ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HOÀNG VĂN LỢI
HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH PHỤC VỤ
CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ Y TẾ TẠI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Đà Lạt – 2012 Đà Lạt – 2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÃ HỘI HOÁ Y TẾ 7
1.1. Khái quát chung về công tác xã hội hóa y tế. 7
1.1.1. Khái niệm xã hội hóa y tế 7
1.1.2. Nội dung của xã hội hóa y tế. 9
1.2. Các mô hình xã hội hoá y tế trong các bệnh viện công lập phổ biến hiện nay. . 15
1.2.1. Ngân sách Nhà nước cấp, viện phí và bảo hiểm y tế 15
1.2.2. Ngân sách Nhà Nước cấp, Bảo hiểm y tế, Viện phí, Liên doanh liên kết và
dịch vụ theo yêu cầu. 15
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về các phương thức xã hội hóa y tế và các nguồn tài
chính. 16
1.3.1. Bảo hiểm y tế 16
1.3.2. Thu một phần viện phí 21
1.3.3. Về dịch vụ theo yêu cầu và liên doanh liên kết 23
1.3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. 24
Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI
CHÍNH PHỤC VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN 26
3.2.1. Đối với Bệnh Viện Đa Khoa Lâm Đồng. 83
3.2.2. Đối với Ngành Y tế Lâm Đồng. 84
3.2.3. Đối với UBND Tỉnh Lâm Đồng. 84
3.3. Kiến Nghị: 85
3.2.1. Đối với Bệnh Viện Đa Khoa Lâm Đồng. 85
3.2.2. Đối với Ngành Y Tế Lâm Đồng. 86
3.2.3. Đối với UBND Tỉnh Lâm Đồng. 86
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Phụ lục 1. PHIẾU PHỎNG VẤN SÂU VỀ XÃ HỘI HÓA Y TẾ 95
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Nguyên nghĩa
1
BHYT
Bảo hiểm y tế
2
BVĐK
Bệnh Viện Đa Khoa
1
Bảng 2.1
Bảng tổng hợp nguồn kinh phí NSNN giao qua các năm
32
2
Bảng 2.2
Nội dung chi từ nguồn ngân sách nhà nước qua các
năm (2002- 2006)
33
3
Bảng 2.3
Tổng hợp nguồn thu từ bảo hiểm y tế qua các năm
(2002 – 2006)
35
4
Bảng 2.4
Nội dung chi từ nguồn thu viện phí bảo hiểm y tế qua
các năm (2002-2006)
36
5
Bảng 2.5
Tổng hợp nguồn thu viện phí qua các năm ( 2002 –
2006 )
38
6
Bảng 2.6
Nội dung chi từ nguồn thu viện phí qua các năm ( 2002-
2006 )
38
7
Tổng hợp nguồn thu liên doanh liên kết qua các năm
(2007 – nay)
58
14
Bảng 2.14
Tổng hợp chi cho hoạt động liên doanh liên kết ( 2007-
nay)
59
15
Bảng 2.15
Tổng hợp nguồn thu KCB theo yêu cầu qua các năm
(2007 – nay)
67
16
Bảng 2.16
Nội dung chi từ nguồn thu KCB theo yêu cầu qua các
năm (2007-nay)
68
17
Bảng 2.17
Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chuyên môn ( 2002,
2006)
72
18
Bảng 2.18
kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chuyên môn năm 2007,
2011
73
19
Bảng 2.19.
78
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Từ năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ “đổi mới”, phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế xã hội đã có những thành tựu đáng kể,
đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt. Nhưng, nền y tế đứng trước những thử
thách rất gay gắt: Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân được đặt ra ngày càng
cao và đa dạng; Những vấn đề do mặt trái của cơ chế thị trường mang lại cũng gây
một sức ép mới với ngành y tế như: Quan tâm đến tăng trưởng kinh tế mà ít đầu tư
cho sức khỏe. Sự phân hóa giàu nghèo (từ 5,2 lần năm 1998 lên đến 8,9 lần năm
2008 [19]) ảnh hưởng đến việc thực hiện “công bằng” trong chăm sóc sức khỏe.
Các tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều cùng với việc thay đổi lối sống đã ảnh
hưởng không nhỏ đến cơ cấu bệnh tật. Tư tưởng chạy theo lợi nhuận trong cung cấp
dịch vụ y tế; các cơ sở y tế không đủ ngân sách để hoạt động theo cách bao cấp như
trước đây [16].
Đứng trước những thách thức đó, Việt Nam đã có những thay đổi chính sách
và cơ chế quản lý nhằm đảm bảo cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân phù hợp
với tình hình mới. Có thể thấy rằng đổi mới lĩnh vực y tế ở Việt Nam được bắt đầu
từ đổi mới các chính sách và cơ chế tài chính trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ khám
chữa bệnh [15], như: chính sách thu một phần viện phí [3, 9, 26], chính sách xã hội
hóa công tác y tế [4, 5, 7, 11-13], chính sách về bảo hiểm y tế [18, 20, 22] và chính
sách giao quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở y tế công lập [6, 8].
Chính sách thu một phần viện phí và chủ trương xã hội hóa công tác y tế cho
phép các cá nhân, các thành phần kinh tế đầu tư ngày càng nhiều vào lĩnh vức chăm
đề đang được các nhà khoa học quản lý quan tâm nghiên cứu.
Khái niệm xã hội hoá mặc dù đã được dùng tương đối phổ biến, song nội
hàm của nó vẫn chưa được chính xác hoá như một khái niệm khoa học. Khái niệm
xã hội hoá và huy động xã hội có nội hàm tương đối giống nhau. Còn nhiều cách
hiểu chưa đúng, chưa đầy đủ về hai khái niệm này [14, 17]. Xã hội hoá và huy
động xã hội không chỉ đơn thuần là kêu gọi sự đóng góp của người dân để tăng 3
thêm nguồn lực mà còn là quá trình thu hút sự tham gia trực tiếp, tự nguyện của các
nhóm xã hội, các cá nhân, gia đình và cộng đồng vào sự nghiệp CSSKND tạo nên
sự giám sát xã hội đối với các hoạt động y tế nhằm góp phần thúc đẩy ngành y tế
ngày càng phát triển theo hướng tích cực, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân
[14]. Nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế đề nghị quan niệm “Xã
hội hóa y tế là sự mở rộng trách nhiệm, từ chỗ trước đây coi hoạt động CSSKND là
nhiệm vụ của Nhà nước và ngành Y tế thành trách nhiệm của các ngành, các đoàn
thể, các tổ chức xã hội, cộng đồng, gia đình, cá nhân, của cả hệ thống y tế công lẫn
y tế tư trong cung ứng dịch vụ CSSK và tài chính y tế” [27].
Luận án tiến sỹ “Xã hội hóa y tế ở Việt Nam: Lý luận - Thực tiễn và giải
pháp” của tác giả Đặng Thị Lê Xuân đã mô tả 4 phương thức xã hội hóa y tế hiện
nay tại Việt Nam bao gồm: phương thức thu một phần viện phí, phương thức liên
danh liên kết và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu, phương thức bảo hiểm y tế và
phương thức phát triển y tế tư nhân. Nghiên cứu cũng đã đề xuất các giải pháp xã
hội hóa y tế phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam: bảo hiểm y tế toàn
dân; phát triển hệ thống y tế tư nhân; giải pháp về viện phí (viện phí cần phải tính
đủ chi phí) và quản lý chặt chẽ đối với các bệnh viện thực hiện phương án liên kết
và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu [29].
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc về mô hình thí điểm XHH
gồm các thành phần: UBND phường, Ban CSSKND, trạm y tế phường, y tế tư nhân
vấn đề này trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng công tác xã hội hóa y tế và nguồn lực
tài chính đản bảo cho công tác xã hội hóa y tế ở Bệnh Viện Đa Khoa Lâm Đồng,
qua đó đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực tài chính nhằm nâng cao hiệu quả
công tác xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Đa Khoa Lâm Đồng
3.2. Nhiệm vụ của luận văn:
Từ mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: 5
- Khái quát hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác xã hội hóa y tế
và huy động nguồn lực tài chính cho công tác xã hội hóa y tế.
- Đánh giá thực trạng các nguồn tài chính cho bệnh viện và công tác xã hội
hóa y tế tại Bệnh Viện Đa Khoa Lâm Đồng.
- Đề xuất những giải pháp huy động nguồn lực tài chính nhằm nâng cao hiệu
quả công tác xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Đa Khoa Lâm Đồng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Các nguồn lực tài chính để thực hiện công tác xã hội hóa Y tế tại Bệnh viện
Đa Khoa Lâm Đồng.
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng xã hội hoá y tế, các nguồn tài
chính, có nghiên cứu phần sử dụng các nguồn lực tài chính ở một mức độ nhất định
và xây dựng các giải pháp huy động nguồn lực tài chính nhằm nâng cao hiệu quả
công tác xã hội hoá y tế tại Bệnh viện Đa Khoa Lâm Đồng.
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2002 cho đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn.
Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÃ HỘI HOÁ Y TẾ
1.1. Khái quát chung về công tác xã hội hóa y tế.
1.1.1. Khái niệm xã hội hóa y tế
Trong những năm gần đây, “xã hội hoá” đã trở thành một định hướng lớn,
một giải pháp quan trọng trong việc đổi mới các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá thể
thao ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay tính xác định của khái niệm “xã hội hoá”
còn nhiều cách hiểu khác nhau. Điều này cũng có thể hiểu được bởi vì khái niệm
này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có những nội hàm hoàn toàn
khác nhau.
1.1.1.1. Khái niệm XHH theo nguồn gốc ngôn ngữ học:
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Xã hội hóa là làm cho trở
thành của chung của xã hội”, với ví dụ “xã hội hóa tư liệu sản xuất” tức là quốc hữu
hóa tư liệu sản xuất. [28]
1.1.1.2. Khái niệm XHH dưới góc độ xã hội học
Dưới góc độ xã hội học, XHH được coi là một quá trình gắn với sự phát triển
của cá nhân trong xã hội và được định nghĩa: Xã hội hóa là quá trình mỗi người từ
khi lọt lòng tới lúc già yếu, thâu nhận những kiến thức, kỹ năng, địa vị, lề thói, quy
tắc, giá trị… xã hội và hình thành nhân cách của mình [3]. Dưới góc độ này, khái
niệm XHH gắn với sự phát triển nhân cách, học hỏi và tuân thủ các nguyên tắc xã
hội của các cá nhân.
1.1.1.3. Ý nghĩa của cụm từ Xã hội hóa trong các văn bản pháp quy:
Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ đã ghi rõ:
- XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức tham gia
rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng 8
9
Theo Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 của Chính
phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực
giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, “Xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá,
thể thao là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội
vào sự phát triển các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về
giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao trong sự phát triển về vật chất và tinh thần của nhân
dân”. Bản chất của chủ trương xã hội hoá là huy động các tiềm năng về nhân lực,
vật lực, tài lực của toàn xã hội, trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hoá các
hình thức hoạt động và các nguồn đầu tư, đổi mới vai trò và trách nhiệm của Nhà
nước, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn
thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội và nghề nghiệp.
1.1.1.4. Khái niệm xã hội hóa Y tế
Như vậy, dưới góc độ đánh giá chính sách, khái niệm xã hội hóa y tế được
hiểu như sau:
XHH y tế là hoạt động có sự tham gia bằng các hoạt động và sự đóng góp
theo khả năng của mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề, các cá nhân và tổ chức
xã hội vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm đạt kết quả cao nhất, công
bằng và hiệu quả.
1.1.2. Nội dung của xã hội hóa y tế.
1.1.2.1. Chủ trương chính sách XHH y tế
Theo định hướng của Đảng và các văn bản pháp lý của Chính phủ, XHH y tế
bao gồm 5 nội dung cơ bản sau:
- Củng cố vai trò nòng cốt của ngành y tế: Nâng cao chất lượng khám chữa
bệnh, thực hiện chế độ thu viện phí phù hợp. Thực hiện tốt việc quản lý nhà nước,
quản lý về chuyên môn đối với khu vực ngoài công lập. Từng bước tiến hành
BHYT toàn dân.
11
- Các ngành khi triển khai nhiệm vụ của ngành mình phải chú ý đến các vấn
đề liên quan đến sức khoẻ nhân dân. Ví dụ: Ngành Giáo dục và Đào tạo đưa chương
trình giáo dục sức khoẻ vào giảng dạy, cùng với chương trình y tế nha học đường…
- Các cơ quan đoàn thể khác như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp
phụ nữ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh…với các hoạt động xây dựng quỹ
khám chữa bệnh cho người nghèo, tổ chức tập huấn về kiến thức nâng cáo sức khoẻ
và phòng chống bệnh cho hội viên, vận động hội viên, đoàn viên tham gia các hoạt
động giữ gìn, chăm sóc sức khoẻ và phòng chống bệnh tật…
1.1.2.3. Các phương thức huy động nguồn lực tài chính phục vụ công tác
hiện xã hội hóa y tế.
- Phương thức bảo hiểm y tế:
+ Khái quát về BHYT: Để bù vào nguồn kinh phí dành cho y tế công lập,
năm 1993 Chính phủ đã áp dụng chế độ bảo hiểm y tế chính thức sau một vài năm
nghiên cứu thí điểm.
BHYT là một phương thức bảo vệ sức khỏe nhằm bảo vệ người tham gia
khỏi những gánh nặng tài chính mà họ phải gánh chịu nếu gặp phải các rủi ro liên
quan đến sức khỏe, bệnh tật.
Theo luật BHYT Việt nam, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong
lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do nhà nước tổ chức thực
hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của luật BHYT. Theo
đó, BHYT giống như loại hình bảo hiểm khác dựa trên nguyên tắc cơ bản: Tập hợp
số đông chia sẻ rủi ro, nguy cơ về sức khỏe và bệnh tật: Thu phí từ số đông người
khỏe mạnh để chi trả cho số ít những người ốm đau. Người tham gia bảo hiểm y tế
đóng góp một mức phí từ trước khi đau ốm vào một quỹ BHYT và sẽ được hưởng
các quyền lợi về chăm sóc y tế khi đến các cơ sở khám chữa bệnh. Vì vậy, cách
thức tham gia BHYT còn được gọi là trả trước chi phí khám chữa bệnh.
được huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách. Đã có nhiều bệnh viện phát
triển dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu, tạo điều kiện cho người bệnh có được 13
cơ hội chăm sóc sức khỏe tốt hơn. Chính vì vậy, việc huy động các nguồn lực để
đầu tư phát triển các cơ sở y tế công lập hiện đang được thực hiện dưới hai hình
thức chủ yếu:
+ Liên doanh, liên kết để đầu tư trang thiết bị y tế.
+ Phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu
Về phương thức liên danh liên kết: Các bệnh viện được phép huy
động vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu
tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho hoạt động chuyên môn, sản
xuất và cung ứng dịch vụ. Nguồn vốn này cũng có thể được huy động trong nội bộ
bệnh viện như vay vốn của cán bộ công nhân viên, quỹ phúc lợi tập thể của đơn vị
mua sắm máy móc trang thiết bị dưới cơ chế cùng chia lợi nhuận.
Về phương thức phát triển các dịch vụ KCB theo yêu cầu: Các dịch
vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu ở bệnh viện thường được cung cấp dưới các hình
thức sau:
+ Mô hình phòng khám bệnh ngoài giờ: Các cơ sở y tế tổ chức hoạt
động dịch vụ y tế ngoài giờ hành chính nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu KCB cho
nhân dân đồng thời giải quyết khó khăn đời sống cho cán bộ viên chức y tế. Trước
khi tổ chức đơn vị phải xây dựng phương án hoạt động gửi các cấp quản lý phê
duyệt. Về nguyên tắc, các hoạt động dịch vụ y tế không được ảnh hưởng tới nhiệm
vụ chính trị được giao; các hoạt động dịch vụ phải đảm bảo các tiêu chuẩn về chất
lượng, kỹ thuật theo tiêu chuẩn chung của ngành y tế.
+ Mô hình giường dịch vụ: Mô hình này được thực hiện ở nhiều bệnh
viện, bệnh nhân được chăm sóc, điều trị về chuyên môn theo giá viện phí quy định
của nhà nước, nhưng nếu có sử dụng dịch vụ giường bệnh theo yêu cầu phải trả cho
15
1.2. Các mô hình xã hội hoá y tế trong các bệnh viện công lập phổ biến hiện
nay.
Căn cứ vào nguồn vốn và khả năng huy động các nguồn lực tài chính phục
vụ cho công tác xã hội hoá y tế có thể phân chia làm 02 mô hình sau:
1.2.1. Ngân sách Nhà nước cấp, viện phí và bảo hiểm y tế.
1.2.1.1. Nguồn thu. Nguồn thu của các đơn vị theo mô hình này chủ yếu
được hình thành từ nguồn thu từ Ngân sách Nhà Nước cấp (Ngân sách Nhà Nước
chiếm từ 90% trở lên trên tổng số nguồn thu của đơn vị), nguồn viện phí Bảo hiểm
y tế và một phần từ thu viện phí chiếm tỷ lệ thấp (10%). Về cơ bản, đây là những cơ
sở khám chữa bệnh cấp huyện của những vùng kinh tế xã hội khó khăn. Do kinh tế
xã hội trên địa bàn khó khăn nên không triển khai được các hoạt động dịch vụ để
huy động các nguồn thu khác.
1.2.1.2. Nội dung chi: Theo quy định của Nhà nước về phân loại đơn vị sự
nghiệp có thu thì đối với những đơn vị có nguồn thu chiếm tỷ lệ thấp trong tổng
nguồn thu của đơn vị. Đơn vị cũng được phép tự xây dựng định mức, nội dung chi
tiêu từ nguồn Ngân sách Nhà Nước cấp và nguồn thu của đơn vị phục vụ cho hoạt
động của đơn vị. Nhưng do nguồn kinh phí Ngân sách Nhà Nước cấp chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng chi hoạt động của đơn vị. Vì vậy, theo qui định của Thông tư
Số: 71/2006/TT-BTC ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài Chính, Thủ trưởng đơn
vị được quyết định mức chi nhưng không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quy định.
1.2.2. Ngân sách Nhà Nước cấp, Bảo hiểm y tế, Viện phí, Liên doanh liên kết và
dịch vụ theo yêu cầu.
1.2.2.1. Nguồn thu: Khác với các đơn vị theo mô hình trên, nguồn thu của
các đơn vị theo mô hình này chủ yếu được hình thành từ nguồn thu viện phí Bảo
hiểm y tế, nguồn thu viện phí, các hoạt động Liên doanh liên kết và khám chữa
Tổ chức của Jamkesmas: Bộ y tế là cơ quan chịu trách nhiệm điều hành hệ
thống Jamkesmas với sự hỗ trợ của công ty bảo hiểm Nhà nước PT Askes. PT
Askes có trách nhiệm kiểm tra số người tham gia, cấp thẻ BHYT, tuyên truyền tới 17
các chính quyền địa phương để xác định đối tượng Jamkesmas theo tiêu chí của
Trung ương.
Nguồn tài chính và quyền lợi của người tham gia Jamkesmas: Jamkesmas
được chính quyền Trung ương (qua Bộ y tế) hỗ trợ hoàn toàn chi phí KCB thông
qua việc mua thẻ BHYT và miễn phí cho họ. Mức hưởng và phạm vi hưởng phí
khám chữa bệnh của những đối tượng thẻ này là khá toàn diện, tuy vậy một số dịch
vụ kỹ thuật cao cũng chỉ được thanh toán một phần. So với các nhóm bảo hiểm
khác, người tham gia BHYT của hệ thống Jamkesmas còn được hưởng nhiều quyền
lợi hơn khi đi khám chữa bệnh, do vậy có rất nhiều người dân tìm cách được nằm
trong danh sách diện nghèo để hưởng chế độ ưu đãi đặc biệt này.
Phương thức thanh toán cho cơ sở khám chữa bệnh: Người bệnh thuộc
Jamkesmas khám chựa bệnh ban đầu tại các trung tâm y tế hoặc bác sỹ đa khoa của
Nhà nước và họ sẽ được chuyển lên bệnh viện tuyến trên nếu cần thiết. Đối với các
cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, ngân sách trung ương sẽ chuyển tiền trực tiếp căn
cứ vào lượng người nghèo khám tại đó. Đối với bệnh viện, cuối tháng bệnh viện sẽ
gửi chi phí khám chữa bệnh của bệnh nhân thuộc Jamkesmas lên trung ương (Bộ Y
Tế), trên cơ sở đó họ sẽ chuyển tiền vào tài khoản của bệnh viện. Một trong những
điểm đáng chú ý của hệ thống Jamkesmas là phương thức thanh toán chi phí khám
chữa bệnh theo nhóm chẩn đoán có tên gọi là INA-DRG (DRGs của Indonesia).
Phương thức thanh toán này được áp dụng thử nghiệm tại 15 bệnh viện trong vòng
2 năm và đến năm 2009 mới áp dụng cho tất cả các bệnh viện (cả bệnh viện công và
bệnh viện tư) có ký hợp đồng với chương trình Jamkesmas. Để thực hiện phương
thức thanh toán này, các thông tin như thời gian nằm viện trung bình, số lượng