ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
QUÁCH XUÂN DŨNG
HỢP TÁC KINH TẾ TRONG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM - LÀO - CAMPUCHIA:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Hà Nội - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong bản luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào. Tác giả luận văn Quách Xuân Dũng
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU ii
MỞ ĐẦU 1
2.1.1. Đặc điểm của khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia.
28
2.1.2. Quá trình phát triển của khu vực Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia. 31
2.2. Thực trạng hợp tác kinh tế trong vùng Tam giác phát triển từ 1999 đến nay. 35
2.2.1. Thực trạng hợp tác kinh tế trong vùng Tam giác phát triển từ 1999 đến
2004. 35
2.2.2. Thực trạng hợp tác kinh tế trong vùng Tam giác phát triển từ 2004 đến
nay. 37
2.3. Đánh giá chung về kết quả, hạn chế và tác động của hợp tác kinh tế Tam giác
phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia. 52
2.3.1. Kết quả của hợp tác kinh tế Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia. 52
2.3.2. Hạn chế của hợp tác kinh tế Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia. 58
2.3.3. Tác động của hợp tác kinh tế Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia. 59
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HỢP
TÁC KINH TẾ TRONG TAM GIÁC PHÁT TRIỂN VIỆT NAM - LÀO -
CAMPUCHIA 63
3.1. Mục tiêu phát triển hợp tác kinh tế Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia. 63
3.2. Định hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy hợp tác kinh tế Tam giác phát triển
Việt Nam - Lào - Campuchia. 65
3.2.1. Định hướng thúc đẩy hợp tác kinh tế Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia. 65
3.2.2. Giải pháp thúc đẩy hợp tác kinh tế Tam giác phát triển Việt Nam - Lào -
Campuchia. 66
22. UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
23. UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc
24. VLC Việt Nam, Lào, Campuchia
25. WB Ngân hàng thế giới
26. WTO Tổ chức thương mại thế giới
27. XHCN Xã hội chủ nghĩa
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
STT Số hiệu Tên bảng Trang
1.
Bảng 2.1
Tốc độ tăng trưởng GDP của bốn tỉnh Tây
Nguyên và Bình Phước
38
2.
Bảng 2.2
Cơ cấu kinh tế của bốn tỉnh Tây Nguyên
và Bình Phước 2007-2011
39
3.
Bảng 3.1 Dự kiến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
66 1
MỞ ĐẦU
triển là khai thác tiềm năng thế mạnh, các nguồn lực của mỗi nước trong khu vực
nhằm mục tiêu tăng trưỏng kinh tế nhanh và bền vững, rút ngắn khoảng cách phát
triển so với các vùng khác của mỗi nước, tạo động lực cho cả vùng và các khu vực
khác của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.
Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia là một khu vực biên giới
của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Phạm vi của Tam giác phát triển này lúc
đầu bao gồm 10 tỉnh, đó là Ratanakiri, Stung Treng, Mondulkiri ở miền Đông
Campuchia, Attapu, Salavan, Xekong ở miền Nam Lào, Kon Tum, Gia Lai, Đắk
Lắk và Đắk Nông ở Tây Nguyên Việt Nam. Sau đó, tại Hội nghị Ủy ban điều phối
chung 3 nước về Tam giác phát triển tại Đắk Lắk ngày 21-22 tháng 12 năm 2009, ba
nước nhất trí bổ sung tỉnh Bình Phước (Việt Nam), tỉnh Kratie (Campuchia) và tỉnh
Champasak (Lào) vào Tam giác phát triển. Hiện nay, Tam giác phát triển là một khu
vực gồm 13 tỉnh với tổng diện tích tự nhiên là 145.672km
2
, tổng dân số năm 2011
khoảng 6.548 nghìn người (mật độ dân số 45 người/km
2
), trong đó:
- Vùng các tỉnh thuộc Tây Nguyên của Việt Nam bao gồm Kon Tum, Gia
Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Bình Phước với diện tích tự nhiên 51.740 km
2
, dân số
năm 2011 là 4.968 nghìn người, chiếm 35,5% diện tích tự nhiên và 75% dân số toàn
khu vực, mật độ dân số 45 người/km
2
.
- Vùng các tỉnh Đông bắc của Campuchia bao gồm tỉnh Mondulkiri, tỉnh
Rattanakiri, tỉnh Stung Treng và tỉnh Kratie với diện tích tự nhiên khoảng 47.246
km
phương trong vùng. Bằng cách tạo ra sự liên kết, phụ thuộc lẫn nhau của các nền
kinh tế địa phương và có thể giúp hạn chế những rủi ro tranh chấp xảy ra gây ảnh
hưởng đến hợp tác kinh tế của các bên cũng như của cả tam giác Việt Nam - Lào -
Campuchia.
Phát triển Tam giác phát triển tạo điều kiện tăng cường gìn giữ an ninh trong
nội bộ các quốc gia nhờ lợi ích kinh tế mà nó mang lại. Ở phần lớn các quốc gia,
nhất là ở Đông Nam Á, vùng biên giới chủ yếu là khu vực sinh sống của các dân tộc
ít người. Lợi ích kinh tế thu được từ việc mở rộng thương mại qua biên giới và đầu
tư sẽ giúp phát triển vùng biên - nơi còn vô vàn khó khăn và thường ít nhận được sự
quan tâm đầu tư của nhà nước và các nhà đầu tư nước ngoài. Cải thiện mức sống
người dân và đem lại thu nhập cao hơn cho họ chắc chắn sẽ góp phần giải quyết các
tranh chấp bắt nguồn từ xung đột lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế.
Phát triển Tam giác phát triển còn tạo điều kiện đảm bảo nâng cao đời sống
người dân địa phương, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em trong khu vực, thúc đẩy hợp tác
ngăn chặn tội phạm xuyên quốc gia, các tệ nạn xã hội…
4
Để có luận cứ khoa học về phát triển Tam giác phát triển không chỉ phải làm
rõ cơ sở khách quan của việc phát triển kinh tế xã hội vùng này mà còn cần phân
tích đầy đủ thực trạng hợp tác, các tác động nội vùng và cả vùng ở cả khía cạnh tích
cực và tiêu cực, nhất là khi khu vực này đang triển khai các chương trình hợp tác
quốc tế với quy mô lớn (hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông, hợp tác các nước
ASEAN mới (CLVM) và trong khuôn khổ các hợp tác với ASEAN). Thực tế cho
thấy, việc thực hiện quy hoạch phát triển vùng này sẽ khó thực hiện hiệu quả, nếu
không đánh giá đầy đủ thực trạng và dự báo được sự phát triển của vùng, trong đó
có cả việc thu hút sự giúp đỡ hợp tác của các tổ chức quốc tế và của các nước lớn.
Hơn nữa, nghiên cứu vùng tam giác phát triển sẽ góp phần vào việc xây dựng quy
hoạch phát triển chung của các nước trong đó có Việt Nam cả về trung hạn và dài
hạn.
Từ những lý do trên việc thực hiện luận văn “Hợp tác kinh tế trong tam giác
đủ và có tính khả thi cao. Nhìn chung, đây là một trong số ít những công trình trực
tiếp nghiên cứu đến Tam giác phát triển có giá trị cao. Kết quả đáng ghi nhận là
bước đầu đã phác họa được bức tranh tổng thể về tam giác phát triển - Một mô hình
hợp tác còn khá mới mẻ đối với các nước Đông Dương. Tuy nhiên, bàn luận về cơ
sở lý luận và thực tiễn, nhất là vấn đề phát triển kinh tế - xã hội thì còn khá mờ nhạt,
nếu không muốn nói là hầu như chưa đề cập tới. Lý do rất dễ nhận thấy là thời gian
quá ngắn để các báo cáo này có thể đánh giá được thực trạng hợp tác phát triển của
vùng này.
Nhóm công trình nghiên cứu thứ hai là những bài viết, đề tài của các học giả
(chủ yếu là của Viện nghiên cứu Đông Nam Á). Trong đó, nổi bật là công trình
nghiên cứu cấp Bộ: “Điều tra cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội của Tam giác phát triển
Việt Nam - Lào - Campuchia ” do Phạm Đức Thành, làm chủ nhiệm. Công trình
thực hiện trong hai năm (2006 - 2007). Một số giải pháp góp phần ổn định và phát
triển ở Tây Nguyên hiện nay, Phạm Hảo - Hà Nội: Nhà Xuất bản Chính trị Quốc
gia, 2007. Những khía cạnh dân tộc - tôn giáo - văn hoá trong Tam giác phát triển
Việt Nam - Lào - Campuchia, Phạm Đức Thành, Vũ Công Quý - Hà Nội: NXB
6
Khoa học xã hội, 2009. Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ở Tây
Nguyên, Trương Minh Dục - Hà Nội: Nhà xuất bản CTQG, 2008.
Ngoài các báo cáo có giá trị được thảo luận tại hội thảo được tổ chức tại Hà
Nội với sự tham gia của các nhà khoa học ba nước, nhiều bài báo liên quan đến nội
dung trên đã được công bố trên các tạp chí. Các sách và bài báo đó giới thiệu một
cách tổng quát về Tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia, phân tích
những kết quả hợp tác ban đầu và nêu lên một số vấn đề cần giải quyết trong thời
gian tới. Các nội dung này đã được công bố trên Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á,
Kinh tế chính trị thế giới. Đặc biệt, báo cáo tổng quan đề tài cấp nhà nước: “Một số
vấn đề phát triển và quản lý phát triển kinh tế - xã hội Tam giác phát triển Việt Nam
- Lào - Campuchia ” do Nguyễn Duy Dũng chủ trì hoàn thành đầu năm 2010 đã có
nhiều đóng góp mới về nghiên cứu khu vực này.
châu Á để tìm kiếm bài học tham khảo phát triển khu vực Tam giác phát triển Việt
Nam - Lào - Campuchia.
- Phân tích thực trạng hợp tác kinh tế của Tam giác phát triển và làm rõ
những kết quả, hạn chế và tác động đối với quan hệ của 3 nước Việt Nam - Lào -
Campuchia nói chung, khu vực Tam giác phát triển nói riêng…
- Dự báo triển vọng và đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm
tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác kinh tế khu vực Tam giác phát triển hiện nay và
trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng hợp tác kinh tế trong Tam
giác phát triển cả ở hợp tác nội vùng và với bên ngoài.
- Phạm vi nghiên cứu :
Nghiên cứu vấn đề hợp tác kinh tế của tam giác phát triển với 13 tỉnh của ba
nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Thời gian nghiên cứu từ 1999 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
8
- Đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp nghiên cứu so sánh,
phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc nhằm thống kê, phân tích, so sánh nhằm
làm rõ hợp tác kinh tế trong khu vực Tam giác phát triển.
- Sử dụng phương pháp thống kê để rút ra những kết luận khoa học trong
việc đánh giá thực trạng hợp tác kinh tế Tam giác phát triển.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn hợp tác kinh tế của Tam giác
phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia và việc mở rộng quan hệ hợp tác trên nhiều
lĩnh vực của khu vực này.
- Trên cơ sở phân tích thực trạng hợp tác kinh tế Tam giác phát triển Việt
Nam - Lào - Campuchia sẽ đề xuất và gợi ý một số giải pháp thúc đẩy phát triển
hợp tác khu vực này hiện nay và trong thời gian tới.
hình là sự hình thành các quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế xuất hiện
muộn hơn nhiều. Cùng với sự phát triển QHQT, hội nhập quốc tế bắt đầu xuất hiện
trong quan hệ giữa các quốc gia. Hội nhập quốc tế bắt đầu diễn ra từ nửa cuối thế kỷ
XIX, tăng lên từ sau Chiến tranh Thế giới thứ I và đặc biệt mạnh mẽ sau khi kết
thúc Chiến tranh Lạnh. Cho đến nay, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn
trong đời sống quốc tế, chi phối mạnh mẽ mọi QHQT, ảnh hưởng sâu sẵc lên mọi
quốc gia. So với hợp tác, quy mô phổ biến của hội nhập cũng hạn chế hơn nhiều khi
không phải diễn ra ở khắp mọi nơi. Có thể nêu lên một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ
nhất, hội nhập là một quá trình kết hợp các đơn vị riêng rẽ vào một chỉnh thể mới.
Sự kết hợp này chính là sự vận động chủ yếu trong quá trình hội nhập. Đối với hội
10
nhập quốc tế, các đơn vị ở đây chính là chủ thể QHQT, đặc biệt là quốc gia. Thứ
hai, quá trình kết hợp nói trên dẫn đến sự hình thành chỉnh thể mới. Chỉnh thể ở đây
là một hệ thống với cơ cấu riêng, luật lệ riêng và những tương tác liên quốc gia mới.
Đó có thể là hình thức cộng đồng hay cơ quan liên quốc gia hoặc siêu quốc gia nào
đó. Thứ ba, khi tham gia vào chỉnh thể này, các quốc gia thường tự nguyện nhường
một phần chủ quyền của mình cho chỉnh thể này. Việc san sẻ một phần chủ quyền
nhằm đem lại quyền hành và tính hiệu lực cần thiết cho cơ cấu chung, đem lại cho
hệ thống những đặc tính mới có lợi cho các thành viên. Thứ tư, động cơ thúc đẩy
quốc gia tham gia hội nhập quốc tế chính là lợi ích cơ bản của quốc gia. Quốc gia
không tham gia hội nhập nếu lợi ích quốc gia bị vi phạm. Quốc gia cũng không tự
nguyện nhường một phần chủ quyền nếu điều đó có hại cho lợi ích của mình.
Từ các cơ sở trên, chúng ta có thể đi đến khái niệm hội nhập quốc tế như sau:
“Hội nhập quốc tế là quá trình kết hợp các quốc gia riêng rẽ vào một trạng thái của
chỉnh thể mới trên cơ sở đảm bảo lợi ích cơ bản của quốc gia”.
1.1.2. Phân loại hợp tác và hội nhập quốc tế
Sự phân loại hợp tác và hội nhập quốc tế giúp tìm hiểu các đặc tính khác
nhau của hai hiện tượng, hai xu thế quan trọng này. Điều này càng có ý nghĩa hơn
bởi đặc tính khác nhau quy định những tác động khác nhau trong QHQT. Đầu tiên
nhập chính trị. Ngoài ra, còn có hội nhập tổng thể là hội nhập đồng thời đa lĩnh vực.
+ Dựa theo quy mô không gian, có hội nhập toàn cầu và hội nhập khu vực.
+ Ngoài ra, còn có cách phân chia hội nhập căn cứ theo mức độ liên kết. Béla
Balassa (1928-1991) chia hội nhập ra làm 5 loại hay 5 giai đoạn hội nhập.
1. Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area): Bãi bỏ hàng rào thuế quan và
phi thuế quan giữa các nước thành viên với nhau.
2. Liên hiệp thuế quan (Custom Union): Các nước thành viên cùng quy định
mức thuế suất chung đối với các nước ngoài liên hiệp.
3. Thị trường chung (Common Market): Tự do lưu thông các yếu tố như lao
động, vốn… trong thị trường của các thành viên.
4. Liên hiệp kinh tế (Economic Union): Hoà hợp các chính sách kinh tế giữa
các nước thành viên.
12
5. Hội nhập kinh tế toàn bộ (Total Economic Integration): Thống nhất các
chính sách kinh tế, thiết lập thể chế chung, mức độ hội nhập nhất định về chính trị.
Ngoài ra, còn có cách phân loại chung. Đây là cách phân loại áp dụng đối với
cả hợp tác và hội nhập. Xuất phát từ bản chất chung đều là hợp tác, cách phân loại
này coi hợp tác và hội nhập là hai loại hình hợp tác khác nhau. Trong đó, hội nhập
là hình thức cao hơn với mức độ liên kết sâu sắc hơn, có tính ổn định và dài lâu
hơn. Còn hợp tác là hình thức đơn giản hơn, ít sâu sắc hơn và theo vụ việc là chính.
Cách phân loại này chủ yếu dùng trong nghiên cứu và đã bắt đầu được áp dụng
nhiều trong thực tiễn.
1.1.3. Nguyên nhân hợp tác và hội nhập trong QHQT
+ Hợp tác và hội nhập xuất phát từ mục đích tồn tại của con người và quốc
gia. Cuộc sống có quá nhiều mối đe doạ mà con người không thể đơn độc chống lại
được. Thế giới ngày càng đối mặt với nhiều nguy cơ chung đe doạ sự tồn tại của
nhân loại mà quốc gia không thể giải quyết riêng lẻ được. Vì sự tồn tại của mình,
con người và quốc gia buộc liên kết thành nhóm hợp tác với nhau nhằm đảm bảo
các nhu cầu cơ bản vì sự tồn tại của mình.
sự gần gũi địa lý thường đem lại những thuận lợi hơn cho sự liên kết kinh tế khu
vực ngày nay. Trong sự phát triển của mối quan hệ liên khu vực và toàn cầu, tính
khu vực và vị trí chiến lược của khu vực ngày càng được nhận thức mạnh mẽ cả từ
trong lẫn ngoài khu vực. Và như vậy, yếu tố địa - chiến lược đã góp phần nâng cao
vai trò của sự gần gũi địa lý đối với sự cố kết khu vực.
Yếu tố lịch sử
Nếu địa lý là không gian thì lịch sử là thời gian của một cộng đồng khu vực.
Sự gần gũi về mặt địa lý tạo điều kiện cho quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc hình
thành sớm và được duy trì suốt chiều dài lịch sử. Lịch sử quan hệ lâu dài giúp tạo
dựng và củng cố các liên hệ nhiều mặt giữa chúng - cơ sở cho sự phát triển quan hệ
trong khu vực. Chính bởi vai trò như vậy mà yếu tố lịch sử có thể được coi như một
cơ sở của hợp tác khu vực.
14
Quá trình quan hệ lâu dài trong lịch sử làm tăng sự hiểu biết lẫn nhau và sự
tương tác với nhau, từ đó làm tăng khả năng cố kết khu vực. Những quan hệ lịch sử
lâu dài giúp tạo dựng và củng cố hệ thống quan hệ song phương trong khu vực - nền
tảng để hình thành quan hệ đa phương. Các quá trình tương tác chính trị, trao đổi
kinh tế, giao lưu văn hoá, các cuộc di cư… trong lịch sử giúp hình thành nên những
giá trị chung giữa các quốc gia, dân tộc gần kề, góp phần hình thành bản sắc riêng
của khu vực. Lịch sử chính là một yếu tố quan trọng làm nên những đặc thù riêng,
những vấn đề riêng, những quan niệm riêng và cách hành xử riêng trong quan hệ
quốc tế khu vực. Trong thời hiện đại, dù mức độ mạnh yếu khác nhau, lịch sử vẫn
tiếp tục tác động lên ý thức khu vực, tình cảm khu vực, quan niệm về hợp tác khu
vực và quá trình hình thành cộng đồng khu vực. Rõ ràng, quá trình quan hệ lâu dài
giữa các quốc gia, dân tộc ở gần kề nhau là cơ sở cần được tính đến cho việc phát
triển hợp tác khu vực.
Yếu tố văn hóa - xã hội
Giữa các quốc gia trong vùng thường có những tương đồng giúp tạo nên đặc
điểm phân biệt khu vực này với khu vực khác. Sự tương đồng của một khu vực có
quan trọng cho sự phát triển hợp tác khu vực.
Gần đây, hợp tác khu vực đang có thêm một xung lực mới do sự nổi lên của
các vấn đề an ninh phi truyền thống. Các vấn đề này tạo ra những mối đe doạ chung
đòi hỏi phải có sự phối hợp hành động và thống nhất nỗ lực giữa các quốc gia thì
mới giải quyết được. Và điều này dẫn đến yêu cầu tăng cường hợp tác khu vực.
Yếu tố kinh tế
Kinh tế là lợi ích cơ bản gắn chặt với nhu cầu phát triển của quốc gia cũng
như mọi thành viên trong xã hội nên luôn là một mục tiêu chính trong chính sách
đối ngoại. Kinh tế luôn là động lực căn bản cho sự mở rộng quan hệ đối ngoại của
các cộng đồng/quốc gia trong mọi thời kỳ lịch sử. Xu hướng của kinh tế là sự tăng
trưởng ngày càng cao và sự mở rộng thị trường không ngừng. Cả hai điều này đều
16
dẫn đến yêu cầu tăng cường hợp tác kinh tế, đầu tiên với các thị trường gần kề bởi
những lợi thế về địa lý, lịch sử, văn hoá - xã hội và yêu cầu giảm giá thành.
Bên cạnh đó, kinh tế còn là điều kiện cho sự phát triển hợp tác đa phương và
hình thành cộng đồng khu vực. Những quan hệ kinh tế xuyên quốc gia được thiết
lập và phát triển sẽ tạo điều kiện cho việc nâng cao ý thức khu vực, tình cảm cộng
đồng. Những liên kết kinh tế cũng thúc đẩy sự hợp tác trên các lĩnh vực khác, góp
phần làm tăng sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong vùng. Cùng với đó, sự
mở rộng lợi ích và không gian kinh tế, yêu cầu ổn định môi trường và thể chế hóa
quan hệ kinh tế quốc tế sẽ dẫn đến xu hướng phát triển hợp tác kinh tế đa phương.
Trong bối cảnh hiện nay, khi phát triển kinh tế trở thành ưu tiên và dưới tác
động của khu vực hóa, kinh tế là yếu tố điều chỉnh phạm vi khu vực mạnh nhất với
sự định danh khu vực thường dựa theo các hiệp định thương mại khu vực. Thực tế
hiện nay cũng cho thấy, sự hợp tác khu vực đang diễn ra mạnh nhất và phổ biến
nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Rõ ràng, kinh tế đóng vai trò tiền đề quan trọng bậc
nhất đối với sự phát triển hợp tác đa phương và hình thành cộng đồng khu vực, ít
nhất là trong thời hiện đại.
Tầm quan trọng của yếu tố kinh tế cũng được phản ánh đậm nét đối với tam
lợi, đem thêm nhiều cơ hội và giải pháp cho việc thúc đẩy hợp tác đa phương.
1.2.2. Các loại hình hợp tác tiểu khu vực.
Khu vực thương mại tự do Nam Mỹ (Mercosur)
Mercosur (Mercado Común del Sur - Khu vực thị trường chung Nam Mỹ),
mở đầu bằng hiệp định thành lập khối Thương mại tự do giữa Brazil và Acgentina
ký kết tại thủ đô Buenos Aires trong năm 1989, phát triển bằng hiệp định cộng tác
và gia nhập giữa Brazil, Acgentina, Paraguay và Uruguay ký kết năm 1991 và bắt
đầu có hiệu lực từ năm 1994, hiện có 5 thành viên chính thức là Brazil, Argentina,
Uruguay, Venezuela (thành viên chính thức mới nhất, kết nạp cuối tháng 7/2012) và
18
Paraguay (đang bị đình chỉ tư cách thành viên sau khi Thượng viện nước này phế
truất Tổng thống hợp hiến Fernando Lugo).
Ngoài ra, MERCOSUR còn có 4 thành viên liên kết là Chile, Equador,
Colombia và Peru. MERCOSUR hiện là thực thể kinh tế lớn thứ 5 thế giới và là
một trong những nhà sản xuất hàng đầu về lương thực, nguyên liệu và năng lượng
cũng như là một thị trường đầy tiềm năng, với hơn 275 triệu người tiêu dùng.
Theo thống kê, GDP của khối lên đến 3,3 nghìn tỷ USD, chiếm 83% tổng
GDP của Nam Mỹ, với trao đổi thương mại nội khối hàng năm đạt gần 62 tỷ USD
[23].
Ngày 7/12, tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ 44 Khối thị trường chung Nam
Mỹ (MERCOSUR) tổ chức ở thủ đô Brazilia của Brazil, các nhà lãnh đạo dự họp đã
ký nghị định thư về việc kết nạp Bolivia làm thành viên đầy đủ của khối. Tuy nhiên,
để trở thành thành viên chính thức, Bolivia sẽ phải chờ quốc hội 5 nước thành viên
chính thức phê chuẩn.
Hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS)
Sáng kiến Hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS) được khởi
xướng năm 1992 bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Các nước thành viên
của tiểu vùng Mê Kông mở rộng gồm Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt
Nam, Trung Quốc (với 2 tỉnh đại diện là Vân Nam và Quảng Tây).