ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*******************
PHẠM NGỌC MAI
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
Á CHÂU (ACB) TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số : 60 31 07 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI
NGOẠI NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN HỒNG SƠN HÀ NỘI – 2009
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài. 1
2. Tình hình Nghiên cứu. 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 4
5. Phương pháp nghiên cứu. 5
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn. 5
7. Bố cục của luận văn. 5
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ 6
1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại. 6
1.2. Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 7
1.2.1. Năng lực tài chính: 7
1.2.1.1. Quy mô Vốn tự có: 8
1.2.1.2.Mức độ an toàn vốn: 10
1.2.1.3. Khả năng huy động vốn: 10
1.2.1.4. Chất lượng tài sản có: 10
1.2.2. Năng lực công nghệ: 12
1.2.3. Chất lượng nguồn nhân lực: 12
1.2.4. Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức: 13
1.2.5. Mức độ đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ và chất lượng phục vụ
khách hàng: 14
1.2.6. Quy mô mạng lưới hoạt động: 15
1.2.7. Kết quả hoạt động kinh doanh – mức sinh lời: 16 1.2.8. Khả năng thanh khoản: 17
2.2.3.2. Khả năng thu hút và giữ chân các nhân tài: 55
2.2.4. Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức: 57
2.2.5. Mạng lưới chi nhánh: 59
2.2.6. Mức độ đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ và chất lượng phục vụ
khách hàng: 60
2.2.7. Kết quả hoạt động kinh doanh – Mức sinh lời: 63
2.2.8. Khả năng thanh khoản (Liquidity): 66
2.2.9. Mức độ nhạy cảm với rủi ro của thị trường: 68
2.3. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của ACB. 70
2.3.1. Những mặt được: 70
2.3.2. Những mặt chưa được: 71
2.3.3. Nguyên nhân: 72
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GỢI Ý VỀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH CỦA ACB TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ 75
3.1. Những cam kêt trong WTO của Việt Nam về lĩnh vực Ngân hàng và những
cơ hội, thách thức đối với ACB. 75
3.1.1. Hiệp định thương mại tự do các nước ASEAN (AFTA): 75
3.1.2. Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA): 76
3.1.3. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) và tổ chức
thương mại thế giới WTO: 78
3.1.4. Cơ hội và thách thức đối với NHTMCP Á Châu trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế: 83
3.1.4.1. Cơ hội: 83
3.1.4.2. Thách thức: 84
3.2. Mục tiêu và triển vọng phát triển của ACB trong những năm tới. 86
3.3. Một số gợi ý về giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ACB
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 87
3.3.1. Tăng cường tiềm lực tài chính: 87
Sơ đồ tổ chức của ACB
37
Bảng 2.2
Vốn chủ sở hữu và tổng tài sản của một số NHTMCP Việt
Nam
41
Bảng 2.3
Vốn điều lệ của một số ngân hàng nước ngoài
42
Bảng 2.4
Tổng tài sản của một số NHTMCP tính đến thời điểm
31/12/2008
44
Bảng 2.5
Mức huy động vốn của một số NHTMCP Việt Nam năm 2008
45
Bảng 2.6
Mức huy động vốn của ACB giai đoạn 2004 -2008
46
Bảng 2.7
Tỷ lệ nợ xấu của một số NHTMCP Việt Nam năm 2008
48
Bảng 2.8
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của ACB giai đoạn
2004 -2008
49
Bảng 2.9
Tỷ lệ xoá nợ ròng trên tổng dư nợ của ACB giai đoạn 2004 -
2008
49
77
ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ACB
Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Á Châu
Agribank
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
ALCO
Hội đồng quản lý nợ có
BTA
Hiệp định thương mại song phương
BIDV
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
CAMLES
Tiêu chí đánh giá mức độ vững mạnh của ngân hàng
CNTT
Công nghệ thông tin
CSTT
Chính sách tiền tệ
DN
Doanh nghiệp
Đông Á
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á
ĐHCĐ
Đại hội cổ đông
EXIMBANK
Ngân hàng thương mại xuất nhập khẩu
ROA
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tổng tài sản
ROE
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có iii
SACOMBANK
Ngân hàng thương mại cổ phần sài gòn thương tín
TCBS
Giải pháp ngân hàng toàn diện
TCTD
Tổ chức tín dụng
TECHCOMBANK
Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương việt nam
TSĐB
Tài sản đảm bảo
TTS
Tổng tài sản
VCB
Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam
VietinBank
Ngân hàng thương mại công thương Việt Nam
VIB
Ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế
VIP
Người quan trọng
WEF
Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO
khỏi cuộc cạnh tranh gay gắt này. Do vậy, để có thể tồn tại, phát triển và duy trì
được vị thế của mình trong giai đoạn sắp tới NHTMCP Á Châu cần phải nhận biết
rõ được thực trạng năng lực cạnh tranh của mình, và nó có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong định hướng phát triển của NHTMCP Á Châu trong tiến trình hội nhập.
Việc nhận thức đúng vị thế cạnh tranh mình sẽ giúp ích rất lớn cho NHTMCP Á
Châu trong hoạt động định hướng nâng cao vị thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, -2-
làm cho sản phẩm dịch vụ của NHTMCP Á Châu ngày càng thích ứng tốt hơn với
nhu cầu của thị trường, thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Vì tính chất cần thiết của vấn đề liên quan, nên đề tài “Năng lực cạnh tranh
của NHTMCP Á Châu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” được chọn làm
Luận văn nghiên cứu.
2. Tình hình Nghiên cứu.
Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về Năng lực
cạnh tranh của các NHTM Việt Nam, trong đó có thể kể đến:
- Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
và hội nhập của các Ngân hàng thương mại Việt Nam đến năm 2010” của tác giả
Trịnh Quốc Trung (Mã số: 5.02.09). Trong công trình nghiên cứu này tác giả đã đi
sâu nghiên cứu về thực trạng cạnh tranh và hội nhập trong nền kinh tế Việt Nam nói
chung và trong hệ thống NHTM nói riêng. Tác giả cũng đã phân tích về các áp lực
cạnh tranh và hội nhập đối với các NHTM Việt Nam trong quá trình thực hiện hiệp
định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, từ đó
đưa ra các kiến nghị và đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của các
NHTM Việt Nam.
- Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của
tác giả Lê Đình Hạc (Mã số 5.02.09). Trong đề tài này tác giả đã đi sâu đánh giá
thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM tại Việt Nam sau đó rút ra điểm
chưa tiếp cận được thông tin chính xác về các cam kết của Việt Nam đối với ngành
Ngân hàng khi gia nhập WTO nên chưa thể đánh giá được chi tiết tác động của các
cam kết đó đối với ngành Ngân hàng trong thời gian tới.
Trong thời gian vừa qua cũng đã có nhiều các công trình nghiên cứu của các
tác giả đang làm việc tại ACB nghiên cứu về ACB như:
- Đề tài luận văn thạc sĩ “Mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân
hàng TMCP Á Châu – chi nhánh Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thanh Tùng. Trong
công trình nghiên cứu này tác giả đã đi sâu phân tích hoạt động cho vay của khách
hàng cá nhân tại chi nhánh Hà Nội, chỉ ra những nguyên nhân làm hạn chế hoạt
động này, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để mở rộng hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân.
- Đề tài luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP
Á Châu – Chi nhánh Hà nội” của tác giả Phạm Thị Hương Giang. Tác giả đã đi sâu -4-
phân tích làm rõ những nguyên nhân giảm chất lượng tín dụng, từ đó đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động tín dụng tại ACB – Hà Nội.
- Đề tài luận văn tốt nghiệp đại học “Phân tích hiệu quả tín dụng công
thương nghiệp và tiêu dùng tại Ngân hàng Á Châu – Chi nhánh An Giang” của tác
giải Nguyễn Ngọc Châu Thuỷ. Trong nghiên cứu này tác giả mới chỉ tập trung đánh
giá hiệu quả của hoạt động tín dụng tại chi nhánh An Giang và đưa ra các kiến nghị
nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh này.
Hầu hết các nghiên cứu về ACB của các tác giả mới chỉ tập trung vào từng
mảng lĩnh vực cụ thể trong hoạt động của ACB hoặc hoạt động của một chi nhánh
cụ thể nào đó mà chưa có tác giả nào tập trung vào nghiên cứu năng lực cạnh tranh
của ACB trong điều kiện Việt Nam bước đầu thực thi các cam kết quốc tế trong lĩnh
vực ngân hàng.
Vì các lý do nêu trên nên, luận văn này sẽ cố gắng góp phần vào việc bổ
sung, lấp vào phần còn thiếu vắng trong các nghiên cứu về NHTMCP Á Châu.
của NHTMCP Á Châu trong điều kiện hội nhập Kinh tế quốc tế.
7. Bố cục của luận văn.
Ngoài lời nói đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài viết chính
được chia thành 3 chương:
Chƣơng I: Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của các NHTM
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Chƣơng II: Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMCP Á Châu trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Chƣơng III: Một số gợi ý về giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
của NHTMCP Á Châu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. -6-
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại.
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm có tính chất so sánh khả năng và hoạt
động của một doanh nghiệp, một khu vực sản xuất hoặc một đất nước nhằm bán và
cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ trong một thị trường xác định. Cho đến nay, các tài
liệu trong nước và trên thế giới về vấn đề cạnh tranh chưa có một định nghĩa thống
nhất về năng lực cạnh tranh. Sau đây là một số khái niệm về năng lực cạnh tranh và
năng lực cạnh tranh của NHTM:
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) khi tiếp cận cạnh tranh với tính cách là năng
lực của một quốc gia đã cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả
năng đạt, duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền
vững tương đối và các đặc trưng khác” (Theo WEF – 1997). Đồng thời, để đánh
giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia WEF đã đưa ra một khuôn khổ các yếu tố
xác định năng lực cạnh tranh tổng thể của một quốc gia và phân thành 8 nhóm chính
bao gồm 200 chỉ số khác nhau, 14.
được những mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng đồng
thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua
những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.
1.2. Những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng
mại.
Tương tự các loại hình kinh doanh khác, năng lực cạnh tranh của các NHTM
cũng bị tác động bởi các yếu tố như: nguồn lực (vốn, con người, công nghệ…); thị
phần; thái độ trước các đối thủ cạnh tranh; khả năng thích ứng với môi trường kinh
doanh; khả năng chinh phục thị trường mới và yếu tố môi trường pháp lý…tuy
nhiên, sản phẩm của ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ, vì vậy các yếu tố ảnh
hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng cũng có một số đặc điểm khác biệt.
1.2.1. Năng lực tài chính:
“Năng lực tài chính của NHTM” phải hiểu khác với “Năng lực tài chính của
doanh nghiệp (DN)”, bởi vì: Năng lực tài chính của DN là nguồn lực tài chính của
bản thân DN, là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả -8-
năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời…
đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường. Còn
Năng lực tài chính của NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát
sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự
có, chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm
bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh.
Năng lực tài chính của NHTM được đánh giá dựa trên các yếu tố định lượng
và các yếu tố định tính. Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có,
bao gồm: quy mô vốn, chất lượng tài sản có, khả năng thanh toán và khả năng sinh
lời, khả năng tồn tại và phát triển một cách an toàn không để xảy ra đổ vỡ hay phá
sản…Các yếu tố định tính thể hiện khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn
lực tài chính được thể hiện qua trình độ tổ chức, trình độ quản lý, trình độ công
nền kinh tế.
Vốn tự có của một ngân hàng mặc dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng nguồn
vốn ngân hàng nhưng nó giữ vị trí rất quan trọng, quyết định quy mô và phạm vi
kinh doanh. Nó là cơ sở quyết định huy động bao nhiêu vốn trên thị trường và được
sử dụng vào mục đích gì. Mặt khác, vốn của ngân hàng là cái đệm chống đỡ sự sụt
giảm giá trị của tài sản có của ngân hàng. Đối với kinh doanh tiền tệ, ngân hàng có
đủ vốn tự có, có vốn tự có lớn và duy trì được vốn tự có là biểu hiện một ngân hàng
bền vững. Vốn tự có là căn cứ để xác định khả năng thanh toán cuối cùng. Khả năng
thanh toán cuối cùng là tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, đó chính là khả năng đáp ứng
toàn bộ các cam kết của một ngân hàng. Khả năng thanh toán có tính chất cơ cấu và
lâu dài hơn khả năng sẵn sàng chi trả. Một ngân hàng có thể thiếu tạm thời khả năng
chi trả, nhưng về cơ bản lại có khả năng thanh toán và ngược lại. Vốn tự có còn là
căn cứ để xác định giới hạn cho vay đối với một khách hàng.
Vốn tự có có chức năng bảo vệ NHTM, giúp NHTM chống lại rủi ro phá sản,
bù đắp những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ; Bảo vệ người gửi tiền khi gặp rủi ro
trong hoạt động kinh doanh: Nâng cao uy tín của NHTM với khách hàng, các nhà
đầu tư. Vì vậy có thể khẳng định: Vốn là yếu tố quan trọng tạo đối với NHTM, vì
vốn tự có của NHTM đã nói nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của NHTM trên
thị trường trong nước. Đồng thời, vốn tự có đó cũng là cơ sở để NHTM mở rộng
hoạt động tới các thị trường tài chính khu vực và quốc tế.
Tiềm lực về vốn tự có phản ánh sức mạnh tài chính của một ngân hàng và
khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó. Cách thức mà một ngân hàng có khả -10-
năng cơ cấu lại vốn, huy động thêm vốn cũng là một khía cạnh phản ánh tiềm lực về
vốn của một ngân hàng. Đây là một trong những nguồn lực quan trọng nhất quyết
định khả năng cạnh tranh của một ngân hàng.
1.2.1.2.Mức độ an toàn vốn:
Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh
khả năng sinh lời, năng lực quản lý của một tổ chức tín dụng. Hầu hết rủi ro trong
kinh doanh tiền tệ đều tập trung ở tài sản có.
Chất lượng tài sản có được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: tỷ lệ nợ xấu
trên tổng tài sản có, mức độ lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu,
mức độ tập trung và đa dạng hóa của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn.
Chất lượng tài sản có là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng. Trong đó, chất lượng của các khoản cho vay và đầu tư là yếu tố quyết định
đến chất lượng tài sản có của một ngân hàng. Nếu tổn thất trong cho vay lớn sẽ dẫn
đến lỗ, làm giảm vốn tự có, ảnh hưởng đến khả năng chi trả và đồng nghĩa với việc
quản lý của ngân hàng yếu kém. Chất lượng tài sản có thấp là nguyên nhân cơ bản
dẫn đến các vụ đổ vỡ ngân hàng. Thông thường điều này xuất phát từ việc quản lý
không thận trọng trong chính sách cho vay – cả trước kia cũng như hiện nay. Nếu
thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽ tạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn
ngắn hạn của ngân hàng, và điều này có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản,
hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng. Hiện tượng này có thể gây
nên phản ứng dây truyền tới cả hệ thống và nguy hiểm hơn là có thể gây nên tình
trạng mất khả năng thanh toán của cả hệ thống ngân hàng. Điều này sẽ gây nên
nguy hiểm lớn không chỉ cho riêng ngành ngân hàng mà nguy hiểm cho toàn bộ nền
kinh tế của một quốc gia.
Tóm lại: Một NHTM có năng lực tài chính tốt phải là NHTM luôn duy trì
được hoạt động bình thường và phát triển một cách ổn định, bền vững trong mọi
điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới, có khả năng
cung cấp tín dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, luôn đáp
ứng đầy đủ yêu cầu khách hàng về vốn và các dịch vụ ngân hàng phù hợp với quá
trình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới, bảo đảm được sự tồn tại và
phát triển của mình một cách an toàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản.
Năng lực tài chính của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng. Năng
lực tài chính của NHTM càng được đảm bảo thì mức độ rủi ro trong hoạt động ngân
nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách hàng những -13-
cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời tạo niềm tin
của khách hàng đối với ngân hàng. Do đó, việc thu hút nguồn nhân lực có chất
lượng cao là một yếu tố tối quan trọng có tính chất quyết định đến sự thành công
hay thất bại đối với chiến lược hoạt động của ngân hàng. Năng lực cạnh tranh
nguồn nhân lực của một ngân hàng thể hiện ở các yếu tố như: trình độ thành thạo
nghiệp vụ chuyên môn (thể hiện qua các bằng cấp chuyên môn đạt được, các thành
tích được ghi nhận trong quá trình công tác,…), mức độ thành thạo các kỹ năng
nghiệp vụ bổ trợ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với ngân hàng của
người lao động, khả năng học tập và tự đào tạo của đội ngũ lao động. Nhân sự của
ngân hàng là yếu tố có tính chất kết nối các nguồn lực khác của ngân hàng, đồng
thời cũng là nguồn gốc của mọi cải tiến hay đổi mới. Chính sách tuyển dụng, chính
sách tái đào tạo, chính sách lương, chính sách đề bạt, bổ nhiệm của một ngân hàng
quyết định phần lớn việc ngân hàng có thể thu hút, duy trì và phát triển được một
đội ngũ nhân sự có trình độ và chất lượng cao hay không. Một ngân hàng có được
đội ngũ nhân sự chất lượng cao là một ngân hàng có được một lợi thế cạnh tranh rất
lớn, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.2.4. Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức:
Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh
doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào là vai trò của những người lãnh đạo doanh
nghiệp, quyết định của lãnh đạo ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh
nghiệp.
Năng lực quản lý của một ngân hàng được phản ánh qua năng lực quản lý
điều hành của hội đồng quản trị và ban điều hành. Năng lực quản lý thể hiện ở mức
độ chi phối và khả năng giám sát của hội đồng quản trị đối với ban điều hành, chất
lượng và hiệu quả của việc thực thi các chính sách, chiến lược, chiến thuật do hội
NHTM càng có nhiều sản phẩm khác biệt sẽ có lợi thế hơn trong cạnh tranh trên thị
trường, nhất là các sản phẩm mang hàm lượng công nghệ cao.
Cùng với việc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của khách hàng bằng nhiều sản phẩm
mới tiện ích, giá cả cũng là mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng, bởi “thị hiếu”
của mỗi nhà đầu tư có thể khác nhau nhưng họ đều có ít nhất một mục tiêu chung
đó là “tính toán và lựa chọn hướng đầu tư có lợi nhất”. Vì thế, giá cả là một trong
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các NHTM. Hiện nay -15-
trên thị trường tiền tệ luôn có sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thông qua lãi suất
và phí, các NHTM sẵn lòng giảm doanh thu để thu hút khách hàng tạo ra thế cạnh
tranh mạnh về giá cả, tuy nhiên không như các loại hình kinh doanh khác, trong
hoạt động NHTM, việc sử dụng giá để tạo lợi thế cạnh tranh còn phải phụ thuộc
nhiều yếu tố nhưng quan trọng, nhất là phải chịu sự quản lý của NHNN.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng luôn cho ra đời nhiều loại
hình ưu đãi, nhiều tiện ích để thu hút khách hàng. Tuy nhiên, ngoài chủng loại sản
phẩm cung cấp cho khách hàng, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, hồ sơ (cũng là
hình thức tiết kiệm chi phí cho khách hàng vì “thời giờ là vàng bạc”), đây cũng là
một yếu tố cạnh tranh về giá cả và chất lượng phục vụ của ngân hàng trong chiến
lược cạnh tranh.
Tuy nhiên, sự đa dạng hoá các dịch vụ cần phải thực hiện trong tương quan
so với nguồn lực hiện có của ngân hàng. Nếu không, việc triển khai quá nhiều dịch
vụ có thể làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các
nguồn lực.
1.2.6. Quy mô mạng lƣới hoạt động:
Mạng lưới hoạt động ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh, các
NHTM ngày nay rất chú trọng đẩy mạnh phát triển hạ tầng, mở rộng mạng lưới, tuy
vậy không phải mạng lưới hoạt động càng rộng, hạ tầng phát triển, sẽ chiếm được vị
thế cạnh tranh, việc mở rộng mạng lưới hoạt động các NHTM phải được nghiên
chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một
NHTM. Để đánh giá khả năng sinh lời của NHTM – người ta thường sử dụng các
chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA); chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có
(ROE) hoặc chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên doanh thu.
Để có lãi trong kinh doanh, ngân hàng phải có những điều kiện sau: Chi phí
kinh doanh hợp lý, tiết kiệm. Phải tạo được nguồn thu nhập chủ yếu trên cơ sở hoạt
động kinh doanh chủ yếu là ưu thế của ngân hàng. Các hoạt động kinh doanh phải
đem lại lợi nhuận. Phải tránh được rủi ro lớn nhờ chính sách quản lý rủi ro. Bảo
đảm được tài sản Có sinh lời ở mức trên 70% so với tổng tài sản Có.
Mức sinh lời là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của ngân hàng, đồng thời
cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng. Chỉ tiêu mức sinh lời có
thể được phân tích qua những chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau
thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận trên vốn