Tổ chức một số trò chơi môn tiếng việt lớp 4 nhằm gây
hứng thú học tập cho học sinh
Phần I: Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
Trong Chng trỡnh giỏo dc tiu hc hin nay, mụn Ting Vit cựng vi cỏc
mụn hc khỏc trong nh trng Tiu hc cú nhng vai trũ gúp phn quan trng o
to nờn nhng con ngi phỏt trin ton din.
Mun hc sinh Tiu hc hc tt c mụn Ting Vit thỡ mi ngi giỏo viờn
khụng phi ch truyn t, ging gii theo cỏc ti liu ó cú sn trong Sỏch giỏo khoa
trong cỏc sỏch hng dn v thit k bi ging mt cỏch dp khuụn, mỏy múc lm
cho hc sinh hc tp mt cỏch th ng. Nu ch dy hc nh vy thỡ vic hc tp ca
hc sinh s din ra tht n iu, t nht v kt qu hc tp s khụng cao. Nú l mt
trong nhng nguyờn nhõn gõy ra cn tr vic o to cỏc em thnh nhng con ngi
nng ng, t tin, sỏng to sn sng thớch ng vi nhng i mi din ra hng ngy.
Yờu cu ca giỏo dc hin nay ũi hi phi i mi phng phỏp dy hc bc
Tiu hc theo hng phỏt huy tớnh tớch cc, ch ng sỏng to ca hc sinh. Vỡ vy
ngi giỏo viờn phi gõy c hng thỳ hc tp cho cỏc em bng cỏch lụi cun cỏc
em tham gia vo cỏc hot ng hc tp. Trũ chi hc tp l mt hot ng m cỏc em
hng thỳ nht. Cỏc trũ chi cú ni dung hc tp lý thỳ v b ớch phự hp vi vic
nhn thc ca cỏc em. Thụng qua cỏc trũ chi cỏc em s lnh hi nhng tri thc mt
cỏch d dng, cng c, khc sõu kin thc mt cỏch vng chc, to cho cỏc em nim
say mờ, hng thỳ trong hc tp, trong vic lm. Khi chỳng ta a ra c cỏc trũ chi
mt cỏch thng xuyờn, khoa hc thỡ chc chn cht lng DH s ngy mt nõng cao.
Chớnh vỡ nhng lý do nờu trờn m tụi ó chn ti sỏng kin kinh nghim: T chc
mt s trũ chi mụn Ting Vit lp 4 nhm gõy hng thỳ hc tp cho hc sinh.
II. PHM VI V I TNG NGHIấN CU:
- Phm vi nghiờn cu: Mt s trũ chi mụn Ting Vit lp 4 gõy hng thỳ hc tp
cho hc sinh
- i tng: Hc sinh lp 4
1
III. MụC ĐíCH Củ VIệC NGHIÊN CứU:
- Học sinh Tiểu học nghe giảng rất dễ hiểu nhưng cũng sẽ quên ngay khi chúng
không tập trung cao độ. Vì vậy người giáo viên phải tạo ra hứng thú trong học tập và
phải thường xuyên được luyện tập. Học sinh Tiểu học rất dễ xúc động và thích tiếp
xúc với một sự vật, hiện tượng nào đó nhất là những hình ảnh gây cảm xúc mạnh.
- Trẻ hiếu động, ham hiểu biết cái mới nên dễ gây cảm xúc mới song các em chóng
chán. Do vậy trong dạy học giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, đưa học
sinh đi tham quan, đi thực tế, tăng cường thực hành, tổ chức các trò chơi xen kẽ để
củng cố khắc sâu kiến thức
3. Tác dụng của trò chơi trong dạy học:
Hoạt động vui chơi là hoạt động mà động cơ của nó nằm trong chính quá trình
hoạt động trong bản thân trò chơi chứ không nằm ở kết quả chơi. Trò chơi là loại phổ
biến của hoạt động vui chơi là chơi theo luật, luật của trò chơi chính là các quy tắc
định rõ mục đích, kết quả và yêu cầu của hành động trò chơi, luật của trò chơi có thể
tường minh có thể không. Trò chơi học tập là trò chơi mà luật của nó bao gồm các
quy tắc gắn với kiến thức kỹ năng có được trong hoạt động học tập, gắn với nội dung
bài học, giúp học sinh khai thác vốn kinh nghiệm của bản thân để chơi, thông qua
chơi học sinh được vận dụng các kiến thức kỹ năng đã học vào các tình huống của trò
chơi và do đó học sinh được thực hành luyện tập củng cố mở rộng kiến thức kỹ năng
đã học. Như vậy trong trò chơi học tập các kỹ năng môn TV được đưa vào trò chơi.
Chơi là một nhu cầu cần thiết đối với học sinh Tiểu học, có thể nói nó quan trọng
như ăn, ngủ, học tập trong đời sống các em. Chính vì vậy các em luôn tìm mọi cách
và tranh thủ thời gian trong mọi điều kiện để chơi. Được chơi các em sẽ tham gia hết
sức tự giác và chủ động. Khi chơi các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vui
khi thắng lợi và buồn bã khi thất bại.
Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, giúp học sinh tiếp
thu kiến thức một cách tự giác tích cực. Giúp học sinh rèn luyện củng cố kiến thức
đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm được tích luỹ qua hoạt động chơi.
3
Trò chơi học tập rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ, nhờ sử
dụng Trò chơi học tập mà quá trình dạy học trở thành một hoạt động vui và hấp dẫn
sử dụng trò chơi thì cũng ở mức gượng ép, miễn cưỡng. Mặt khác, còn một số giáo
viên khi sử dụng các trò chơi học tập thì chưa chọn lọc kỹ, không có tác dụng thiết
thực phục vụ mục tiêu của bài học nên việc tổ chức trò chơi chưa đạt hiệu quả.
2. Đối với học sinh:
Thực tế cho thấy, vẫn còn một số đối tượng học sinh thụ động, tự ti, chưa mạnh
dạn tham gia vào các hoạt động học tập. Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ
học tập. Khả năng học tập của học sinh rất khác nhau, cùng một độ tuổi về trình độ
chung các em có thể chênh lệch nhau. Mỗi em có một khả năng nổi trội riêng nhưng
các em chưa biết phát huy khả năng của mình.
Trước thực trạng đó, tôi thiết nghĩ, mình cần phải thay đổi một cách thức dạy học
mới sao cho học sinh hứng thú, say mê và tích cực chủ động hơn khi học Tiếng Việt.
Qua đó, những kĩ năng giao tiếp ở các em sẽ ngày càng hoàn thiện và phát triển. Và
việc vận dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt là hết sức cần thiết.
Trước khi thực hiện đưa các trò chơi vào dạy học trong môn Tiếng Việt tôi có
khảo sát học sinh trong phân môn luyện từ và câu của môn Tiếng Việt lớp 4 bài
MRVT "Ước mơ" tại lớp 4 và thu được kết quả như sau:
* Kết quả khảo sát
Kết quả khảo sát G K TB Yếu
Tổng số HS 18 1 4 9 4
CHƯƠNG II : CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Đối với giáo viên:
- Mỗi trò chơi phải củng cố được một nội dung học cụ thể trong chương trình (Có
thể là kiến thức cần kiểm tra bài cũ, kiến thức bài mới, kiến thức thực hành, luyện
tập…)
- Các trò chơi phải giúp học sinh rèn luyện kỹ năng học tập, phát huy trí tuệ, óc phân
tích, tư duy sáng tạo.
- Trò chơi phải phù hợp với quỹ thời gian (Sử dụng trong giờ học từ 5 đến 10 phút),
thích hợp với môi trường học tập.
5
- Trò chơi có sức hấp dẫn, thu hút được sự chú ý, tham gia của học sinh, tạo không
®.chơi học tập Tiếng Việt giúp hình thành đức tính trung thực, có kỉ luật, tính độc
lập, tự chủ, có ý thức cao.
Khi tham gia trò chơi, học sinh phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định (đã được
nêu trước trò chơi). Việc các em tiếp nhận và tuân theo những quy tắc đó giúp các em
có khả năng tự kiềm tra và kiểm tra lẫn nhau trong trò chơi. Khi tham gia vào trò
chơi, nhập vai quan hệ với các bạn cùng chơi buộc các em phải đem những hành động
của mình phục tùng những yêu cầu nhất định bắt nguồn từ ý đồ chung của trò chơi.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ TRÒ CHƠI MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4
1. Tổ chức trò chơi trong môn tiếng Việt nói chung và các phân môn của môn
Tiếng Việt nói riêng :
Để các trò chơi góp phần mang lại hiệu quả cao trong giờ học, khi tổ chức và thiết
kế trò chơi phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
a. Thiết kế trò chơi trong môn tiếng Việt:
* Tổ chức trò chơi học tập để dạy môn tiếng Việt nói chung và các phân môn trong
môn tiếng Việt nói riêng, chúng ta phải dựa vào nội dung bài học, điều kiện thời gian
trong mỗi tiết học cụ thể để đưa ra các trò chơi cho phù hợp. Song muốn tổ chức được
trò chơi trong dạy tiếng Việt có hiệu quả cao thì đòi hỏi mỗi giáo viên phải có kế
hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục. Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu
nội dung bài học. Trò chơi phải phù hợp với tâm sinh lý học sinh lớp 4, phù hợp với
khả năng người hướng dẫn và cơ sở vật chất của nhà trường.
+ Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú. Trò chơi phải được chuẩn bị
chu đáo. Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh
* Cấu trúc của Trò chơi học tập:
+ Tên trò chơi
+ Mục đích: Nêu rõ mục đích của trò chơi nhằm ôn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng nào.
Mục đích của trò chơi sẽ quy định hành động chơi được thiết kế trong trò chơi.
+ Đồ dùng, đồ chơi: Mô tả đồ dùng, đồ chơi được sử dụng trong Trò chơi học tập.
7
+ Nêu lên luật chơi: chỉ rõ qui tắc của hành động chơi quy định đối với người chơi,
giáo viên. Đồng thời thông qua đó rèn những kĩ năng cần thiết cho học sinh.
Một nội dung trò chơi có thể được thể hiện thành các hình thức tổ chức trò chơi
khác nhau.
Ví dụ: Phân môn luyện từ và câu bài Mở rộng vốn từ: Nhân hậu - Đoàn kết SGK
TV4/T17.
Nội dung trò chơi xếp các từ trong tập hợp sau thành hai nhóm : một nhóm gồm
các từ chỉ tiếng nhân có nghĩa là người, một nhóm gồm các từ chỉ chỉ tiếng nhân có
nghĩa là lòng thương người.
Ta có thể có các hình thức tổ chức chơi như sau:
Trò chơi chung sức.
Giáo viên phát cho mỗi nhóm một tờ giấy. Theo lệnh của giáo viên, từng nhóm
bàn bạc với nhau để thực hiện yêu cầu của trò chơi. Khi nhóm đã thống nhất thì ghi
kết quả vào giấy. Ghi xong, dán tờ giấy của nhóm lên bảng lớp. Giáo viên sẽ tính
điểm các nhóm theo hai chuẩn: Chuẩn chính xác và chuẩn nhanh nhẹn.
* Trò chơi ‘’Chọn ô số ‘’
Trò chơi được vận dụng vào phân môn Tập làm văn, bài: Luyện tập tả con vật, Tiếng
Việt 4, tập 2, trang 120.
- Mục tiêu : Giúp học sinh:
Phát triển vốn từ ngữ miêu tả con vật, đặc biệt là các từ miêu tả về hoạt động thường
xuyên của con vật. Phát triển kĩ năng trình bày của học sinh.
- Chuẩn bị:
Một bộ ảnh chụp con vật ở các tư thế hoạt động khác nhau có đánh số từ 1 đến hết số
ảnh chuẩn bị được.
Bảng phụ có kẻ sẵn ô số như sau:
9
1 2 3
4 5 6
7 8 9
- Tiến hành:
Giáo viên gọi một học sinh lên bảng tham gia trò chơi ( khuyến khích học sinh xung
Giáo viên chia học sinh thành nhiều nhóm chơi tùy theo số bộ nhị hoa và cánh hoa
chuẩn bị được. Khi trò chơi bắt đầu, các nhóm chơi có nhiệm vụ ghi từ theo yêu cầu
vào các cánh hoa ( mỗi cánh hoa chỉ ghi một từ ) rồi dán vào nhị hoa cho phù hợp.
Sau 5-7 phút, giáo viên hô: " Dừng chơi !" Nhóm nào dán được nhiều cánh hoa đúng
và đẹp sẽ thắng cuộc
Lưu ý:
Trò chơi này còn có thể vận dụng vào phân môn luyện từ và câu ở các bài : danh từ
chung và danh từ riêng tiếng Việt 4 tập 1 trang 57……chỉ cần thay đổi yêu cầu ghi
trên nhị hoa. Trò chơi nhằm ôn tập tổng hợp và rèn óc tư duy của học sinh:
* Trò chơi Nhìn tranh, kể đoạn
Trò chơi thực hiện trong phân môn Kể chuyện sách tiếng Việt lớp 4 bài " Sự tích hồ
Ba Bể" trang 8.
Mục đích:
Rèn kĩ năng kể đúng nội dung từng đoạn của câu chuyện dựa vào tranh vẽ, gợi
ý trong SGK hoặc tranh có sẵn của bộ đồ dùng dạy học.
Luyện trí nhớ trau dồi năng lực diễn cảm mạch lạc đủ ý chính trong câu chuyện
mình định kể.
Chuẩn bị:
Có bộ tranh kể chuyện, ghi rõ tranh 1,2,3,4;
4 học sinh làm ban giám khảo và 1 thư kí;
Có tiêu chuẩn cho điểm chi tiết;
Có bảng điểm chi tiết sẵn
Tranh
số
Tên HS Điểm
GK1
Điểm
GK2
Điểm
GK3
- 2 nhóm tham gia chơi, ngồi đối diện nhau, cử nhóm trưởng điều hành chung cả
nhóm, bốc thăm để chọn nhóm đọc trước.
- Nhóm bốc được chọn đọc trước được mở sách giáo khoa để chọn đoạn đọc (trong
một số bài tập đọc đã nêu ra), nhóm còn lại nghe để đoán tên bài tập đọc đã học. sau
khi đã đoán xong thì nhóm 2 lại thực hiện đọc đoạn văn đã chọn và nhóm 1 lại đoán
tên bài tập đọc đã học, mỗi nhóm được thực hiện 3 lần đoán tên bài và đọc.
- 2 nhóm tham gia chơi đều được tính điểm để so sánh khi trò chơi kết thúc, giáo
viên sẽ chọn nhóm nào được nhiều điểm hơn nhóm đó sẽ thắng cuộc
* Lưu ý khi đoán tên bài cả hai nhóm đều không được mở SGK, nhóm 2 có thể lấy
nội dung của bài tập đọc mà nhóm 1đọc nhưng cần chọn đoạn văn khác trong bài,
đoạn văn nên ngắn gọn không quá dài.
Ví dụ:
12
Đọc đọc văn Đoán tên bài
Nhóm 1:
Chị nhà Trò đã bé nhỏ lại gầy yếu quá, người bự những
phấn như mới lột. Chị mặc áo thân dài, đôi chỗ chấm điểm
vàng, hai cánh mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn
chùn.
Nhóm 2:
Dế Mèn bênh vực kẻ
yếu
Nhóm 2:
Hồng ơi!
Mình hiểu Hồng đau đớn và thiệt thòi như thế nào khi ba
Hồng đã ra đi mẫi mãi.
Nhóm 1:
Thư thăm bạn
Nhóm 1:
Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng
nhiên, tôi chuyển sang giận dữ và mặc lời năn nỉ của bạn,
tôi bỏ về.
* Trò chơi : Ghép các dòng thơ thành bài
Trong phân môn tập đọc lớp 4 có những trò chơi mang tính khích lệ các em có hứng
thú trong học tập như một số trò c hơi sau:
Mục đích:
Rèn kĩ năng đọc nhanh và thuộc các bài thơ đã học tro SGK lớp 4;
Luyện tác phong nhanh nhẹn, khéo léo trong việc ghép các băng giấy ghi các
câu thơ sao cho đúng các bài thơ đã học.
Chuẩn bị:
- Làm các bộ băng giấy (hoặc bìa cứng) ghi đầu bài và từng dòng thơ trong bài thơ
học thuộc lòng theo TV lớp 4.
- Chia lớp thành 2,3 nhóm tuỳ theo số lượng học sinh trong lớp để học sinh tham gia
cuộc thi có một bộ băng giấy ghi sẵc các dòng thơ của bài thơ "Mẹ ốm" mỗi dòng thơ
là một băng giấy nhỏ.
- Giáo viên làm trọng tài.
Cách tiến hành:
14
Mọi khi mẹ thích vui chơi
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều khép lại trên đầu bấy nay.
- Trọng tài đặt trước mỗi nhóm tham gia thi một bộ băng giấy đã chuẩn bị và xáo
trộn thứ tự các băng giấy và úp phần có chữ xuống mặt bàn.
- Trọng tài nêu luật chơi
+ Không lật băng giấy trước khi có lệnh; không nhìn bài của bạn cùng chơi;
+Nghe lệnh bắt đầu tất cả cùng lật băng giấy đọc và xếp đúng thứ tự các câu thơ
trong bài, cần đặt các băng giấy ngay ngắn và trình bày đúng theo thể thơ như trong
SGK.
+Trọng tài hô bắt đầu tất cả cùng thực hiện yêu cầu nhóm nào xếp đúng, đủ, đẹp,
trong tiết học chính là tạo ra một môi trường học tập mà học sinh có thể tích cực chủ
động hơn. Các em mạnh dạn tham gia các hoạt động. Từ đó những kĩ năng giao tiếp
được phát triển. Sự say mê học tập của các em là nguồn động viên thúc đẩy tôi phải
luôn vận dụng các trò chơi học tập vào tiết học. Đồng thời luôn tìm tòi, nghiên cứu
thiết kế các trò chơi mới để lôi cuốn các em tham gia vào các hoạt động học tập.
II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:
Sử dụng trò chơi với nhiều hình thức, làm cho lớp học thêm sinh động, học sinh
tiếp thu bài nhanh, không gây sự mệt mỏi nhàm chán trong quá trình học tập. Trò chơi
học tập phải có luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện, không đòi hỏi thời
gian dài cho việc huấn luyện.Trò chơi cần diễn ra trong một thời gian hợp lí, phù hợp
với tất cả các đối tượng học sinh. Sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các trò chơi học tập sẽ
có tác dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập giúp tiết học đạt hiệu quả cao.
Không lạm dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi hoặc tổ chức quá
nhiều trò chơi trong tiết học gây cho học sinh sự mệt mỏi. Tránh lặp đi lặp lại trò chơi
học tập trong tiết học sẽ không hấp dẫn học sinh.
III. Khả năng ứng dụng và triển khai:
- Sáng kiến này có khả năng ứng dụng cho tất cả các phân môn trong môn Tiếng Việt
của lớp 4, ngoài ra nhiều trò chơi tôi đưa ra có thể dạy cả trong quá trình thực hiện bài
mới hay phần cung cấp kiến thức cho học sinh hoặc phần ôn tập vào giữa kì và cuối kì
cho các em.
- Trong quá trình nghiên cứu tôi thấy được các giải pháp của sáng kiến không mang
tính áp đặt cho bất kì một giáo viên nào, mà nó có tính chất tham khảo và vận dụng
linh hoạt vào từng tiết dạy của mỗi giáo viên.
16
IV. Kiến nghị, đề xuất:
Để giúp đội ngũ giáo viên chúng tôi giảng dạy có hiệu quả hơn, tôi xin mạnh
dạn đưa ra một số đề xuất sau:
Tăng cường sử dụng trò chơi học tập trong các tiết dạy của môn Tiếng Việt.
Giáo viên phải có thời gian để nghiên cứu các trò chơi một cách kĩ lưỡng, tránh
gây sự nhàm chán trong quá trình thực hiện.