ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*****
TRẦN THỊ NGA QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP BƢU ĐIỆN LIÊN VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NHTM 3
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 3
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng 3
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng 4
1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng 5
1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
5
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng 5
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng 7
1.2.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 8
1.2.4. Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng 12
1.3. QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NHTM 13
1.3.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng 13
1.3.2. Sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng của NHTM 13
1.3.3. Nội dung quản lý rủi ro tín dụng 15
1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá quản lý rủi ro tín dụng 23
1.3.5. Các nhân tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
25
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP BƢU ĐIỆN BƢU ĐIỆN LIÊN VIỆT 31
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP BƢU ĐIỆN LIÊN VIỆT 31
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển 31
2.1.2. Cơ cấu tổ chức 32
2.1.3. Tình hình hoạt động và một số chỉ tiêu hoạt động chính 34
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
Ngân hàng Liên Việt
Ngân hàng TMCP Liên Việt
NHNN
Ngân hàng Nhà nƣớc
NHTM
Ngân hàng Thƣơng mại
TCTD
Tổ chức tín dụng
CBTD
Cán bộ tín dụng
RRTD
Rủi ro tín dụng
HĐQT
Hội đồng quản trị
QĐ
Quyết định
XLRR
Xử lý rủi ro
QPQ
Quyền phán quyết
DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
DPRR
Dự phòng rủi ro
ALCO
Uỷ ban quản lý tài sản nợ có
CIC
Trung tâm thông tin tín dụng
6
Bảng 2.5
Tỷ lệ nợ quá hạn
39
7
Bảng 2.6
Cơ cấu nhóm nợ
43
8
Bảng 2.7
Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
44
9
Bảng 2.8
Tỷ lệ dự phòng tổn thất tín dụng so với các khoản
nợ xấu
45
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) nói
chung, NHTM Việt Nam nói riêng, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động mang lại
nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động tiềm ẩn
nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ ảnh hƣởng đến khả năng thu hồi vốn vay,
làm ảnh hƣởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng, làm giảm khả năng
cung cấp vốn cho nền kinh tế và cuối cùng ảnh hƣởng đến lợi nhuận của ngân
TMCP Bƣu Điện Liên Việt.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Quản lý rủi ro tín dụng của NHTM.
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân
hàng TMCP Bƣu Điện Liên Việt từ khi thành lập đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, cùng với việc vận dụng các phƣơng pháp
luận nghiên cứu khoa học nhƣ: duy vật lịch sử, duy vật biện chứng… Luận văn
chú trọng sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học cụ thể nhƣ:
thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích dựa trên kết quả số liệu lấy từ báo cáo
thƣờng niên của ngân hàng
5. Bố cục Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn chia thành 3 chƣơng chính:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Bưu
Điện Liên Việt
Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt
3
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mƣợn, gồm cả cho vay và đi
vay. Mối quan hệ tín dụng bao gồm hai mặt cơ bản: (1) quan hệ vay mƣợn về
vốn giữa hai đối tác, (2) quan hệ hoàn trả.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mƣợn giữa ngân hàng với các cá nhân,
thông qua hoạt động tín dụng để cung cấp vốn cho các nhu cầu khác nhau trong
xã hội. Sự chênh lệch giữa tiền lãi thu đƣợc từ hoạt động cho vay với tiền lãi
phải trả từ hoạt động huy động chính là phần lợi nhuận từ hoạt động tín dụng.
Mặc dù đây chƣa phải toàn bộ lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt động ngân hàng nhƣng
lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng lợi nhuận
của ngân hàng.
Nhƣ vậy, hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM
bởi nó mang lại thu nhập từ lãi lớn nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên đây cũng là
hoạt động mang lại rủi ro cao nhất cho các NHTM.
- Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế:
Nhìn chung tín dụng ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế, nó thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn và phân bổ lại nguồn lực đầu
tƣ của xã hội vào các lĩnh vực của nền kinh tế một cách có hiệu quả. Tín dụng
của một hệ thống ngân hàng lành mạnh phản ánh năng lực hấp thụ vốn của nền
kinh tế quốc gia; mức rủi ro thấp của nền kinh tế chính là điều kiện để kêu gọi
các dòng vốn từ bên ngoài đầu tƣ vào để phát triển kinh tế đất nƣớc. Tuy nhiên
do các ngân hàng cho khách hàng vay đầu tƣ sản xuất kinh doanh thuộc nhiều
lĩnh vực nhƣ xây dựng, sản xuất công nghiệp, thƣơng nghiệp, tiêu dùng, dịch vụ
lữ hành nên sau khi cho vay thì quyền sở hữu vốn tạm thời tách khỏi quyền sử
dụng vốn, do vậy tính chủ động của Ngân hàng kém đi, dễ lâm vào thế bị động
5
đối với ngƣời vay vốn và có thể gặp rủi ro mất một phần vốn hay toàn bộ vốn.
1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều cách phân loại tín dụng, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu tôi xin
đƣa ra hai cách phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng là phân loại theo đối
tƣợng khách hàng.
Theo đối tƣợng khách hàng: Theo cách phân loại này thì tín dụng bao
gồm tín dụng khách hàng doanh nghiệp, tín dụng tổ chức tài chính và tín dụng
c
không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc, lãi và phí cho ngân hàng.
Theo Khoản 1, Điều 2 quyết định 493/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của
Thống đốc NHNNVN, đề cập khái niệm “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ
chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện
nghĩa vụ của mình theo cam kết”
Có thể có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về RRTD, song các quan
niệm về RRTD đều hội tụ với nhau về bản chất đó là: RRTD là khả năng (xác
suất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng
được cấp tín dụng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng
.
.RRTD có thể gây tổn thất về tài chính cho NHTM đó là làm giảm thu nhập ròng
và giảm giá trị thị trƣờng của vốn; trong trƣờng hợp nghiêm trọng sẽ dẫn tới thua
lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản Ngân hàng.
Cần phải có sự phân biệt giữa hai thuật ngữ đƣợc đề cập trong các khái
niệm về rủi ro tín dụng đó là rủi ro và tổn thất. Khi tahiểu rủi ro tín dụng theo
nghĩa xác suấtlà khả năng khách hàng không thực hiện đúng cam kết, khả năng
này
trên cơ sở mức độ xác xuất xảy ra nợ quá hạn, sẽ dẫn đến tình trạng: Thứ nhất,
những khoản cho vay mà theo xác xuất thực sự có rủi ro sẽ không đƣợc trích lập;
Thứ hai, làm mất tính chủ động trong quản trị rủi ro tín dụng, mức độ đáp ứng
của nguồn bù đắp rủi ro sẽ rất hạn chế, trong những trƣờng hợp có cú sốc thì
ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc chống đỡ rủi ro; Thứ ba, nó làm cho ngân
hàng không thể hiểu và đánh giá đúng mức độ rủi ro của mình, mặc dù trên thực
tế có những ngân hàng có nợ quá hạn rất thấp, nhƣng danh mục tín dụng lại rủi
ro rất lớn vì tập trung quá nhiều dƣ nợ vào nhóm khách hàng hay ngành rủi ro
phá sản cao. Đây chính là luận cứ xây dựng chính sách phân loại nợ, chủ động
trích lập qũi dự phòng và sử dụng quĩ này trong quá trình quản trị RRTD.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng đƣợc nhìn nhận dƣới 2 góc độ: Rủi ro khách quan và rủi
ro chủ quan.
1.2.2.1. Rủi ro khách quan.
Khi khách hàng nhận đồng vốn vay từ ngân hàng, họ sẽ dùng vốn vào các
mục đích nhƣ: đầu tƣ dây truyền sản xuất, mua nguyên vật liệu, bổ sung vốn
kinh doanh… Trong quá trình sản xuất kinh doanh tất yếu sẽ phát sinh các rủi ro
không mong muốn mà đôi khi khách hàng không lƣờng trƣớc đƣợc nhƣ:
- Rủi ro do nền kinh tế không ổn định.
- Rủi ro các thủ tục pháp lý ở các địa phƣơng còn rƣờm rà.
- Rủi ro thị trường bị bóp méo vì các hàng hóa nhập lậu. 8
1.2.2.2. Rủi ro chủ quan.
Rủi ro chủ quan đến từ cả hai phía là Ngân hàng và Doanh nghiệp.
- Đối với ngân hàng: Rủi ro chủ quan chủ yếu do năng lực thẩm định còn hạn
chế, số liệu thu thập thiếu sự chuẩn xác, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín
dụng bị bóp méo
trả nợ đúng hạn, họ chây ỳ với hy vọng có thể đƣợc xoá nợ, sử dụng vốn vay
càng lâu càng tốt.
1.2.3.3 Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng
Ngoài những nguyên nhân thuộc về chủ quan của phía đối tác (khách
hàng), những nguyên nhân chủ quan thuộc về ngân hàng đƣợc Uỷ ban Basel
(2000) đã thống kê cho thấy , nguồn gốc chủ yếu gây ra RRTD là mức độ tập
trung rủi ro và quy trình cấp tín dụng không lành mạnh.
Mức độ tập trung có thể coi là nguyên nhân quan trọng nhất trong vấn đề
RRTD. Rủi ro tập trung tín dụng tồn tại khi mức độ RRTD của một nội dung
trong danh mục tín dụng trở nên tƣơng đối lớn so với mức vốn hoặc tài sản của
ngân hàng. Rủi ro tập trung tín dụng không chỉ phụ thuộc vào giá trị tín dụng đã
cam kết, mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ mất vốn cao khi xảy ra rủi ro.
Rủi ro tập trung tín dụng gồm hai nhóm chính: Rủi ro tập trung tín dụng
thông thƣờng và rủi ro tập trung tín dụng dựa trên các yếu tố rủi ro chung hay
tƣơngquan. Rủi ro tập trung tín dụng thông thƣờng xảy ra khi tín dụng đƣợc tập
trung quá nhiều vào một khách hàng, nhóm khách hàng, hoặc ngành/lĩnh vực
nhƣ kinh doanh bất động sản, dầu mỏ, khí đốt.Trong khi đó, rủi ro tập trung tín
dụng do sự liên hệ qua lại của các yếu tố rủi ro lại liên quan nhiều đến các yếu tố
đặc thù, mà chỉ có thể phát hiện thông qua phân tích nhƣ giữa các thị trƣờng mới
nổi, rủi ro tín dụng và rủi ro thị trƣờng, các rủi ro này với rủi ro thanh khoản.
Điển hình cho loại rủi ro này là cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu á năm 1997
và cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế Mỹ từ cuối năm 2007 đến nay. Trong
cuộc khủng hoảng này, sự liên hệ rủi ro thị trƣờng và rủi ro tín dụng, cũng nhƣ
giữa rủi ro này với rủi ro thanh khoản, đã tạo ra các khoản lỗ/mất vốn rộng khắp.
11
cấp tín dụng. Bên cạnh đó, việc không có hệ thống kiểm định và đánh giá các kỹ
thuật tín dụng mới cũng đã gây ra nhiều rủi ro, cụ thể:
- Lạm dụng quá mức hệ thống chấm điểm tín dụng mà không có sự kiểm
định lại sự phù hợp của mô hình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ
bản gây ra sự sụp đổ thị trƣờng nhà đất Mỹ thời gian qua. Các quyết định cho
vay cá nhân hầu nhƣ phụ thuộc vào hệ thống chấm điểm - xếp hạng – ra hạn mức
cấp tín dụng mà không sử dụng đánh giá của cán bộ tín dụng cũng nhƣ không có
sự kiểm định lại mô hình dẫn đến sự phát triển quá mức của loại hình cho vay
thế chấp nhà. Khi các hộ gia đình không có khả năng trả nợ, đồng thời thị trƣờng
nhà đất suy giảm, hàng loạt các ngân hàng tham gia hoạt động này sụp đổ.
- Không theo dõi, giám sát thƣờng xuyên khách hàng hoặc tài sản bảo
đảm. Điều này làm cho ngân hàng không có cơ sở đƣa ra các biện pháp hành
động sớm nhằm ngăn chặn rủi ro.
- Kỹ thuật định giá theo rủi ro kém, tập trung quá nhiều vào điều kiện phi
giá (điều kiện tín dụng nhƣ hồ sơ, tài chính, tài sản bảo đảm…). Vấn đề này chủ
yếu ảnh hƣởng đến khả năng bù đắp của Ngân hàng trong trƣờng hợp có rủi ro
xảy ra.
- Không thận trọng với các thỏa thuận tín dụng có đòn cân nợ cao. Do đó,
khi khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh thì khả năng chống đỡ bằng vốn tự
có thấp, rủi ro chuyển về phía ngân hàng.
- Không tính đến chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế, chu kỳ sống của sản
phẩm hàng hoá, nhất là đối với các ngân hàng có mức độ tập trung cao vào lĩnh
vực bất động sản. Đây là sự yếu kém trong quản lý danh mục tín dụng.
- Không dự kiến phƣơng án trong trƣờng hợp xấu nhất, làm cho ngân
hàng không có sự chuẩn bị kỹ càng. Trong nhiều trƣờng hợp, việc có một cơ chế
hành động rõ ràng, đƣợc phổ biến và tập huấn thƣờng xuyên có thể giúp ngân
hàng phản ứng nhanh chóng, kịp thời và do đó có thể vƣợt qua đƣợc những cú
các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng đƣợc cấp; (3)Tốc độ tăng
trƣởng tín dụng quá nhanh, vƣợt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng nhƣ
13
nguồn vốn của ngân hàng; (4) Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo
để kẽ hở cho khách hàng lợi dụng; (5) Cung cấp tín dụng với khối lƣợng lớn cho
các khách hàng không thuộc phân đoạn thị trƣờng tối ƣu của ngân hàng; (6) Hồ
sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ hay tuân thủ không đầy đủ các quy
định hiện hành về phê duyệt tín dụng;
1.3. QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NHTM
1.3.1. Khái niệm quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý rủi ro tín dụng là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín
dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đƣa ra các
biện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu đƣợc đầy đủ cả gốc và
lãi của khoản vay, hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn.
1.3.2. Sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng của NHTM
- Rủi ro tín dụng là căn nguyên chủ yếu tạo ra các vấn đề của ngân hàng:
Sự đổ vỡ hàng loạt quỹ tín dụng tại Việt Nam trong những năm 1989-1990 do
chất lƣợng các khoản cho vay yếu kém, không thu hồi đƣợc. Những năm 1999 -
2000, cũng từ nguyên nhân này NHNN đã đặt một số ngân hàng TMCP vào tình
trạng giám sát đặc biệt, những vụ án lớn và việc xử lý một khối lƣợng hàng
ngàn tỷ đồng nợ tồn đọng của các ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc từ năm 2000
về trƣớc đều bắt nguồn từ những khoản cho vay khó đòi. Cuộc khủng hoảng tài
chính năm 1997 bắt nguồn từ Đông Nam Á đã làm cho nhiều ngân hàng ở Châu
Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, hoặc buộc phải sáp nhập, trong đó nguyên
nhân quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng tăng cao. Vì vậy, vấn
đề quản trị rủi ro tín dụng luôn luôn là vấn đề sống còn của NHTM.
- Mức độ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngày càng gia tăng: Tính cấp
trình chuyển đổi nhƣ Việt Nam, thì môi trƣờng kinh tế chƣa ổn định, hệ thống
pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động
ngân hàng càng trở nên rủi ro hơn, vì vậy việc bắt tay ngay từ đầu thực hiện tốt
công tác quản trị RRTD là một công việc tối quan trọng.
15
Quản lý rủi ro tốt là một lợi thế cạnh tranh và là công cụ tạo ra giá trị
của NHTM. “Hãy nói cho tôi biết bạn quản lý rủi ro ra sao, tôi sẽ nói Ngân hàng
bạn thế nào?” - Tiến sĩ S. L. Srinivasulu, Chủ tịch tập đoàn KESDEE Inc - nơi
cung cấp các giải pháp học tập trực tuyến (e-learning) về tài chính có trụ sở tại
California, Hoa Kỳ - nói nhƣ vậy để mở đầu câu chuyện về quản lý rủi ro trong
ngân hàng. Dù nền kinh tế thế giới đang hứng chịu hậu quả của sự “sơ suất”
trong công tác quản lý rủi ro của các ngân hàng, song điều ông Srinivasulu muốn
nói là: Hãy quay về những gì đơn giản nhất. Từ lâu, công tác quản trị rủi ro đƣợc
xem nhƣ là một chức năng nhằm thoả mãn yêu cầu tuân thủ pháp chế và kiểm
soát nội bộ. Dƣới góc nhìn này, rủi ro đƣợc xem nhƣ là “điều không mong muốn
nhƣng phải chấp nhận” trong kinh doanh, và hoạt động quản lý rủi ro đƣợc coi là
một trung tâm chi phí. Ông Srinivasulu cho rằng các ngân hàng nên chuyển
hƣớng tiếp cận ngƣợc lại: Quản trị rủi ro tốt chính là một nguồn lợi thế cạnh
tranh và là một công cụ tạo ra giá trị, cũng góp phần tạo ra các chiến lƣợc kinh
doanh hiệu quả hơn.
1.3.3. Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
Quá trình quản lý rủi ro bao gồm 4 nội dung: nhận biết; đo lường; quản
lý và kiểm soát, xử lý tổn thất. Mặc dù có sự phân đoạn trong qui trình quản lý
rủi ro tín dụng song một nguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu đƣợc phân ra
trong qui trình phải luôn có sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình
liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát đƣợc rủi ro theo mục tiêu đã định. RRTD
một khi đã xác định thì cần phải đƣợc phân tích, đo lƣờng và đƣa ra các biện
pháp quản lý theo dõi. Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản lý
Năng lực (Capacity). Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng khách hàng có
đủ tƣ cách pháp lý trong việc ký kết hợp đồng vay vốn.Ví dụ, ngƣời chƣa đủ 18
tuổi là ngƣời chƣa thành niên không có đủ tƣ cách pháp lý để lập một hợp đồng
tín dụng. Tƣơng tự, cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng ngƣời đại diện cho công
ty để tiến hành thoả thuận và ký kết hợp đồng tín dụng phải đƣợc phê chuâ
̉
n bơ
̉
i
17
cấp co
́
thâ
̉
m quyền theo quy đi
̣
nh ta
̣
i điều lê
̣
công ty , phù hợp với quy định của
pháp luật.
Dòng tiền mặt (Cash folow). Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng đối
với một yêu cầu xin vay và thƣờng tập trung vào câu hỏi: Liệu ngƣời vay có khả
năng tạo ra một dòng tiền mặt đủ lớn để đáp ứng yêu cầu hoàn trả cho ngân hàng
món vay không? Nhìn chung khách hàng vay vốn chỉ có ba nguồn có thể đƣợc
sử dụng để hoàn trả khoản vay: (a) Dòng tiền mặt từ doanh thu bán hàng hoặc
thu nhập, (b) dòng tiền từ việc bán tài sản, (c) các nguồn vốn huy động bằng
của một khách hàng là sự kiểm soát, nó tập trung vào các câu hỏi nhƣ: Liệu
những thay đổi khi chính sách đƣa ra quy định mới có ảnh hƣởng bất lợi đến
ngƣời vay không và liệu khách hàng có đáp ứng đƣợc tiêu chuẩn chất lƣợng tín
dụng do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra?
1.3.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lƣờng rủi ro tín dụng là bƣớc tiếp theo sau khi đã phát hiện đƣợc nguy
cơ rủi ro. Trên thực tế các bƣớc này khá gần gũi với nhau và thƣờng đƣợc gộp
chung lại trong quá trình thực hiện tác nghiệp. Mục đích của các bƣớc này là
giúp cho toàn bộ bộ máy quản trị rủi ro hiểu chính xác và nhất quán nguy cơ rủi
ro đã xác định, phân tích rõ nguyên nhân và quan trọng nhất là lƣợng hoá mức
độ rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng để định giá rủi ro có thể chấp nhận
đƣợc; trích lập dự phòng rủi ro.
Để duy trì một quá trình quản lý, đo lƣờng và theo dõi tín dụng phù hợp,
theo thông lệ tốt nhất do ủy ban Basel (2000) đề xuất, ngân hàng phải tuân thủ
các nguyên tắc sau:
Nguyên tắc 1: Ngân hàng cần có hệ thống quản lý liên tục các danh mục
đầu tƣ có rủi ro tín dụng.
Nguyên tắc 2: Ngân hàng cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng
khoản tín dụng, bao gồm xác định mức độ đủ dự phòng và dự trữ.
Nguyên tắc 3: Khuyến khích các Ngân hàng phát triển và sử dụng hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng. Hệ thống xếp hạng