ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THẾ NINH
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG
BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐÀO LÊ MINH
Hà Nội - 2008
1.2.3.2. Tự doanh chứng khoán 20
1.2.3.3. Bảo lãnh phát hành 20
1.2.3.4. Tư vấn đầu tư chứng khoán 20
1.2.4. Điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của CTCK 21
1.2.4.1. Điều kiện mang tính nhân tố: nguồn nhân lực, nguồn lực tri
thức, nguồn lực công nghệ, vốn 21
1.2.4.2. Điều kiện về cầu 22
1.2.4.3. Sự phát triển của các ngành liên quan và phụ trợ 23
1.2.4.4. Yếu tố kinh tế vĩ mô 24
1.2.4.5. Yếu tố văn hóa, xã hội 24
1.3. KINH NGHIỆM CTCK NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH 25
1.3.1. Nghiên cứu trường hợp: Tập đoàn Merrill Lynch 25
1.3.2. Bài học kinh nghiệm 29
1.4. SỰ GIA TĂNG CẠNH TRANH TRÊN TTCK VIỆT NAM 30
1.4.1. Sự bùng nổ của TTCK Việt Nam 30
1.4.2. Tính tất yếu nâng cao năng lực cạnh tranh của các CTCK Việt Nam nói
chung và Agriseco nói riêng 32
Chƣơng 2: NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM 35
2.1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 35
2.2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRISECO 36
2.2.1. Tiềm lực tài chính 36
2.2.1.1. Quy mô vốn 36
2.2.1.2. Tăng trưởng lợi nhuận 38
2.2.2. Năng lực công nghệ 43
2.2.2.1. Nền tảng công nghệ 43
2.2.2.2. Khả năng thích ứng với công nghệ mới 43
CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ 80
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN AGRISECO 80
3.1.1. Định hướng phát triển TTCK Việt Nam 80
3.1.2. Định hướng phát triển Agriseco 80
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRISECO 83
3.2.1. Giải pháp dài hạn 83
3.2.1.1. Tăng cường tiềm lực tài chính 83
3.2.1.2. Cải tiến công nghệ 83
3.2.1.3. Đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển để đưa ra các dịch vụ mới 84
3.2.2. Giải pháp trước mắt 85
3.2.2.1. Đổi mới cơ chế quản lý và cơ cấu tổ chức 85
3.2.2.2. Xây dựng hệ thống quản lý rủi ro 85
3.2.2.3. Đào tạo nguồn nhân lực 87
3.2.2.4. Công tác marketing và dịch vụ khách hàng 88
3.2.2.5. Hợp tác với các CTCK trong nước và ngoài nước 89
3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỪNG
NGHIỆP VỤ 90
3.3.1. Môi giới chứng khoán 90
3.3.2. Tự doanh chứng khoán 90
3.3.3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán 91
3.3.4. Tư vấn đầu tư chứng khoán 91
3.4. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN 91
3.4.1. Điều kiện vĩ mô 91
3.4.2. Điều kiện nội tại Agriseco 94
3.4.2.1. Nguồn nhân lực 94
3.3.2.2. Cơ chế trả lương 94
3.3.2.3. Phối hợp giữa Agribank và Agriseco trong hoạt động 95
KẾT LUẬN 96
CTCK mới khác đã phát triển bền vững, tăng dần thị phần và khẳng định được vị
2
thế nhờ vào định hướng chiến lược đúng đắn và nắm bắt chính xác nhu cầu khách
hàng. Nhóm công ty này thực sự là đối thủ cạnh tranh của một số CTCK lớn đi đầu
đang có dấu hiệu chững lại. Sức mạnh cạnh tranh còn có thể lớn hơn khi nhiều
CTCK nước ngoài đang chờ cấp phép thành lập và hoạt động trên TTCK Việt Nam.
Công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt
Nam (Agriseco) là CTCK thứ 8 ra đời ở nước ta với 100% vốn được cấp từ Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank). Ngay từ những
ngày đầu thành lập, Agriseco có thế mạnh riêng là kinh doanh trái phiếu. Đây là thế
mạnh, cũng chính là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh tranh
không cao của Agriseco trong các nghiệp vụ kinh doanh.
Xuất phát từ thực tế đó và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của Việt
Nam hiện nay, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty
Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” để triển khai luận văn tốt nghiệp chương trình
Cao học về Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về chứng khoán và TTCK trên thế giới đã được thực hiện từ rất
lâu trên nhiều phương diện khác nhau. Tại Việt Nam, trước khi xuất hiện TTCK vào
tháng 7 năm 2000 cũng đã có những giáo trình, bài viết nhận định và phân tích tổng
quan về mặt lý thuyết và một số đánh giá thực tế TTCK thế giới. Đến khi TTCK
Việt Nam đi vào hoạt động, các bài viết, nghiên cứu, phân tích về thị trường và các
chủ thể thị trường mới đa dạng và đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau.
Tuy vậy, những nghiên cứu về CTCK, đặc biệt là năng lực cạnh tranh của các
CTCK chưa nhiều và mới chỉ được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Khoa học
và Đào tạo chứng khoán - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Một số đề
tài điển hình như:
- Những vấn đề cơ bản trong việc hình thành và phát triển công ty chứng
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi TTCK Việt Nam, có tham
khảo thông tin về TTCK ở một số quốc gia khác trên thế giới. Tác giả tiến hành
nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến cuối năm 2007.
5. Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp truyền thống là dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa
Mác – Lênin để xem xét các hiện tượng, trong luận văn này, tác giả còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau đây để làm rõ các luận điểm của mình.
- Phương pháp phân tích SWOT: để làm sáng tỏ thế mạnh, điểm yếu của
Agriseco cũng như những cơ hội, thách thức đặt ra.
- Phương pháp lịch sử: để nhìn nhận lại một số vấn đề, thực tế đã diễn ra trong
quá khứ, từ đó xây dựng nền tảng cho các phân tích trong luận văn.
- Phương pháp so sánh: để đánh giá năng lực cạnh tranh của Agriseco với các
CTCK khác qua các con số và các hiện tượng.
- Phương pháp thống kê: để thu thập và xử lý các số liệu cho phù hợp với mục
đích sử dụng trong luận văn.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của Agriseco sau bảy năm hoạt động;
- Khuyến nghị một số định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agriseco
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỦ YẾU
1.1.1. Khái niệm CTCK và phân loại
1.1.1.1. Khái niệm CTCK
TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính, có ý nghĩa rất quan trọng đối
giúp CTCK có khả năng huy động vốn lớn và chia sẻ rủi ro trong phạm vi vốn góp.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh
nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạt động là TTCK -
thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường. Do hoạt động đa dạng và
phức tạp như vậy nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK ở
mỗi quốc gia lại có những điểm khác biệt nhất định tùy theo đặc điểm của hệ thống
tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người làm chính sách ở quốc gia đó.
Nhưng khái quát lại, hai mô hình được áp dụng phổ biến hiện nay là mô hình công
ty đa năng và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán.
Mô hình công ty đa năng được chia làm hai dạng: đa năng một phần (các
ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con độc lập,
hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ) và đa năng hoàn toàn (các ngân
hàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp, bao gồm cả tiền tệ, chứng khoán
và bảo hiểm). Mô hình này có ưu điểm là sự kết hợp rất cao, do đó giảm bớt được
rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung bằng việc đa dạng hóa đầu tư. Ngoài ra, mô
hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những
biến động trên thị trường tài chính. Tuy nhiên ở mô hình đa năng hoàn toàn này tính
chuyên môn hóa không cao, và nếu môi trường luật pháp không chặt chẽ sẽ dễ dẫn
tới tình trạng lũng đoạn thị trường, kéo theo là khủng hoảng tài chính.
7
Ngược lại, theo mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinh
doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực
chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được trực tiếp tham gia vào kinh
doanh chứng khoán. Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi ro cho hệ thống
ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực
chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển, tuy nhiên khả năng phân tán rủi ro
trong kinh doanh bị hạn chế. Mô hình này được áp dụng phổ biến ở các nước Mỹ,
Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc, Thái Lan… Tuy nhiên do xu thế
hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ nên ngày nay một số thị trường cũng
bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Khi giao dịch chứng khoán được thực hiện, các
CTCK tiến hành chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán tiền giữa các
bên tham gia giao dịch. Như vậy, CTCK làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho các
giao dịch chứng khoán.
1.1.2.3. Đối với TTCK
- Góp phần tạo lập giá cả và điều tiết thị trường: Giá cả là do thị trường quyết
định, nhưng để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua
CTCK vì họ không được trực tiếp tham gia vào quá trình mua bán. Ngoài ra, CTCK
còn thực hiện vai trò ổn định thị trường, can thiệp để điều tiết giá cả. Vai trò này
xuất phát từ nghiệp vụ tự doanh, qua đó CTCK dành một tỷ lệ nhất định các giao
dịch của mình (do luật pháp quy định) để thực hiện vài trò bình ổn thị trường.
- Là tác nhân tạo hàng hoá và tính hấp dẫn của hàng hoá cho TTCK. Trên thị
trường sơ cấp, bằng hoạt động bảo lãnh phát hành, CTCK tham gia vào quá trình
tạo hàng hoá cho thị trường. Với chuyên môn và uy tín của mình, cổ phiếu và trái
phiếu khi được CTCK bảo lãnh phát hành sẽ rút ngắn thời gian phát hành và nhanh
chóng được giao dịch. Trong quá trình bảo lãnh, CTCK định giá chứng khoán cho
đợt phát hành phù hợp với thực trạng của tổ chức phát hành và tình hình thị trường,
đồng thời bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu. Điều này khiến chứng
khoán được nhà đầu tư tín nhiệm hơn. Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư vấn
9
của CTCK trên thị trường thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán, làm
cho chúng hấp dẫn hơn trong con mắt của nhà đầu tư. Từ đó tác động trở lại, tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp tục phát hành trên thị trường sơ cấp.
1.1.2.4. Đối với các cơ quan quản lý thị trƣờng
Mục tiêu của các cơ quan quản lý, giám sát thị trường là đảm bảo giao dịch
an toàn và kiểm soát thị trường. CTCK có vai trò cung cấp thông tin cho các cơ
quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các CTCK thực hiện được vai trò
này vì họ vừa là người phân phối các chứng khoán mới phát hành thông qua hoạt
động bảo lãnh phát hành và đại lý phát hành, vừa là trung gian mua bán chứng
đầu tư nắm quyền kiểm soát, bình ổn giá chứng khoán hoặc tạo thị trường cho các
chứng khoán mới phát hành.
Hoạt động này diễn ra song song với hoạt động môi giới, vừa phục vụ lệnh
giao dịch của khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho giao dịch của chính mình. Vì
vậy, trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa khách hàng và
bản thân CTCK. Do đó, luật pháp các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa hoạt
động môi giới và tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước
khi thực hiện lệnh của mình. Vì vậy đòi hỏi CTCK phải có nguồn vốn lớn và đội
ngũ nhân viên có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn, có khả năng phân
tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò
là nhà tạo lập thị trường. Khoản thu từ hoạt động tự doanh đến từ hai nguồn: Cổ
tức/trái tức và lãi vốn, nhưng phần thu từ lãi vốn là chủ yếu.
1.1.3.3. Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Để thực hiện thành công đợt phát hành chứng khoán, tổ chức phát hành cần
được các CTCK tư vấn cho đợt phát hành, thực hiện bảo lãnh phát hành, phân phối
chứng khoán ra công chúng và bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu. Đó
11
chính là hoạt động bảo lãnh phát hành của CTCK và là hoạt động chiếm tỷ lệ doanh
thu khá lớn trong tổng thu của CTCK.
Các khoản thu từ nghiệp vụ này được xuất phát từ các nguồn:
- Thu phí bảo lãnh phát hành, được tính bằng một tỷ lệ nhất định trên doanh
số bảo lãnh phát hành.
- Chênh lệch giá trong quá trình phân phối chứng khoán.
- Phí quản lý, nếu CTCK là nhà bảo lãnh phát hành chính trong tổ hợp bảo
lãnh phát hành.
1.1.3.4. Tƣ vấn đầu tƣ chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghị
liên quan đến chứng khoán hoặc công bố và phát hành các báo cáo phân tích có liên
quan đến chứng khoán.
b, Quản lý quyền
Hoạt động này của CTCK xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách
hàng. Khi thực hiện hoạt động này, CTCK đứng ra làm dịch vụ thu nhận và sau đó
chi trả cổ tức cho khách hàng, thực hiện các quyền khác cho khách hàng như nhận
cổ phiếu thưởng, mua cổ phiếu phát hành thêm…
c, Hoạt động tín dụng
Đối với TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho
khách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khai dịch vụ cho khách hàng vay
chứng khoán để thực hiện giao dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để
thực hiện mua chứng khoán. Ở Việt Nam hiện nay, các CTCK không được thực
hiện hoạt động tín dụng, do đó, các CTCK không được trực tiếp thực hiện dịch vụ
này. Vì vậy, CTCK đứng ra làm trung gian giúp khách hàng tiếp cận và vay vốn của
ngân hàng, đồng thời CTCK giúp ngân hàng phong tỏa các chứng khoán làm tài sản
thế chấp cho các khoản vay.
13
d, Quản lý danh mục đầu tư
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của những người đầu
tư, được ủy thác cho công ty quản lý quỹ đầu tư quản lý và đầu tư vào chứng khoán
nhằm đem lại lợi ích cho những người đầu tư vào quỹ.
Ở một số TTCK, pháp luật cho phép CTCK được thực hiện hoạt động quản
lý danh mục đầu tư. Theo đó, CTCK cử đại diện của mình quản lý quỹ. Ngoài các
hoạt động trên, CTCK còn tham gia vào một số hoạt động khác (ví dụ như kinh
doanh bảo hiểm) theo quy định của pháp luật từng nước.
1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC CTCK
1.2.1. Khái quát về năng lực cạnh tranh
1.2.1.1. Khái niệm
a, Cạnh tranh
Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay
các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi
Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng
mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
1.2.1.2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp
Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ
tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt
này và có hạn chế về mặt khác. Vần đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được
điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt
nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một
doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh
nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống
thông tin… Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần
phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt
động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng. Các
15
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có
các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng
hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm:
giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sản
phẩm và dịch vụ bán hàng; thông tin và xúc tiến thương mại; năng lực nghiên cứu
và phát triển; thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phần
sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần; vị thế tài chính; năng lực tổ
chức và quản trị doanh nghiệp.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của CTCK
Năng lực cạnh tranh của CTCK là thể hiện thực lực và lợi thế của công ty so
với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng và
tăng thị phần ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của CTCK trước hết
phải được tạo ra từ thực lực của công ty. Đây là các yếu tố nội hàm, không chỉ được
tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh
nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh
hoạt động khác nhau, cách thức tổ chức bộ máy kinh doanh khác nhau, lựa chọn
chiến lược đầu tư khác nhau và do đó kết quả kinh doanh cũng sẽ khác nhau.
CTCK là một định chế tài chính đặc biệt, vì vậy hoạt động của CTCK rất đa
dạng và phức tạp. Việc tổ chức quản lý của công ty có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu
quả hoạt động nói chung và hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty nói riêng.
Do các hoạt động của CTCK có đặc thù là độc lập nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định
tới nhau nên cơ cấu tổ chức của CTCK phải đáp ứng được yêu cầu cơ bản là chuyên
môn hóa ở mức độ cao, mỗi bộ phận chỉ chuyên trách một hoạt động cụ thể.
Một CTCK muốn hoạt động tốt ngoài việc đáp ứng yêu cầu chuyên môn hoá
còn phải tổ chức sao cho các bộ phận chuyên môn phối hợp nhịp nhàng với nhau.
Mọi hoạt động của CTCK có thể trở nên hỗn loạn trước những biến động bất ngờ
của thị trường nếu chúng không được sắp xếp hợp lý bởi một chiến lược rõ ràng và
một định hướng ưu tiên có cơ sở.
17
c, Mức độ cạnh tranh và hợp tác giữa các CTCK
Nền kinh tế thị trường mang trong mình đặc trưng cạnh tranh. Cạnh tranh
củng cố thêm sức mạnh cho các thành phần tham gia. Cạnh tranh giúp các doanh
nghiệp tăng thị phần. Các CTCK cũng không thể hoạt động mà không có cạnh tranh
ở nơi được ví như một “chiến trường”. Mức độ cạnh tranh càng cao thì năng lực
cạnh tranh của các CTCK càng phải tốt mới hy vọng tạo chỗ đứng nhất định trong
tâm trí khách hàng. Các doanh nghiệp không trụ được trong cuộc chiến giành thị
phần tất yếu sẽ phải rời bỏ cuộc chơi hoặc bị mua lại, sáp nhập, hoạt động dưới sự
quản lý mới hiệu quả hơn.
Bên cạnh mức độ cạnh tranh là sự hợp tác giữa các đối thủ cạnh tranh để
cùng phát triển và tiếp tục cạnh tranh lành mạnh hơn. Hợp tác giúp trao đổi kinh
nghiệm, học hỏi các kiến thức mới, mở rộng nguồn khách hàng tiềm năng hoặc
đơn thuần chỉ là tạo dựng các mối quan hệ phục vụ cho chiến lược lâu dài trong
tương lai.
Việc hợp tác phải ở chừng mực không làm ảnh hưởng đến sự cạnh tranh lành
1.2.2.2. Tiêu chí định lƣợng
a, Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính của một CTCK bao gồm các chỉ tiêu như: vốn điều lệ, vốn
chủ sở hữu, tổng tài sản, các khoản nợ, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Bên
cạnh đó còn là các chỉ tiêu khác như Tài sản cố định (lưu động)/Tổng tài sản, Tỷ
suất lợi nhuận trên doanh thu, Tỷ suất lợi nhuận trên vốn, Nợ phải trả/Tổng tài sản,
Khả năng thanh toán (hiện thời, thanh toán nhanh, thanh toán bằng tiền).
Khả năng tài chính luôn là yếu tố hàng đầu trong mọi hoạt động của CTCK,
đặc biệt, hoạt động tự doanh và bảo lãnh phát hành đòi hỏi công ty phải có một
lượng vốn rất lớn. CTCK khi triển khai hoạt động tự doanh không chỉ mua một
hoặc hai loại chứng khoán có triển vọng thu lời cao mà phải xây dựng cho mình một
danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu các rủi ro, vì vậy trong danh mục này thường bao
gồm khá nhiều loại chứng khoán thuộc các ngành nghề khác nhau. Mặt khác, số
19
lượng chứng khoán trong danh mục cũng phải tương đối lớn để công ty có khả năng
thu được lợi nhuận đề ra. Trong trường hợp tạo lập thị trường, CTCK cũng cần nắm
giữ một số lượng chứng khoán đủ lớn cũng như lượng tiền mặt dồi dào để sẵn sàng
mua bán nhằm điều tiết được giá cả trên thị trường. Vì vậy, khả năng tài chính tốt
hoặc có một chỗ dựa tài chính vững chắc là rất cần thiết.
b, Năng lực công nghệ
Năng lực công nghệ cũng có thể được coi là một trong các tiêu chí định tính,
bởi công nghệ một phần là máy móc, thiết bị. Phần còn của công nghệ là các phát
kiến, sáng chế, cách thức vận dụng, ứng dụng… Chính vì vậy, trong luận văn này,
tác giả xếp năng lực công nghệ vào nhóm tiêu chí định lượng.
Trong thời đại hiện nay, công nghệ thông tin trở thành một yếu tố không thể
thiếu trong tiến trình phát triển của nhân loại. Để kinh doanh thành công, các CTCK
luôn phải chạy đua để nắm bắt được thông tin một cách nhanh nhất, vì vậy mà việc
áp dụng công nghệ thông tin đối với CTCK trở nên rất quan trọng.
Bên cạnh phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật cũng hỗ trợ rất nhiều cho các