ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
O0O
ĐẶNG XUÂN THẮNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI
CÁC PHÒNG BAN CHUYÊN MÔN THUỘC ĐÀI
PHÁT THANH – TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ XUÂN ĐÌNH
Đặng Xuân Thắng 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Đặng Xuân Thắng
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển NNL của một số đơn vị trong nƣớc 37
1.2.1. Bài học rút ra cho Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội 39
Chƣơng 2:THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NNL CÁC BAN CHUYÊN MÔN THUỘC ĐÀI
PHÁT THANH-TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI 42
2.1. Tổng quan về Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội 42
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội……… 42
2.1.2. Vị trí chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Đài PT – TH Hà Nội 43
2.1.3. Cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của Đài PT – TH Hà Nội 44
2.1.4. Các yếu tố tác động đến công tác phát triển nguồn nhân lực
của Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội 49
2.2. Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực tại các phòng ban chuyên môn
thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội 55
2.2.1. Về quy mô và cơ cấu 55
2.2.2. Thực trạng về Công tác tuyển dụng và quy hoạch, bổ nhiệm lại cán bộ tại Đài Phát thanh –
Truyền hình Hà Nội 61
2.2.3. Thực trạng về cơ chế quản lý và chính sách sử dụng, đãi ngộ 64
4
2.2.4. Công tác đào tạo, bồi dƣỡng 67
2.3. Đánh giá chung 68
2.3.1. Những kết quả đạt được 68
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế 70
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 71
2.3.4. Những vấn đề đặt ra cho sự phát triển NNL các phòng ban chuyên môn thuộc Đài Phát
thanh và Truyền hình Hà Nội 72
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC
PHÒNG BAN CHUYÊN MÔN THUỘC ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI
TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NAY ĐẾN 2020 76
3.1. Định hƣớng mục tiêu phát triển nguồn nhân lực các phòng ban chuyên môn của Đài
Phát thanh - Truyền hình Hà Nội 76
1
CCNNL
Cơ cấu nguồn nhân lực
2
CMNV
Chuyên môn nghiệp vụ
3
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
4
GD-ĐT
Giáo dục – Đào tạo
5
KH-CN
Khoa học - Công nghệ
6
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
7
NN-CN-DV
Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ
8
NNL
Nguồn nhân lực
9
NNL PT-TH
Nguồn nhân lực phát thanh truyền hình
10
NSLĐ
Năng suất lao động
NNL theo giới tính và độ tuổi
57
3
Bảng 2.3
Thống kê số lƣợng cán bộ cơ cấu
NNL theo trình độ đào tạo
58
4
Bảng 2.4
Thống kê số lƣợng cán bộ cơ cấu
NNL theo trình độ lý luận
chính trị và theo ngạch bậc
60
5
Bảng 3.1
Danh mục các dự án đầu tƣ giai
đoạn 2011 – 2015
82
6
Bảng 3.2
Danh mục các dự án đầu tƣ giai
đoạn 2016 – 2020
83
Đổi mới về công nghệ truyền hình là xu thế tất yếu của các Đài phát thanh,
truyền hình trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Mục đích là nâng cao
chất lƣợng sản phẩm, thoả mãn tối đa nhu cầu thông tin và giải trí của khách hàng.
Khách hàng của phát thanh và truyền hình ngày nay có nhiều sự lựa chọn để
8
thƣởng thức các kênh, các chƣơng trình truyền hình yêu thích qua nhiều hình thức
khác nhau.
Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, giữ vững uy tín và thƣơng hiệu,
đòi hỏi các nhà cung cấp phải rất nỗ lực, trong đó nhân tố con ngƣời là đặc biệt
quan trọng. Đó là những nhà quản lý, là các phóng viên, biên tập viên, các kỹ thuật
viên đƣợc đào tạo bài bản, có kỹ năng làm việc chuyên nghiệp. Tuy nhiên, các nhà
cung cấp phát thanh, truyền hình nói chung, Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội
nói riêng gặp rất nhiều khó khăn trong quản lý, đào tạo, sử dụng và phát triển
nguồn nhân lực. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực các phòng ban
chuyên môn thuộc Đài đã không đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của đơn vị.
Lãnh đạo và tập thể cán bộ công chức, viên chức của Đài Phát thanh - Truyền
hình Hà Nội đang nỗ lực xây dựng Đài xứng tầm với Thủ đô, phấn đấu trở thành
một tập đoàn truyền thông để làm tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin, tuyên truyền
chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc, là diễn đàn
của nhân dân; làm tốt chức năng giáo dục, nâng cao dân trí, giải trí, góp phần nâng
cao đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân.
Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội trong giai đoạn tới cần phải thực hiện
đủ số lƣợng kênh sóng với nội dung chƣơng trình phát thanh và truyền hình có chất
lƣợng cao, thể hiện rõ bản sắc và phong cách báo chí Hà Nội, đáp ứng yêu cầu
tuyên truyền, giáo dục giải trí; góp phần ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh
tế, nâng cao dân trí, bảo vệ và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của Hà Nội,
phục vụ đồng bào Thủ đô, góp phần phục vụ đồng bào khu vực và cả nƣớc. Để đáp
ứng đƣợc mục tiêu trên cần phải có một nguồn nhân lực đủ về số lƣợng, cơ cấu và
có chất lƣợng cao, trong đó đội ngũ nhân lực công chức, viên chức các phòng ban
lƣợng nguồn nhân lực cảu Việt nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nƣớc trong xu
thế hội nhập chứ chƣa đƣa ra đƣợc các khái niệm và giả pháp cụ thể cho một ngành
hoặc một tổ chức cơ quan nhà nƣớc, địa phƣơng nào
Ở quy mô cấp cơ quan nhà nƣớc và địa phƣơng hiện nay cung có một số đề
tài nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực dƣới nhiều góc độ khác nhau trong
ngành phát thanh truyền hình và một số ngành khác nhƣ:
10
- “Nâng cao hiệu quả công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức của Đài
Tiếng nói Việt Nam” Đề tài NCKH của Thạc sỹ Nguyễn Tiến Long Giám đốc trung
tâm đào tạo và bồi dƣỡng – Đài TNVN. Công trình này chỉ dừng lại ở nội dung
nghiên cứu trong lĩnh vực đào tạo bồi dƣỡng ở phạm vi nghiên cứu là Đài Tiếng
nói Việt Nam, còn lại các nôi dung khác của phát triển NNL thì tác giả chƣa đề cập
đến.
- “Chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch trong giai đoạn
2011 - 2020” - công trình NCKH do bộ Thể thao và du lịch chủ trì. Chiến lƣợc đã
phân tích đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua, đồng
thời đƣa ra phƣơng hƣớng mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp đẩy mạnh phát triển
NNL du lịch Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Tuy nhiên, chiến lƣợc đã không định
hƣớng cụ thể đƣợc cho từng cơ quan, địa phƣơng đáp ứng nhu cầu phát triển trong
xu thế hội nhập.
Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu một số tài liệu có liên quan làm căn cứ xác
định khung nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực cho các phòng ban chuyên
môn thuộc Đài. Thông qua các số liệu thống kê, các báo cáo các nghiên cứu đƣợc
chắt lọc từ sách, báo, tạp chí liên quan đến thực trạng phát triển nguồn nhân lực các
phòng ban chuyên môn thuộc Đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội. Trên thực tế
có khá ít các công trình nghiên cứu về phát triển NNL cho các tổ chức, đơn vị trong
ngành phát thanh truyền hình. Vì vậy, Phát triển nguồn nhân lực các phòng ban
chuyên môn tại Đài Phát thanh – Truyền hình Hà Nội có nghĩa thiết thực và có thể
áp dụng vào thực tiễn của đơn vị.
+ Về phạm vi thời gian nghiên cứu của đề tài: Giới hạn khảo sát giai đoạn
2008 - 2012 để đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân tại
các phòng ban chuyên môn thuộc Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội. Các giải
pháp đƣợc xây dựng cho thời kỳ đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, đề tài dự kiến sử dụng các
phƣơng pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp luận
12
+ Phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Các vấn đề của đề tài
phải đƣợc phân tích trong mối quan hệ biện chứng logíc để làm rõ các mối quan hệ
nguyên nhân - kết quả.
+ Phƣơng pháp hệ thống - cấu trúc: Bản thân vấn đề về nhân lực và nguồn
nhân lực đều mang tính hệ thống vì nó liên quan đến các yếu tố đầu vào, đầu ra.
Phƣơng pháp hệ thống còn cho phép luận chứng giải pháp mang tính toàn diện, cụ
thể, khả thi.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phƣơng pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: thông qua các hệ thống văn bản
pháp luật, các nghiên cứu có liên quan làm căn cứ xác định khung nguồn nhân lực
và phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các số liệu thống kê, các báo cáo các
nghiên cứu đƣợc chắt lọc từ sách, báo, tạp chí liên quan đến nguồn nhân lực và
thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại các phòng ban chuyên môn thuộc Đài Phát
thanh và Truyền hình Hà Nội.
- Phƣơng pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Đƣợc thực hiện qua 2 hình thức
nghiên cứu cụ thể sau
+ Phƣơng pháp phân tích: Sử dụng trong phân tích, đánh giá các sự vật, hiện
tƣợng, số liệu thu thập đƣợc.
+ Phƣơng pháp tổng hợp: Sử dụng để khái quát các quan điểm lý luận khác
nhau, các hiện tƣợng rời rạc để đƣa ra các kết luận đảm bảo độ chân thực, khách
Chƣơng 2:THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÁC
PHÒNG BAN CHUYÊN MÔN THUỘC ĐÀI PHÁT THANH -
TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TẠI CÁC PHÒNG BAN CHUYÊN MÔN THUỘC ĐÀI PHÁT
THANH - TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NAY
ĐẾN 2020
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC TRONG NGÀNH PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH
14
1.1. Nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Quản lý, quản trị hiện đại rất coi trọng nguồn nhân lực. Trong lý luận quản lý
và kinh tế học, nếu nhƣ các thuật ngữ “nhân lực”, “lao động” đã đƣợc sử dụng từ
lâu thì thuật ngữ “nguồn nhân lực” mới xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX
khi có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh
tế lao động. Nếu nhƣ trƣớc đây phƣơng thức quản trị nhân viên với các đặc trƣng
coi nhân viên là lực lƣợng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động
của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay với phƣơng thức mới,
quản lý nguồn nhân lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện
tốt hơn để ngƣời lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm
tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát
triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ "nguồn nhân lực" là một trong những
biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phƣơng thức quản lý mới đối với phƣơng
thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con ngƣời.
Tuy nhiên, khái niệm nguồn nhân lực vẫn đƣợc hiểu theo nhiều cách khác
nhau: Theo báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu
hoá đối với nguồn nhân lực đã đƣa ra định nghĩa: Nguồn nhân lực là trình độ lành
năng khiếu… không chỉ do thiên bẩm mà còn phụ thuộc vào quá trình rèn luyện,
phấn đấu, tu dƣỡng của mỗi cá nhân.
- Thể lực của con ngƣời bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp, mà còn là sự
dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của ý chí, là khả năng vận động của
trí lực. Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phƣơng tiện
tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn để biến tri thức thành sức
mạnh vật chất. Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy đƣợc lợi thế khi thể
lực con ngƣời đƣợc phát triển. Nói cách khác, trí tuệ là tài sản quý giá nhất trong
mọi tài sản, nhƣng chính sức khỏe là một tiền đề cần thiết để làm ra tài sản đó.Từ
những phân tích và các khái niệm nêu trên có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tiềm
năng lao động của con người trên các mặt số lượng, cơ cấu và chất lượng, bao
gồm phẩm chất và năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH trong phạm vi
quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương hay ngành, và năng lực cạnh tranh trong
phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế .
16
Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực không thể không xét đến yếu tố nhân cách
thẩm mỹ, quan điểm sống. Những yếu tố này biểu hiện một loạt các giá tri về
ngƣời lao động nhƣ: đạo đức, tác phong, sự năng động, tính kỷ luật và tinh thần
trách nhiệm trong công việc, khả năng hợp tác làm việc theo nhóm…Trong đó,
đạo đức đóng vai trò quan trọng vì nó đem lại cho con ngƣời khả năng thực hiện
tốt hơn các chức năng xã hội và nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong hoạt
động thực tiễn.
Nhƣ vậy, khi nói đến nguồn nhân lực là nói đến sự kết hợp hài hòa giữa ba
yếu tố trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ. Đây là các yếu tố cơ bản nhất
hƣớng ngƣời lao động đến sự phát triển toàn diện.
1.1.2. Các nhân tố cấu thành nguồn nhân lực
Một là, tình trạng sức khỏe.
Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con ngƣời cả về thể chất lẫn tinh thần
(sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần).
Khi nói tới NNL, ngoài thể lực và trí lực của con ngƣời cũng cần phải nói tới
kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn; bởi vì kinh nghiệm sống, đặc biệt là
những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con ngƣời, đó là nhu cầu và thói quen
vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của cộng đồng vào việc tìm
tòi, cách tân các hoạt động, các giải pháp mới trong công việc nhƣ một sự sáng tạo
văn hóa; đồng thời, nói đến NNL tức là nói đến con ngƣời thì yếu tố quan trọng
không thể bỏ qua đó là phẩm chất đạo đức, thái độ và phong cách làm việc của con
ngƣời. Trƣớc đây chúng ta thƣờng hiểu NNL đơn giản chỉ là sức ngƣời với thể lực
và trí lực của họ.
Sáu là, Môi trường làm việc của người lao động.
Có một môi trƣờng làm việc phù hợp không chỉ làm tăng hiệu suất công việc,
mà còn tạo ra sự gắn kết nhân viên với các tổ chức, doanh nghiệp một cách bền
vững. Đây không phải câu chuyện một phía từ nhà quản lý hay nhân viên, mà đòi
hỏi có sự chia sẻ, đồng thuận để cùng gây dựng. Để có một môi trƣờng làm việc
phù hợp tổ chức, doanh nghiệp cần phải xây dựng đƣợc môi trƣờng làm việc lý
tƣởng, điều Nhân viên quan tâm đến là gì? Và đặt ra yêu cầu cụ thể đối với các nhà
18
quản lý. Môi trƣờng làm việc lý tƣởng đƣợc xem là mục tiêu hƣớng đến của nhiều
doanh nghiệp.
Theo quan điểm của một số chuyên gia trong lĩnh vự quản trị nhân sự thì
trong quá trình tƣ vấn giúp các doanh nghiệp giải quyết các vấn đề liên quan đến
việc duy trì nhân sự và quản trị nguồn nhân lực, thì “Việc đƣa ra khái niệm chính
xác về môi trƣờng làm việc lý tƣởng không hề đơn giản mà phụ thuộc vào từng tổ
chức, doanh nghiệp và nhóm ngƣời lao động khác nhau”.
Điều này phù hợp với thực tế, bởi các nhóm lao động có độ tuổi, trình độ và cá
tính khác nhau. Với những lao động mới ra trƣờng, ít kinh nghiệm, họ quan tâm cơ
hội học hỏi, lƣơng bổng, hơn là thăng tiến và những chế độ phúc lợi khác. Còn đối
với những lao động làm việc có thâm niên lại quan tâm đến định hƣớng của tổ
chức, sự thân thiện trong cơ quan, sự quan tâm của ban lãnh đạo cũng nhƣ cơ hội
tâm đến mọi ngƣời, biết cách gieo mầm và nuôi dƣỡng nền văn hóa cũng nhƣ tạo
đƣợc bầu không khí giao tiếp thân thiện, cởi mở sẽ kích thích ngƣời lao động phát
huy năng lực làm việc và sáng tạo, đem lại hiệu suất cao trong công việc.
Thứ năm là quan tâm hiện đại hóa môi trƣờng làm việc: Đầu tƣ văn
phòng, trang thiết bị làm việc hiện đại. Tích cực đổi mới và ứng dụng các công
nghệ hiện đại, chủ động và sẵn sàng đón nhận thành tựu khoa học mới, nhƣ những
công cụ đắc lực góp phần động viên tinh thần làm việc và tăng năng suất cho ngƣời
lao động.
1.1.3. Phát triển NNL trong ngành phát thanh và truyền hình
1.1.3.1. Khái niệm phát triển NNL trong ngành phát thanh và truyền hình
Khái niệm phát triển nguồn nhân lực: Cũng giống nhƣ khái niệm
nguồn nhân lực, khái niệm phát triển nguồn nhân lực là một khái niệm còn khá mới
mẻ và có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo ILO (International Labour Organization – Tổ chức Lao động quốc tế): “
Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc
ngay cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực
đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp
và cuộc sống cá nhân”. Quan điểm này xem xét phát triển nguồn nhân lực ở một
20
phạm vi rộng. Nó không chỉ ở phƣơng diện trình độ lành nghề mà là phát triển
năng lực theo nghĩa đầy đủ cho ngƣời lao động. Sự lành nghề theo họ là quá trình
hoàn thiện nhằm bổ sung, nâng cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc
nhằm đáp ứng những kỳ vọng của con ngƣời.
Theo GS.TSKH Nguyễn Minh Đƣờng ủy viên hội đồng quốc gia giáo dục và
phát triển nhân lực “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là gia tăng giá trị cho
con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn
để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, làm giàu cho đất nước, góp
phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần
tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại. Do vậy, phát triển nguồn
càng tố hơn của các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phát thanh
truyền hình. Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phƣơng pháp,
chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao sức lao động xã hội nhằm
đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển của các tổ chức, doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực phát thanh truyền hình.
Nguồn nhân lực tại các phòng ban chuyên môn thuộc Đài Phát thanh
Truyền hình Hà Nội.
Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ và
chính quyền thành phố Hà Nội và trực thuộc UBND thành phố Hà Nội quản lý. Các
phòng ban chuyên môn thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội chính là các
đơn vị thuộc cơ quan hành chính nhà nƣớc. Nguồn nhân lực tại các đơn vị này gồm
đội ngũ cán bộ công chức, viên chức hành chính nhà nƣớc là: Phóng viên, biên tập
viên, phát thanh viên, kỹ thuật viên và chuyên viên. Họ có đặc điểm, vai trò của
công chức, viên chức hành chính nhà nƣớc. Vì vậy, nguồn nhân lực các phòng ban
chuyên môn thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội có thể hiểu là: Đội ngũ cán
bộ công chức, viên chức đang làm việc tại các phòng, ban chuyên môn thuộc Đài
Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, đảm nhận chức năng quản lý nhà nước thuộc
22
Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội và thực hiện nhiệm vụ theo chức năng nhiệm
vụ đã được Ban Tổng giám đốc Đài phân công cho các phòng ban đó.
1.1.3.2. Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong ngành phát thanh và
truyền hình.
a) Quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực
Mặc dù có những khái niệm khác nhau, những cách nhìn nhận khác nhau về
NNL. Tuy nhiên nói đến phát triển NNL phải nói đến quy mô và cơ cấu của NNL đó
là các nội dung: kiểm soát về số lƣợng, nâng cao chất lƣợng, chuyển dịch CCNNL.
Phát triển nguồn nhân lực trong ngành phát thanh và truyền hình cũng vậy nội dung
của nó cũng cũng bao gồm các vấn đề sau đây:
Kiểm soát về số lƣợng NNL
đó. Thể chất hay sức khoẻ: đó là trạng thái sức khoẻ của con ngƣời biểu hiện ở sự
phát triển sinh học, không có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao động
- nghề nghiệp nào đó, có sức khoẻ để tiếp tục học tập, làm việc lâu dài…Thể lực
không khỏe mạnh sẽ hạn chế lớn sự phát triển trí lực, trí tuệ của cá nhân và của
cộng đồng xã hội nói chung. Sức khởe là điều kiện tiên quyết để con ngƣời có thể
tham gia lao động cũng nhƣ các hoạt động khác. Vì vậy để nâng cao chất lƣợng
NNL chúng ta cần đặc biệt quan tâm đến sức khoẻ. Trƣớc tiên đó là chế độ dinh
dƣỡng. Dinh dƣỡng cần thiết cho con ngƣời. Thiếu dinh dƣỡng dẫn đến thể lực ốm
yếu, ảnh hƣởng nghiêm trọng đến khả năng lao động và học tập, tác động tiêu cực
đến chất lƣợng NNL. Nhiều ngƣời cho rằng thiếu dinh dƣỡng hay suy dinh dƣỡng
là việc của ngƣời nghèo. Nhƣng không phải, đó là vấn đề chung của xã hội, bởi
trong thời đại ngày nay khi những gia đình giàu có không biết bố trí bữa ăn sao cho
hợp lý, cân bằng thì dẫn đến các thành viên trong gia đình sẽ mất cân bằng trong
dinh dƣỡng. Do đó sẽ ảnh hƣởng đến sức khoẻ cũng nhƣ chất lƣợng lao động.
Ngoài vấn đề dinh dƣỡng, sự phát triển tính hiệu quả của hệ thống y tế chăm
sóc sức khoẻ có ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ của các thế hệ của NNL. Chăm
sóc y tế tác động đến chất lƣợng NNL thể hiện ở các mặt sau:
- Thông qua chăm sóc sức khoẻ trẻ em, sức khoẻ sinh sản tƣ vấn dinh dƣỡng
24
phòng bệnh tật tạo ra khả năng đảm bảo cho các thế hệ nhân lực tƣơng lai có thể
lực tinh thần khoẻ mạnh.
- Không ngừng nâng cao năng lực của mạng lƣới y tế (đội ngũ thầy thuốc,
thuốc men, trang thiết bị y tế ), áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào dự phòng và chữa
bệnh cho nhân dân sẽ có tác động đến nâng cao tuổi thọ, sức khoẻ dân cƣ. Từ đó
làm nâng cao chất lƣợng NNL.
- Cơ chế chính sách phù hợp sẽ tạo cơ hội cho các tầng lớp dân cƣ, ngƣời lao
động đều có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế, kể cả dịch vụ tƣ vấn chăm sóc
về mặt dinh dƣỡng, phòng bệnh thƣờng xuyên và do đó sẽ có tác động đến chất
lƣợng NNL ở phạm vi rộng hơn.