều cây chè đồng đều cho năng suất cao, chất lượng tốt và vườn chè

Nhật Bản, Ấn Độ, Anh, Bỉ...) nên đã tạo ra được những sản phẩm có chất lượng
và có thể đảm bảo được vững chắc các mục tiêu tăng trưởng.
2.2.4. Về chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố đó là bản thân của sản
phẩm chè phải đúng với phẩm cấp, mẫu mã đã chào bán. Đây là đặc điểm điểm
rất quan trọng nhất là khi ta ký hợp đồng bán hàng cho các hãng lớn vì nếu chất
100
lượng sản phẩm không ổn định thì sẽ ảnh hưởng tới kế hoạch sản xuất của họ,
các hãng lớn nhập chè rời để làm nguyên liệu phục vụ việc chế biến và đưa ra
thị trường các loại chè nổi tiến như Lipton (của hãng Unilever) theo một bí
quyết công nghệ riêng và một kế hoạch bán hàng riêng của họ, vì vậy với chất
lượng sản phẩm phải đi đôi với cơ cấu mặt hàng hợp lý để có giá bán tối ưu từ
đó đạt được lợi nhuận tối đa. Cơ cấu giữa chè đen CTC, OTD, chè xanh,chè
hương và các loại chè khác cần phải được nghiên cứu sản xuất theo yêu cầu của
thị trường, hướng vào phục vụ tiêu dùng. Có như vậy mới đạt được lợi nhuận
cao nhất, ngoài ra chất lượng sản phẩm tốt sẽ dẫn đến sự tin tưởng cao từ phía
khách hàng và giá cả sản phẩm chè cũng sẽ cao và ổn định.
2.2.5. Hệ thống chính sách hỗ trợ của nhà nước
Để việc phát triển chè đạt được mục tiêu mà ngành chè đã đặt ra thì cần
phải có một hệ thống các chính sách hỗ trợ phát triển chè. Như vậy yếu tố chính
sách là yếu tố không thể thiếu được trong phát triển sản xuất chè ở Việt Nam.
Sau đây là một số chính sách tiêu biểu:
Chính sách ruộng đất: Ở nông thôn sau nghị quyết 10 của Bộ Chính trị,
ruộng đất được giao quyền sử dụng lâu dài cho nhân dân (10-20) năm. Bởi vậy
đây là yếu tố quan trọng làm cho người dân yên tâm sản xuất còn ở các đơn vị
Quốc doanh, nhiều đơn vị chia đất, khoán vườn chè cho công nhân. Với mỗi lao
động giao cho 0.65-1.7 ha với nhiệm vụ bảo đảm sản lượng theo mức khoán,
giao nộp cho nông trường theo giá thoả thuận. Phía nông trường, ngoài cung
ứng vật tư cho công nhân còn cử các cán bộ hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho họ.
Một số nông trường thừa đất giao khoán cho dân làm cũng theo chế độ như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status