Quản lý chi ngân sách nhà nước tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

TẠ ĐỨC SƠN
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI
HUYỆN TÂN SƠN - TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 603401

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Tạ Đức Sơn MỤC LỤC
MỞ ĐẦU V
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC CẤP HUYỆN VÀ KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG 7
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ
NƢỚC CẤP HUYỆN 7
1.1.1. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 7
1.1.2. Đặc điểm của quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 12
1.1.3. Vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 14
1.1.4. Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 14
1.1.5. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 26
1.1.6. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện 27
1.2. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Ở MỘT SỐ
THÀNH PHỐ, THỊ XÃ TRỰC THUỘC TỈNH VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO
HUYỆN TÂN SƠN. 28
1.2.1. Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước ở thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 28
1.2.2. Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước ở thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. 30
1.2.3. Bài học rút ra cho huyện Tân Sơn trong quản lý chi ngân sách nhà nước 31
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 33
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG CHI
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 33

3.2.3. Nâng cao ý thức, trình độ của đối tượng sử dụng ngân sách nhà nước 78
3.2.4. Các giải pháp khác 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
3
GPMB
Giải phóng mặt bằng
4
HCSN
Hành chính sự nghiệp
5
HĐND
Hội đồng nhân dân
6
KBNN
Kho bạc nhà nước
7
KT-XH
Kinh tế -xã hội
8
NSĐP
Ngân sách địa phương
9
NSNN
Ngân sách nhà nước
10
QLHC
Quản lý hành chính
11
SN
Sự nghiệp
12
TC-KH
Tài chính - Kế hoạch

của huyện Tân Sơn

5
Bảng 2.5
Tổng hợp chi thường xuyên của
huyện Tân Sơn (2008-2012)

6
Bảng 2.6
Dự toán chi đầu tư XDCB của
huyện Tân Sơn (2008 - 2012)

7
Bảng 2.7
Thực hiện chi đầu tư XDCB của
huyện Tân Sơn
1
Sơ đồ 1.1
Tổ chức bộ máy quản lý chi NSNN
cấp huyện
kinh tế chính là ngân sách nhà nước (NSNN). Hoạt động quản lý ngân sách (NS) đã
có những bước cải cách, hoàn thiện và đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận:
tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia;
xây dựng NSNN lành mạnh; thúc đẩy sử dụng vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm,
hiệu quả; tăng tích lũy để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp
phần vào đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Đối với hệ thống ngân sách nhà nước, quản lý chi ngân sách nhà nước đóng
vai trò quan trọng, bởi đây là vấn đề nhạy cảm được toàn xã hội quan tâm, nếu thực
hiện không tốt công tác quản lý chi ngân sách sẽ dẫn đến hệ lụy như suy thoái về đạo
đức cán bộ, công chức quản lý, thất thoát tiền của nhà nước, đời sống xã hội gặp
nhiều khó khăn, thâm hụt ngân sách, xảy ra lãng phí, tiêu cực…Vì vậy, quản lý chặt
chẽ nguồn ngân sách nhà nước sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách
nhà nước.
Ngân sách huyện chính là một bộ phận cấu thành của NSNN và là
công cụ để chính quyền cấp huyện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn trong quá trình quản lý kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, quá trình quản lý NS các cấp, trong đó có cấp huyện,
thành phố, thị xã vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu
mà Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 đã đặt ra.
Tân Sơn là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ, được thành lập và đi vào
hoạt động từ ngày 01/05/2007, với đặc thù là huyện đặc biệt khó khăn theo Nghị
quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo
nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, đời sống nhân dân huyện Tân Sơn
chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp; phát triển du lịch, dịch vụ còn nhỏ
lẻ mới chỉ dừng lại ở mức sơ khai, tự phát; nguồn thu và các khoản chi hoạt
động thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản và các khoản chi khác trên địa
bàn huyện vẫn chủ yếu dựa vào nguồn trợ cấp ngân sách của tỉnh. Do đó, việc
quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các khoản chi NSNN, đảm bảo đáp ứng kịp

Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012.
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên qua
Kho bạc nhà nước Khánh Hòa” của tác giả Đỗ Thị Thu Trang, Đại học Đà
Nẵng, năm 2012.
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn
thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa” của tác giả Nguyễn Thị Mai Phương, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2008.
- Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa
bàn thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình” của tác giả Đinh Phương Liên, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2012.
- Luận văn thạc sỹ “ Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách Nhà nước
trên địa bàn Tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương, Trường Đại
học kinh tế quốc dân, năm 2007.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới nhiều khía cạnh trong quản lý
NSNN nói chung, cũng như quản lý NSNN cấp tỉnh và cấp huyện, thành phố trực
thuộc tỉnh nói riêng, đã đưa ra được thực trạng và những giải pháp cơ bản nhằm
hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý thu, chi NS trong thời gian tới.
Luận án tiến sĩ của tác giả Tô Thị Hiền đã khái quát được công tác quản lý
ngân sách cấp tỉnh nói riêng và từ đó rút ra những lý luận tương đối cơ bản về
quản lý thu chi ngân sách nói chung trong giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn đến
năm 2020.
Hai luận văn thạc sỹ của tác giả Đinh Phương Liên và Phan Thị Thanh
Hương cũng nghiên cứu về quản lý chi NSNN của thành phố trực thuộc tỉnh trên
từng địa bàn riêng biệt, tuy nhiên chưa đưa ra được một số vấn đề lý luận cụ thể về quản lý chi NSNN cấp thành phố trực thuộc tỉnh và cấp huyện như: vai trò,
nguyên tắc, mục tiêu và mô hình tổ chức bộ máy quản lý. Mặt khác, mỗi một địa
phương có một đặc thù khác nhau và trong từng giai đoạn phát triển KT-XH thì
nhiệm vụ quản lý chi NSNN cũng khác nhau. Xét riêng huyện Tân Sơn, tỉnh Phú

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quản lý nhà nước
về lĩnh vực ngân sách, mà cụ thể là quản lý chi NSNN.
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp thống kê, phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh…
Sử dụng các bảng biểu so sánh để làm tăng tính trực quan và sức thuyết
phục của đề tài.
6. Dự kiến những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Hệ thống hóa có chọn lọc các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chi
NSNN cấp huyện nói chung, cũng như các huyện nghèo nói riêng.
- Phân tích, đánh giá rõ thực trạng công tác quản lý chi NSNN huyện Tân
Sơn.
- Đưa ra những đề xuất, giải pháp và kiến nghị đối với các cấp, các ngành
để hoàn thiện tốt hơn công tác quản lý chi NSNN cấp huyện nói chung và của
huyện Tân Sơn nói riêng trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy phát triển KT-
XH của huyện Tân Sơn trong những năm tiếp theo.
- Tổng hợp, phân tích những đề xuất,giải pháp kiến nghị thành lý luận
chung đối với quản lý ngân sách cấp huyện ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu bao gồm 3 chương, như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cấp huyện
và kinh nghiệm một địa phương
Chương II: Thực trạng quản lý chi ngân sách Nhà nước huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân
sách Nhà nước của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ


Xét về biểu hiện bên ngoài, NSNN là một bản dự toán thu, chi bằng tiền
của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm.
Xét về bản chất kinh tế: Bản chất kinh tế của NSNN là mối quan hệ về lợi
ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ
NSNN. Để tạo lập được một NSNN bền vững, các chủ thể quản lý tài chính
công phải giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nước và các chủ
thể trong nền kinh tế.
Tóm lại, có thể hiểu một cách khái quát: Xét về hình thức, biểu hiện bên
ngoài của NSNN là một bản dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một
khoảng thời gian nhất định. Xét về mặt bản chất, NSNN phản ánh mối quan hệ
về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế. NSNN là
công cụ chủ đạo được Nhà nước sử dụng để động viên, phân phối nguồn lực tài
chính quốc gia, nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo cho
Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ về KT-XH.
* Những đặc điểm cơ bản của ngân sách nhà nước:
Thứ nhất, các hoạt động thu, chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực
kinh tế - chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước.
Thứ hai, các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành dựa trên cơ sở
những văn bản luật nhất định. Các luật lệ này bao gồm: luật thuế; các tiêu chuẩn,
định mức thu, chi; các chế độ thu, chế độ chi …Đây là một đặc điểm mang tính
khách quan vì NSNN có sự tác động tới mọi chủ thể trong nền kinh tế và có
phạm vi hoạt động trên mọi lĩnh vực.
Thứ ba, NSNN được hình thành từ nguồn tài chính chủ yếu là giá trị thặng
dư của sản phẩm xã hội, thông qua quá trình phân phối lại.
Thứ tư, các hoạt động thu, chi NSNN chứa đựng trong nó các mối quan hệ
về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác trong nền kinh tế, gắn liền

2002, chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau:
- Đã có trong dự toán ngân sách được giao, trừ trường hợp quy định của
luật;
- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định.
- Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy
quyền quyết định chi.
Chi NSNN gắn liền với vai trò và chức năng của Nhà nước nên có những
đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, chi NSNN đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, gắn liền
với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm nhiệm trong
từng thời kỳ. Nguồn NSNN là có hạn, do đó nó hạn chế phạm vi hoạt động của Nhà nước, buộc Nhà nước phải lựa chọn phạm vi hoạt động của mình. Nhà nước
phải xác định rõ những nhiệm vụ trọng tâm, khoanh rõ phạm vi hoạt động để
xác định phạm vi chi NSNN, không được chi một cách tràn lan, phải tập trung
giải quyết những vấn đề lớn của đất nước.
Thứ hai, chi NSNN gắn liền với quyền lực nhà nước và mang tính pháp lý
cao. Cơ quan quyền lực nhà nước các cấp (Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp)
là chủ thể quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN.
Thứ ba, hiệu quả của các khoản chi NSNN được xem xét trên tầm vĩ mô.
Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó
phải được xem xét một cách toàn diện, là hiệu quả KT-XH, an ninh quốc phòng.
Thứ tư, các khoản chi của NSNN chủ yếu mang tính chất không hoàn trả
trực tiếp. Các khoản chi của NSNN cho các cấp, các ngành, các hoạt động văn
hóa - xã hội, xóa đói giảm nghèo, cung cấp các dịch vụ công cộng… không đòi
hỏi phải hoàn trả lại cho Nhà nước. Đặc điểm này xuất phát từ chức năng của
Nhà nước đối với sự đảm bảo phát triển KT-XH đất nước.
Thứ năm, chi NSNN là một bộ phận cấu thành và gắn chặt với sự vận

nghiệp nhà nước; góp vốn cổ phần liên doanh vào các doanh nghiệp cần thiết
phải có sự tham gia của Nhà nước; chi cho các chương trình, mục tiêu quốc gia,
dự án của Nhà nước.
Chi thường xuyên của NSNN: là quá trình phân phối, sử dụng vốn NSNN
để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của
Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà
nhà nước vẫn phải cung ứng.
Các khoản chi thường xuyên bao gồm: chi thanh toán cho các cá nhân; chi
về hàng hóa, dịch vụ; chi trả lãi tiền vay và các lệ phí liên quan đến các khoản
vay; các khoản chi khác.
1.1.1.3. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý nói chung là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản
lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý chi NSNN là một bộ phận trong quản lý NSNN và cũng là một
bộ phận trong công tác quản lý nói chung.
Quản lý chi NSNN là sự tác động của Nhà nước vào quá trình chi NSNN
để đạt được những mục tiêu đề ra.
Quản lý chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
- Đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các cơ quan công quyền thực hiện các
nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách, chế độ của Nhà nước. - Đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả.
- Gắn nội dung quản lý các khoản chi NSNN với nội dung quản lý các
mục tiêu của kinh tế vĩ mô.
1.1.1.4. Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước huyện
NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách hoàn chỉnh, là một bộ phận phân
cấp trong hệ thống NSNN nói chung.
Hoạt động chi NSNN cấp huyện được quản lý bằng pháp luật và theo dự
toán.

chi, chấp hành dự toán chi, quyết toán chi đều phải được thực hiện tuân thủ theo
đúng các quy định của pháp luật.
Quản lý chi NSNN cấp huyện phải tuân thủ đúng các quy định về nhiệm
vụ chi của ngân sách địa phương đã được quy định tại Điều 24, Luật NSNN
năm 2002.
Trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc quản lý chi NSNN
cũng được quy định cụ thể trong Luật NSNN năm 2002, tại Điều 52.
Thứ ba, quản lý chi NSNN cấp huyện là hoạt động vừa mang tính độc lập,
vừa mang tính phụ thuộc.
Theo Luật NSNN hiện hành, NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách hoàn
chỉnh do đó việc quản lý chi NSNN cũng mang tính độc lập tương đối, đảm bảo
hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của huyện.
Tuy nhiên, bên cạnh tính độc lập tương đối đó, quản lý chi NSNN cấp huyện
cũng là hoạt động mang tính phụ thuộc. Quy mô và các khoản chi ngân sách trên địa
bàn huyện phụ thuộc vào việc phân cấp nhiệm vụ chi của tỉnh đối với huyện, thành,
thị (do UBND tỉnh quyết định). Các chính sách, chế độ về định mức chi cũng do
UBND tỉnh quyết định theo thẩm quyền. Trong chi ngân sách thường xảy ra tình
trạng mâu thuẫn giữa nhiệm vụ chi được giao và nguồn để trang trải nhiệm vụ chi.
Trong quá trình quản lý chi NSNN cấp huyện không được phép thay đổi tùy tiện quy
mô và định mức chi đã được quy định.
Thứ tư, quản lý chi NSNN cấp huyện là hoạt động mang tính tổng hợp.
Quản lý chi NSNN bao gồm nhiều công việc: lập dự toán, chấp hành dự
toán và quyết toán chi. Muốn đạt được hiệu quả thì đòi hỏi phải có sự phối hợp
giữa các cơ quan có liên quan như UBND, HĐND huyện; Phòng TC-KH, kho
bạc nhà nước (KBNN) huyện …
Mặt khác, các khoản chi NSNN cũng rất đa dạng và bao trùm nhiều lĩnh
vực khác nhau như: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển,… Để quản lý tốt
đòi hỏi cán bộ quản lý phải có kiến thức, sự am hiểu về các lĩnh vực đó. Như
1.1.4. Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện
Hoạt động chi NSNN thông thường gồm ba khâu: lập dự toán; chấp hành dự toán; kế toán, kiểm toán và quyết toán chi. Vì vậy, quản lý chi NSNN cũng
chính là quản lý các khâu trên.
Quản lý chi NSNN cấp huyện bao gồm nhiều nội dung. Có thể tiếp cận
các nội dung này theo cách phân loại các khoản chi NSNN trên địa bàn. Trong
phạm vi của luận văn, tác giả đi sâu phân tích hai nội dung quản lý chi ngân
sách chủ yếu ở cấp huyện đó là: quản lý chi thường xuyên và quản lý chi đầu tư
XDCB.
1.1.4.1. Nội dung quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản
Chi đầu tư XDCB là một khoản chi lớn và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong
tổng nguồn vốn chi đầu tư phát triển của NSNN. Chi đầu tư XDCB là các khoản
chi để đầu tư xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT-XH không có
khả năng thu hồi vốn, các công trình của các doanh nghiệp nhà nước đầu tư theo
kế hoạch được duyệt, các dự án quy hoạch vùng và lãnh thổ… Chi đầu tư
XDCB có thể được thực hiện theo hình thức hình thức đầu tư xây dựng mới
hoặc theo hình thức đầu tư xây dựng mở rộng, cải tạo, nâng cấp, hiện đại hóa
các tài sản cố định và năng lực sản xuất phục vụ hiện có.
* Quản lý chi đầu tư XDCB của NSNN chịu sự chi phối, phải phù hợp với
các đặc điểm của sản phẩm đầu tư XDCB, bao gồm:
Thứ nhất, sản phẩm đầu tư XDCB là các công trình xây dựng gắn liền với
đất xây dựng công trình. Mỗi công trình có một địa điểm xây dựng và chịu sự
chi phối bởi các điều kiện của nơi đầu tư xây dựng công trình, nơi đầu tư xây
dựng công trình cũng là nơi đưa công trình vào khai thức, sử dụng. Do đó, quản
lý vốn đầu tư xây dựng công trình phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng
công trình đã dược xác định và phê duyệt trước khi thực hiện đầu tư xây dựng
công trình.
Thứ hai, sản phẩm đầu tư XDCB có tính đơn chiếc; mỗi hạng mục công

đô thị, nông thôn; quy hoạch chi tiết các trung tâm đô thị; các dự án khác theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Nguyên tắc thứ hai, trong quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải thực
hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đủ các tài liệu thiết kế và dự
toán được duyệt.
Tất cả các dự án đầu tư đều phải thực hiện theo đúng trình tự đầu tư và
xây dựng bao gồm 3 công đoạn: chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và kết thúc
xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng.
Các tài liệu thiết kế và dự toán công trình xây dựng đã được duyệt là căn
cứ pháp lý trong quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB. Do đó, cần phải nâng cao chất lượng của công tác lập, thẩm định và phê duyệt thiết kế và dự toán các
công trình xây dựng. Khi có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền, chủ đầu
tư phải tuân thủ đúng trình tự các công việc lập, thẩm định, trình phê duyệt tài
liệu thiết kế, dự toán công trình và gửi tài liệu, dự toán đã được phê duyệt đến cơ
quan quản lý cấp phát vốn.
Nguyên tắc thứ ba, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo
đúng mục đích, đúng kế hoạch.
Vốn đầu tư XDCB chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư XDCB đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt, không được sử dụng cho các mục đích khác.
Đồng thời, khi cấp phát vốn đầu tư XDCB phải tuân thủ đúng theo kế hoạch vốn
đã được duyệt cho từng công trình.
Nguyên tắc thứ tư, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải theo mức
độ khối lượng thực tế hoàn thành kế hoạch và chỉ trong phạm vi giá dự toán
được duyệt.
Khối lượng XDCB hoàn thành được cấp vốn thanh toán phải là khối
lượng đã thực hiện, đúng bản vẽ thiết kế thi công được duyệt, thực hiện đúng
trình tự đầu tư và xây dựng, có trong dự toán, có trong kế hoạch XDCB năm và
đã được nghiệm thu, bàn giao theo đúng chế độ quy định của Nhà nước. Nguyên

Để thuận tiện cho công tác kiểm tra, thông báo kế hoạch thanh toán vốn
đầu tư cho từng dự án, chủ đầu tư phải gửi cho cơ quan tài chính các cấp, trong
đó có Phòng TC-KH huyện các tài liệu, hồ sơ của dự án.
Định kỳ, UBND huyện rà soát tiến độ thực hiện và mục tiêu đầu tư của
các dự án trong năm để điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư. Phòng TC-KH huyện
rà soát để thông báo danh mục và kế hoạch vốn đầu tư điều chỉnh cho từng dự
án.
Nội dung thứ hai, cấp phát vốn đầu tư XDCB.
Cấp phát vốn đầu tư XDCB thuộc khâu thứ hai: chấp hành dự toán chi
trong hoạt động chi NSNN.
Việc cấp phát vốn đầu tư XDCB được quy định rõ tại Điều 53-Luật
NSNN 2002, trong đó:
Căn cứ vào dự toán ngân sách năm được giao, giá trị khối lượng công việc
đã thực hiện và điều kiện chi ngân sách, chủ đầu tư lập hồ sơ đề nghị thanh toán
kèm theo các tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật gửi cơ quan cấp phát
vốn [18, tr.73].
“Cơ quan được giao nhiệm vụ cấp phát vốn kiểm tra hồ sơ đề nghị thanh
toán của chủ đầu tư và thực hiện thanh toán khi có đủ các điều kiện theo quy

Trích đoạn Những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý chi ngân sách nhà nước ở huyện Tân PHƢƠNG HƢỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC Hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ quản lý chi ngân Các giải pháp khác
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status