ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VŨ THANH SƠN
CẠNH TRANH ĐỐI VỚI KHU VỰC CÔNG:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62 31 01 01 LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHÍ MẠNH HỒNG
1.3. Các ý tưởng vận dụng cạnh tranh vào thực tiễn 32
1.3.1.ý tưởng về tái cấu trúc nhà nước 33
1.3.2.Chủ nghĩa công quản mới 36
1.3.3.Lý thuyết lựa chọn công 38
1.3.4.Lý thuyết chính yếu/đại diện 40
1.4. Thực chất cạnh tranh đối với khu vực công 41
1.4.1. Đặc điểm cạnh tranh đối với khu vực công 41
1.4.2.Các hình thức và kỹ thuật xúc tiến cạnh tranh đối với
khu vực công 47
1.4.3. Tiêu chí đánh giá hoạt động cung ứng hàng hóa trong
khu vực công 52
iii
Chương 2: Kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh đối với khu vực
công ở một số nước 55
2.1. Vận dụng lý luận công quản mới ở Anh 55
2.1.1. Sự thể nghiệm lý luận công quản mới ở Anh 55
2.1.2. Nhận xét về tư nhân hóa ở Anh 57
2.2. Mở rộng cạnh tranh đối với khu vực công ở Australia 60
2.2.1. Cơ sở pháp lý cho cạnh tranh đối với khu vực công 60
2.2.2. Áp dụng rộng rãi đấu thầu cạnh tranh 61
2.2.3. Hạn chế về áp dụng cạnh tranh đối với khu vực công 63
2.3. Mô hình khu vực công mới New Zealand 64
2.3.1. Những nguyên tắc đổi mới khu vực công 64
2.3.2. Công ty hóa các bộ phận sở hữu nhà nước 64
2.3.3. Một số điểm đáng lưu ý 67
2.4. Cạnh tranh đối với khu vực công ở Trung Quốc 69
4.1.3. Cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể 130
4.1.4. Cạnh tranh phải phù hợp với những quy định và
thông lệ quốc tế 131
4.2. Hệ thống giải pháp cơ bản 132
4.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về cạnh tranh 132
4.2.2. Xử lý tình trạng độc quyền 135
4.2.3. Tạo tiền đề cho cạnh tranh 137
4.2.4. Sử dụng các hình thức cạnh tranh với bên ngoài 140
4.2.5. Cạnh tranh trực tiếp theo giá và chất lượng hàng hóa 143
4.2.6. Thiết lập cơ quan điều tiết và giám sát cạnh tranh độc lập 145
4.2.7. Mở cửa khu vực công cho cạnh tranh quốc tế 147
4.2.8. Tuyên truyền và thuyết phục 147
Kết luận 151
Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan tới luận án. 154
Tài liệu tham khảo 155 v
Khu vực tư
Nhà nước
Các tổ chức phi chính phủ
Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế
Tư nhân
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
VNA
Tổng công ty hàng không Việt Nam
VNPT
Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân loại hàng hoá công-tư 18
Bảng 1. 2: Chức năng của nhà nước 22
Bảng 1.3: Một vài ví dụ về chỉ số đánh giá kết quả hoạt động 53
Bảng 2.1: Một số tác động nghịch của tư nhân hoá ở Anh 59
Bảng 2.2: Tiết kiệm chi phí trong đấu thầu cạnh tranh ở Australia 62
Bảng 2.3: Mặt trái của hợp đồng và đấu thầu cạnh tranh 63
Bảng 2.4: Trách nhiệm tham gia công-tư 71
Hình 3.3: Độc quyền nhà nước trong khâu phát điện 97
Hình 3.4: Độc quyền phân phối điện của nhà nước 97
Hình 3.5: Thị phần viễn thông vào internet của các doanh nghiệp 105
Hình 3.6: Số sinh viên công lập và ngoài công lập 113
Hình 3.7: Dịch vụ vận tải hành khách theo thành phần kinh tế, 2001-2006 114
Hình 3.8: Dịch vụ vận tải hành khách ngoài nhà nước 115
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực công (KVC) là tập hợp những cơ cấu tổ chức nhà nước hoạt
động nhằm phục vụ lợi ích chung của tập thể cộng đồng và toàn xã hội. Hoạt
động của khu vực này có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội, từ
việc xác nhận sinh, tử cho tới việc cung ứng dịch vụ bảo đảm sự tồn tại và
phát triển của cuộc sống.
Song, hoạt động của KVC thường bị coi là kém hiệu quả vì thiếu môi
trường cạnh tranh và vấp phải những thất bại nhà nước. Từ đó, nguồn lực
công không được sử dụng một cách hiệu quả. Nhiều công trình nghiên cứu đã
khẳng định điều này. Chẳng hạn, Le Grand [87, tr. 739-777] cho rằng hoạt
động của doanh nghiệp nhà nước không có hiệu quả cao vì điều kiện cạnh
tranh của chúng rất hạn chế, áp lực bị phá sản và hoàn thiện cơ cấu hoạt động
vì hiệu quả không lớn. Điều thống nhất rộng rãi là cần áp dụng cạnh tranh vào
trong KVC để các chủ thể kinh tế ganh đua cung ứng đầu ra hiệu quả hơn
[105, tr. 1-22]. Đồng thời, nhà nước cũng cần phải điều chỉnh vai trò, chức
năng của mình để tạo ra môi trường cạnh tranh giữa chủ thể công và tư một
Tình hình triển khai nghiên cứu ở nước ngoài
Chủ đề nghiên cứu về cạnh tranh đối với KVC được nhiều học giả
nước ngoài quan tâm. Danh mục tài liệu tham khảo của Luận án liệt kê nhiều
công trình khoa học quan trọng đã từng công bố ở nước ngoài. Những công
trình này được tham khảo và tiếp thu có phê phán trong quá trình hoàn thành
Luận án. Phần tiếp theo sẽ tổng kết một số điểm chính về tình hình nghiên
cứu trong các tác phẩm quan trọng đó. 3
Trong tác phẩm “Market failure, government failure, leadership and
public policy” [thất bại thị trường, thất bại nhà nước, lãnh đạo và chính sách
công], hai tác giả Joe Wallis và Brian Dollery giới thiệu các lý thuyết và biến
thể lý luận liên quan tới thất bại thị trường, thất bại nhà nước và chủ nghĩa
công quản mới. Nhà nước cần phải can thiệp để khắc phục thất bại thị trường.
Nhưng các tác giả cho rằng sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế cũng vấp
phải một số thất bại như “thất bại lập pháp”, “thất bại hành chính”, “thất bại
tư pháp”, “thất bại hành pháp”, “thất bại chính trị”. Mặt khác, KVC ít phải đối
mặt với áp lực cạnh tranh mãnh liệt của nhiều đối thủ vì nó được bảo đảm
bằng những quy định và sức mạnh quyền lực nhà nước. Những thất bại nhà
nước và sự thiếu vắng áp lực cạnh tranh dẫn tới sự mất hiệu quả trong hoạt
động của KVC.
Trong tác phẩm “Market or Government: choosing between imperfect
alternatives” [thị trường hay chính phủ: lựa chọn giữa các phương án không
hoàn hảo], Wolf đã lập luận rằng sự vận dụng quá mức cơ chế thị trường và
can thiệp nhà nước đều gây ra những méo mó nhất định cho nền kinh tế nói
chung và KVC nói riêng. Mỗi phương án đều có những ưu thế riêng và có thể
bổ sung cho nhau trong những điều kiện nhất định. Do đó, việc vận dụng cơ
chế thị trường vào KVC làm cho hoạt động của khu vực này trở nên linh hoạt,
hiệu quả và đáp ứng kịp thời nhu cầu người tiêu dùng hơn.
hiệu quả (Efficiency), hiệu lực (Effectiveness) và công bằng (Equity). Như
vậy, người dân sẽ được thừa hưởng những sản phẩm tốt và kịp thời do nền
hành chính công chuẩn mực tạo ra.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về lý luận cạnh tranh trong nền
kinh tế nói chung và trong KVC nói riêng, các học giả nước ngoài còn tổng
kết thực nghiệm việc vận dụng lý luận đó vào từng điều kiện của từng nước. 5
Luận án này cũng đã khảo cứu nhiều công trình về kinh nghiệm vận dụng
cạnh tranh vào KVC.
Jan-Erik Lane đã đánh giá những kinh nghiệm cải cách khu vực công ở
nhiều quốc gia trong tác phẩm của mình “Public Sector Reform: rationale,
trends and problems” [cải cách khu vực công: lý do, xu hướng và vấn đề].
Một ý tưởng quan trọng được phát hiện trong tác phẩm này là các cuộc cải
cách KVC đều theo hướng mở rộng môi trường cạnh tranh trong khu vực này
ở các nước như Australia, New Zealand, Germany, Canada, Anh và nhiều
nước phát triển khác. Tác giả đã đánh giá kết quả vận dụng những ý tưởng
mới về quản trị công của một số quốc gia trong vài thập kỷ gần đây. Mỗi
nước là một trường hợp nghiên cứu với nhiều vấn đề khác nhau và cách thức
giải quyết riêng biệt.
Nhiều công trình khác cũng đã tổng kết kinh nghiệm vận dụng cạnh
tranh vào KVC ở các nước như Trung Quốc, Singapore. Chẳng hạn, Janet Tay
đã khảo cứu tiến trình và kết quả thực hiện cải cách khu vực công ở Singapore
trong thập kỷ vừa qua trong tác phẩm “Public service reforms in Singaporre”
[cải cách dịch vụ công ở Singapore]; Kai Hong Phua tập trung vào đánh giá
những kinh nghiệm của Singapore trong lĩnh vực y tế trong công trình khoa
học “Health care financing options: lessons and innovations from the
Singapore system”. Những thành công trong cải cách lĩnh vực y tế công ở
Singapore thể hiện sự kết hợp hài hoà lợi ích công với lợi ích tư trong đầu tư
cho Luận án. Cho tới nay, chưa có một công trình nào trực tiếp bàn về cạnh
tranh đối với KVC hay liên quan tới đề tài này được lưu trữ trong các trung
tâm đào tạo và viện nghiên cứu lớn trong cả nước như Đại học kinh tế quốc
dân Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, Viện quản lý kinh tế Trung ương, Trường
đại học kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện chính trị và hành chính
quốc gia Hồ Chí Minh, Viện kinh tế Việt Nam, v.v. 7
Theo Danh mục đề tài và luận án của Đại học kinh tế quốc dân được
xuất bản mới đây, trong hơn 660 luận tiến sỹ và 1300 luận văn thạc sỹ chưa
có công trình nghiên cứu sâu về KVC nói chung và cạnh tranh đối với khu
vực này nói riêng. Tuy nhiên, Danh mục này cho thấy rằng đã có một số luận
án được bảo vệ về sự cạnh tranh trong một số ngành cụ thể, và về vai trò của
nhà nước trong điều tiết kinh tế và tạo môi trường cạnh tranh. Việc tra cứu
danh mục đề tài nghiên cứu và luận án được bảo vệ tại Trường đại học Kinh
tế, Đại học Quốc gia Hà nội cho thấy rằng đề tài cạnh tranh trong KVC chưa
được nghiên cứu.
Cơ sở dữ liệu của Viện quản lý kinh tế Trung ương hiện đang lưu trữ
một số tài liệu về KVC. Chẳng hạn, một số sách dịch từ nước ngoài thông qua
vài dự án tài trợ của Úc, Canada, Pháp, Thuỵ Điển về quản lý nhà nước đối
với các lĩnh vực trong nền kinh tế, trong đó có đề cập tới những vấn đề của
KVC. Rất tiếc rằng trong số tài liệu đó lại không có sách nghiên cứu sâu về
cạnh tranh đối với KVC của Việt Nam. Tuy nhiên, Viện đã công bố kết quả
dự án VIE 01/025: “Nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia” (2003). Trọng
tâm của công trình này là năng lực cạnh tranh Quốc gia. Song, một số thông
tin trong công trình này có ích cho luận giải một số khía cạnh về cạnh tranh
đối với KVC. Chẳng hạn, việc đánh giá tình trạng độc quyền nhà nước trong
một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng là những thông tin cần thiết cho luận án này.
Trong một số năm gần đây, trên diễn đàn khoa học đã xuất hiện một số
Mục đích chính của Luận án là phác họa bức tranh cạnh tranh đối với
KVC ở Việt Nam và luận giải hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh trong
khu vực này. Để đạt được mục tiêu cơ bản này, Luận án đặt ra 4 nhiệm vụ
quan trọng sau đây:
(1) Luận giải cơ sở lý luận cạnh tranh đối với khu vực công 9
(2) Giới thiệu những kinh nghiệm cần thiết về cạnh tranh đối với KVC
ở một số nước trên thế giới như cơ sở tham khảo cho Việt Nam
(3) Phân tích thực trạng cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam
(4) Đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC ở
Việt Nam trong thời gian tới
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Trọng tâm nghiên cứu của Luận án là “cạnh
tranh đối với KVC” trong việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ công (gọi tắt là
HHC), và một số loại hàng hóa và dịch vụ tư, (gọi tắt là HHT). HHC có thể
bao gồm những loại hàng hóa công thuần túy và những loại hàng hóa công
không thuần túy (tức là mang tính chất tư)
1
. Nội hàm “cạnh tranh đối với
KVC” thể hiện ý tưởng chủ đạo rằng sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các
chủ thể thuộc KVC với nhau mà còn diễn ra giữa các chủ thể công với chủ thể
tư, chủ thể liên doanh công tư và các chủ thể kinh tế khác.
Bằng phương pháp định tính là chủ yếu, Luận án chỉ tập trung xem xét
sự cạnh tranh của các chủ thể công với nhau, giữa chủ thể công với chủ thể tư
và chủ thể hỗn hợp công tư trong việc cung ứng HHC và một số HHT. Những
số liệu hay trường hợp minh họa cho nghiên cứu trong Luận án được giới hạn
trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng công ích (điện lực, bưu chính viễn thông,
giao thông) và hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục). Đây là những lĩnh vực cơ bản
Trong quá trình hoàn thành Luận án, nhiều công trình khoa học trong
và ngoài nước (ít nhiều) liên quan tới chủ đề này được tham khảo và tiếp thu
có phê phán. Đặc biệt, một số lượng lớn tài liệu nước ngoài được sưu tầm và
dịch thuật phục vụ cho Luận án này. Các loại tài liệu quý này được sưu tầm
thông qua nhiều kênh khác nhau trong nhiều năm nghiên cứu trong nước và
trong khoảng ba năm Tác giả nghiên cứu ở Australia.
6. Đóng góp khoa học của Luận án 11
Với những kết quả nghiên cứu, Luận án hy vọng sẽ đóng góp những ý
tưởng mới và thúc đẩy công tác nghiên cứu KVC ở Việt Nam theo chiều rộng
và chiều sâu của vấn đề:
i. Hệ thống hóa lý luận cạnh tranh đối với KVC, làm rõ những đặc
trưng, hình thức và kỹ thuật thúc đẩy cạnh tranh đối với KVC;
ii. Làm rõ thực trạng cạnh tranh đối với KVC ở Việt Nam thời gian
qua trên cơ sở đó chỉ rõ các vấn đề cần giải quyết.
iii. Xây dựng các nguyên tắc vận dụng cạnh tranh đối với KVC và thiết
kế hệ thống giải pháp thiết thực thúc đẩy cạnh tranh ở Việt Nam.
Những đóng góp khoa học này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng
cao nhận thức về tầm quan trọng của KVC, đặc biệt trong quan chức và
những người hoạch định chính sách để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu
vực này.
7. Kết cấu Luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận án được bố
cục thành 4 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cạnh tranh đối với khu vực công
Chương 2: Kinh nghiệm vận dụng cạnh tranh đối với khu vực công ở
một số nước
chức tập thể nhằm phục vụ lợi ích chung của mọi thành viên xã hội [72, tr.2].
Những hợp phần của KVC gồm các đặc trưng như sau: (i) những cơ quan và 13
tổ chức này do nhà nước thành lập nhằm phục vụ lợi ích chung mà nhà nước
theo đuổi và thông qua đó phục vụ công dân; (ii) mục tiêu và quy chế hoạt
động của chúng là do nhà nước quyết định thông qua quy trình chính trị và
hành chính; (iii) nguồn ngân sách đảm bảo hoạt động của các tổ chức này
được phân bổ từ nguồn thu nhập thuế quốc gia và địa phương và chịu sự giám
sát của nhà nước; (iv) nhà nước chịu trách nhiệm về những giao ước pháp lý
cho các thực thể hợp phần của mình và nắm quyền kiểm soát pháp lý về
những hoạt động của chúng.
Trong KVC, cơ chế phân bổ nguồn lực cơ bản là phi thị trường. Nói
cách khác, khu vực công thực hiện phân bổ nguồn lực không tuân thủ quy luật
thị trường. Ví dụ, việc triểnkhai các chương trình an ninh quốc phòng, cứu trợ
xã hội, kết cấu hạ tầng quốc gia, v.v. sẽ không tuân thủ các quy luật thị trường
và không thể phân phối như hàng hoá tiêu dùng tư nhân. Việc cung cấp những
loại hàng hoá này không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của khách hàng
tiêu dùng, tức là giá cả không đưa ra tín hiệu đúng cho điều chỉnh mặt cung.
Phần lớn loại hàng hoá do KVC cung ứng và sản xuất đều bảo đảm cho phép
tất cả thành viên xã hội cùng sử dụng chung với nhau không cần phân chia
khẩu phần, không phụ thuộc nhiều vào số lượng người tiêu dùng và khả năng
tiêu dùng của người khác. Nói ngắn ngọn, những sản phẩm của KVC nhằm
phục vụ lợi ích chung cho tất cả thành viên xã hội.
Hoạt động của các tổ chức thuộc KVC phải tuân thủ quy tắc và quy
định do nhà nước phê chuẩn. Công việc/chương trình được phê duyệt thông
qua một quy trình hành chính. Việc ra quyết định hay phủ quyết quyết định
phải dựa vào cơ chế đại diện [52, tr.198]. Người đại diện bỏ phiếu phê chuẩn
ngân sách công và cơ quan hành pháp triển khai chi tiêu nguồn tiền này. Phân 15 1.1.2. Quan niệm về hàng hoá công
Các tiêu chí cơ bản
2
để phân biệt HHC và HHT dựa trên tính chất tiêu
dùng của nó, thể hiện dưới hai khía cạnh: (i) tính loại trừ; (ii) tính tranh giành.
Tính loại trừ hàm ý trả lời câu hỏi: „có thể ngăn cản mọi người sử dụng
hàng hoá không?‟. Lợi ích của hàng hóa đem lại là rộng lớn, phổ quát cho
mọi người hưởng lợi hay chỉ giới hạn hẹp, riêng cho một cá thể nhất định.
Những hàng hoá không có tính loại trừ là những hàng hoá mà mọi người đều
có thể tiếp cận sử dụng nó mà không thể ngăn cản. Ví dụ, không khí trong
sạch là hàng hoá không loại trừ vì không thể loại trừ bất cứ ai trong xã hội
không thở, mọi người hít không khí thoải mái mà không phải trả tiền.
Những hàng hoá loại trừ là hàng hoá mà người chiếm hữu nó có thể dễ
dàng ngăn cản người khác sử dụng. Chẳng hạn, người sở hữu cái bánh có thể
không cho phép người khác sử dụng chiếc bánh đó, nếu muốn.
Tính tranh giành hàm nghĩa trả lời câu hỏi: „việc sử dụng hàng hoá của
người này có làm giảm khả năng tiêu dùng hàng hoá đó của người khác
không?‟. Hàng hoá tranh giành là những loại hàng hoá mà việc tiêu dùng của
người này sẽ hạn chế hoặc loại bỏ việc sử dụng đồng thời của người khác đối
với hàng hoá đó. Ví dụ, quả cam được người nào đó ăn rồi thì người khác
không còn thưởng thức nó được nữa. Đa số hàng hoá, lâu bền và không lâu
bền, đều có tính tranh giành.
Hàng hoá không tranh giành là những hàng hoá mà việc sử dụng của
còn lại trong xã hội.
HHC thuần tuý không thể phân bổ theo định suất để tiêu dùng và việc
hạn chế người sử dụng chúng dường như không thể hay vô cùng đắt đỏ. Đặc
tính khác của HHC thuần tuý là chi phí cận biên cho việc có thêm một người
sử dụng bằng 0, nên khi có thêm người sử dụng, mức độ sử dụng hàng hoá
của những người tiêu dùng còn lại không bị ảnh hưởng. Vì vậy, việc phân
chia theo suất hay khẩu phần cho người tiêu dùng là không cần thiết đối với
HHC thuần tuý. Hàng hoá này không thể chia theo khẩu phần bằng hệ thống 3
Stiglitz, J.E. cho rằng HHC thuần tuý có 2 đặc tính: không thể phân bổ theo khẩu phần để
sử dụng và không muốn sử dụng nó theo khẩu phần. Xét về thuật ngữ, đây là cách diễn đạt
khác của hai đặc tính mà chúng ta đang nói ở trên. 17
giá cả [52, tr.167]. Chẳng hạn, „quản lý nhà nước có hiệu lực‟ với tư cách là
HHC thuần tuý không thể chia ra từng định suất cho công dân và thu tiền sử
dụng theo giá cả thị trường. Quản lý nhà nước có hiệu lực sẽ đem lại lợi ích
chung cho toàn xã hội không loại trừ bất cứ công dân nào và mức độ hưởng
thụ của công dân này không ảnh hưởng gì tới khả năng sử dụng của công dân
khác.
Trong thực tế, ranh giới giữa HHT với HHC chỉ là tương đối. Trong
khoảng giữa hai cực HHT thuần tuý và HHC thuần tuý, tồn tại một số loại
hàng hóa được gọi là HHC không thuần tuý và/hay HHT không thuần tuý, tức
là có thể hội tụ không đủ hai tiêu chí nói trên hoặc sự kết hợp hai tiêu chí ở
giới hạn nhất định [52, tr.170].
Việc phân loại HHC mang ý nghĩa tương đối và phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như nhận thức về mức độ “công”, hoàn cảnh lịch sử, điều kiện thị
thuyền đi qua lại vùng biển này. Khi đó, ngọn hải đăng rõ ràng là HHC thuần
tuý. Nhưng giả định rằng một khi áp dụng công nghệ mới vào việc bật tắt thì
hải đăng không còn là HHC thuần tuý nữa bởi vì có khả năng loại trừ. Khi đó,
những tầu nào mua thiết bị đặc biệt nhận biết ánh sáng dẫn đường từ ngọn hải
đăng này mới có khả năng đi qua khu vực đó, còn tầu nào không mua thiết bị
này sẽ bị loại trừ ra khỏi việc sử dụng ngọn hải đăng đó.
Bảng 1.1: Phân loại hàng hoá công- tƣ
Tính tranh giành
Tính
loại
trừ
Có
Không
Có
Hàng hoá tƣ nhân
Kem
Quần áo
Những con đường đông đúc
có thu phí
Độc quyền tự nhiên
Phòng cháy
Truyền hình cáp
Những con đường thưa người
có thu phí
Không
Nguồn lực cộng đồng
Cá ở đại dương
Môi trường
Những con đường đông đúc