TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
Nhóm 4:
Ngô Văn Công Bằng
Nguyễ n Lâm Thị Minh Diệu
Ngô Phi Minh
Trần Minh Trí
Phạm Thị Trúc
−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−−
ĐỔI MỚI PHƯƠNG TIỆN TRONG
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
THUỘC HỌC PHẦN
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Giảng viên: Hồ Văn Liên
Số thứ tự
(phòng Đào tạo ghi)
Tp. Hồ Chí Minh 02/2009
Trang 2/15
MỤC LỤC
BIÊN BẢN LÀM VIỆC NHÓM 4
Phần I.ĐỊNH NGHĨA PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 5
1. Định nghĩa phương tiện dạy học 5
2. Vai trò của phương tiện dạy học 5
3. Phân loại phương tiện dạy học 5
4. Yêu cầu đối với các loại phương tiện dạy học 6
5. Các yêu cầu chung đối với các phương tiện dạy học 6
Phần II.TẠI SAO PHẢI ĐỔI MỚI PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 8
Phần III.NỘI DUNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 10
Phần IV.NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG
TIỆN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 11
1.Những hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
đại học 12
làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo".
2. Vai trò của phương tiện dạy học
Trong nghiên cứu về giáo dục học có một kết luận quan trọng: "Tính trực quan
là tính chất có tính qui luật của quá trình nhận thức khoa học". Do đó, khi dạy
các môn học, đặc biệt là các môn khoa học tự nhiên, cần chú ý đến hai vấn đề
chủ yếu sau:
- Học sinh tri giác trực tiếp các đối tượng.
- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh tri giác không phải bản thân
đối tượng nghiên cứu mà tri giác những hình ảnh, biểu tượng, sơ đồ phản
ảnh một bộ phận nào đó của đối tượng.
Phương tiện dạy học có ý nghĩa to lớn đối với quá trình dạy học, phương tiện
dạy học góp phần nâng cao hiệu suất lao động của thầy và trò:
- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn.
- Phương tiện dạy học giúp làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng
thú học tập bộ môn, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học.
- Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức,
đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng,
rút ra những kết luận có độ tin cậy )
- Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học. Giúp
giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và
đánh giá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao.
3. Phân loại phương tiện dạy học
Chúng ta có thể phân loại phương tiện dạy học theo ba hướng sau đây:
a) Dựa vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện.
Phương tiện dạy học có thể được phân làm hai phần: phần cứng và phần
mềm.
- Phần cứng bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các nguyên
lý thiết kế về cơ, điện, điện tử theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài
giảng: Các máy chiếu (phim, ảnh, xi nê), radio, ti vi, máy dạy học, máy
tính điện tử, máy phát thanh và truyền hình
Trong công việc giảng dạy giáo viên không những chỉ lắp ráp, sử dụng các
phương tiện dạy học có sẵn mà đôi khi cũng cần phải tự làm lấy các phương
tiện phục vụ cho nhu cầu giảng dạy của mình. Do đó, người giáo viên cần phải
nắm được các yêu cầu chung và riêng của từng loại phương tiện dạy học.
Để đánh giá chất lượng của các loại phương tiện dạy học ta thường dựa vào
các chỉ tiêu chính: tính khoa học sư phạm, tính nhân trắc học, tính thẩm mỹ,
tính khoa học kỹ thuật và tính kinh tế.
5. Các yêu cầu chung đối với các phương tiện dạy học
Tính khoa học sư phạm
Tính khoa học sư phạm là một chỉ tiêu chính về chất lương phương tiện dạy
học. Chỉ tiêu này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo và giáo dục,
nội dung phương pháp dạy học với cấu tạo và nội dung của phương tiện. Tính
khoa học sư phạm thể hiện ở chỗ:
Trang 6/15
- Phương tiện dạy học phải bảo đảm cho học sinh tiếp thu được kiến thức,
kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương trình học,
giúp cho giáo viên truyền đạt một cách thuận lợi các kiến thức phức tạp,
kỹ xảo tay nghề làm cho họ phát triển khả năng nhận thức và tư duy
logic.
- Nội dung cà cấu tạo của phương tiện dạy học phải bảo đảm các đặc trưng
của việc dạy lý thuyết và thực hành cũng như các nguyên lý sư phạm cơ
bản.
- Phương tiện dạy học phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương
pháp giảng dạy, thúc đẩy khả năng tiếp thu năng động của học sinh.
- Các phương tiện dạy học hợp thành một bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ
về nội dung, bố cục và hình thức trong đó mỗi cái phải có vai trò và chỗ
đứng riêng.
Phương tiện dạy học phải thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học
hiện đại và các hình thái tổ chức dạy học tiên tiến.
Tính nhân trắc học
- Nội dung và đặc tính kết cấu của phương tiện dạy học phải được tính toán
để với một số lượng ít, chi phí nhỏ vẫn bảo đảm hiệu quả cao nhất.
- Phương tiện dạy học phải có tuổi thọ cao và chi phí bảo quản thấp.
Phần II. TẠI SAO PHẢI ĐỔI MỚI PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC
Ưu điểm nổi bật của các phương tiện dạy học hiện đại so với các
phương tiện truyền thống:
1) Các phương tiện nghe nhìn phục vụ cho việc giảng dạy hiện nay rất đa
dạng như máy chiếu qua đầu (overhead), video, máy thu thanh (cassette player),
phần mềm powerpoint và các phần mềm trình diễn, hệ thống nghe nhìn, phòng lab,
đĩa CD (laser disks), băng video (video tapes), máy quay camera (video camera),
máy quay video kỹ thuật số (digital camera), máy vi tính (desktop computer) và
máy vi tính xách tay (laptop).… Các phương tiện này đã góp phần làm cho bài
giảng sinh động, tạo nên sự hứng thú và tập trung theo dõi của người học, giảm nhẹ
sức lao động của giảng viên trong quá trình giảng dạy
Việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn trong giảng dạy giúp cho người học
có hứng thú, dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ qua đó giúp người dạy chuyển tải nội dung đến
người học một cách có hiệu quả nhất.
Trên cơ sở khai thác triệt để thế mạnh các phương tiện nghe nhìn như hiệu
ứng màu sắc, âm thanh, hình ảnh động giảng viên có thể giới thiệu các khái niệm,
diễn giải một quá trình, đặt các câu hỏi… bằng những minh họa trực quan làm cho
bài giảng bớt trừu tượng. Để tiếp thu một vấn đề sẽ rất hiệu quả nếu người học vừa
được nghe, được nhìn và được suy nghĩ theo logic.
Do vậy, khi giảng viên có khả năng làm chủ chuyên môn thì phương tiện
nghe nhìn sẽ có tác dụng hỗ trợ giảng dạy rất tốt. Với các trợ giúp này giảng viên dễ
dàng nhấn mạnh các điểm chính của bài giảng cũng như giúp duy trì bài giảng một
cách hứng thú và lôi cuốn người học. Sử dụng thành thạo phương tiện nghe nhìn tạo
cho giảng viên cơ hội chuẩn bị trước bài giảng tốt hơn, thể hiện được sự logic và
tính sáng tạo của mình.
2) Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phần mềm giáo dục
dung thông tin; hoặc 20-40% khi chỉ nhìn, nhưng hiệu quả sẽ đạt tới 60 - 80% nếu
kết hợp cả hai chức năng trên. Từ căn cứ khoa học và thực tiễn trên, chúng ta nhận
thấy việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục là tất yếu,
xuất phát từ đòi hỏi của thực tế khách quan và sự hội nhập trong xu thế phát triển
toàn cầu hoá. Phương pháp dạy học theo kiểu truyền thống (thầy đọc trò chép)
không mang lại hiệu quả cho cả người học và người dạy; không còn phù hợp trong
giai đoạn hiện nay. Nhưng việc đổi mới phương pháp chỉ có hiệu quả và tác động
tích cực khi giảng viên có kiến thức chuyên môn vững vàng và được trang bị những
kỹ năng cần thiết về khả năng thuyết trình, hiểu biết và sử dụng các công cụ hỗ trợ
giảng dạy như tin học, các trang thiết bị nghe nhìn và biết ứng dụng công nghệ
thông tin trong giảng dạy.
Trang 9/15
Phần III. NỘI DUNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC
Những thành tựu của CNTT đã góp phần rất quan trọng cho quá trình hình thành và phát
triển nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin mang tính chất toàn cầu.
Công nghệ thông tin cũng thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đổi mới trong giáo dục, tạo ra
công nghệ giáo dục với nhiều thành tựu rực rỡ, bao gồm:
Công nghệ dạy và học: CNTT làm thay đổi nội dung, hình thức và phương pháp dạy
học một cách phong phú. Các hình thức dạy học như dạy theo lớp, dạy theo nhóm, dạy cá
nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin. Mối giao lưu giữa
người và máy đã trở thành tương tác hai chiều với các phương tiện đa truyền thông
(multimedia) như âm thanh, hình ảnh, video, mà đỉnh cao là e-learning (học trực tuyến
qua mạng Internet).
Công nghệ quản lý giáo dục: làm thay đổi phương thức điều hành và quản lý giáo
dục, hỗ trợ công cuộc cải cách hành chính để quản lý các hoạt động giáo dục và đào tạo
hiệu quả hơn.
Ở đây chỉ xin nói đến Đổi mới phương tiện giáo dục trong việc dạy và học
- Các phương tiện dạy học truyền thống: bảng, đồ thị, ảnh, sách giáo khoa,…
- Các phương tiện nghe nhìn hiện đại: Máy chiếu (truyền xạ, phản xạ), máy chiếu
dục đại học.
Chúng ta đang ở giao đoạn hội nhập WTO, ứng dụng công nghệ tin học vào trường
học qua các Bài giảng điện tử, đề thi trắc nghiệm nhanh, phần mềm tự học, dạy học
e-Learning, e-books online sau một quá trình thử nghiệm vừa qua đã chứng minh
rõ ràng tính ưu việt của các phương tiện giáo dục tích cực Ngày hội Ứng dụng
CNTT vào Giáo dục được tổ chức nhiều nơi cho Kết quả khả quan về tính thực tiễn
đổi mới PPDH có ứng dụng CNTH sẽ nâng cao chất lượng, hơn hẳn lối dạy học
truyền thống cổ xưa. Do đó việc ứng dụng CNTT là tất yếu trong giáo dục đại học
hiện nay.
Tuy nhiên vẫn có những hạn chế, trở ngại mà chúng ta cần quan tâm khi ứng dụng
CNTT vào giáo dục đại học.
Một số hình ành cho thấy việc cải cách trong sử dụng phương tiện dạy học qua các
giai đoạn lịch sử
- Dùng đèn chiếu & phim nhựa
Trang 11/15
- Dùng máy chiếu
- Dùng máy vi tính và máy chiếu
Phần sau đây tôi sẽ trình bày hai vấn đề
- Những hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục
đại học
- Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin tại NIIT – học viện công nghệ
thông tin nơi tôi đang công tác
1. Những hạn chế trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo
dục đại học
Chi phí cao
Trang 12/15
- Trang bị phương tiện hiện đại đòi hỏi chi phí đầu tư cao. Chi phí bao gồm
chi phí mua trang thiết bị, chi phí duy trì, chi phí bảo trì, sửa chữa khi có
hư hỏng.
- Chi phí thuê nhân sự để quản lý phương tiện. Ví dụ, trang bị phòng máy
a. Giới thiệu về NIIT
- NIIT là học viện tiên phong trong lĩnh vực giáo dục tư nhân về CNTT ở
Ấn Độ cách đây 28 năm, và được mọi người tín nhiệm với tỉ lệ cứ 3
chuyên viên IT ở Ấn Độ thì có 1 là được đào tạo bởi NIIT thông qua
mạng lưới giáo dục rộng khắp ở Ấn Độ và hơn 40 quốc gia khác.
ĐÔI NÉT VỀ NIIT
Trang 13/15
- Được thành lập năm 1981 tại Ấn Độ, đến nay NIIT trở thành một trong
những tập đoàn hàng đầu thế giới trong lĩnh vực đào tạo và giải pháp
công nghệ thông tin. Hiện nay, NIIT có mặt tại hơn 44 quốc gia, cung cấ
các giải pháp đào tạo, phần mềm và giải pháp tri thức cho các tổ chức,
các tập đoàn đa quốc gia như Worldbank, Citigroup, Bristish Airways,
Ford Motors, IBM, Microsoft…
- Tại Châu Á, NIIT là Học viện đầu tiên và duy nhất trong 5 năm liên tiếp
được IDC xếp hạng một trong 20 Học viện Đào tạo Công nghệ thông tin
hàng đầu thế giới (IDC 2001 – 2004). NIIT cũng được đưa vào danh sách
“500 Superbrands” (Nhãn hiệu mạnh) do Hội đồng Superbrands bình
chọn từ năm 2003.
THÀNH TỰU NỔI BẬT
- Một trong “20 Học viện CNTT hàng đầu thế giới” (IDC 2001 – 2007)
- Học viện CNTT Số 1 tại Ấn Độ và Châu Á (Computer Today 2001 –
2007)
- Sự lựa chọn Đầu tiên của Nhà tuyển dụng “First Choice of Recruiters”
(Data Quest)
- Được bình chọn là 01 trong 05 đơn vị đào tạo CNTT hàng đầu Việt Nam
năm 2008
- Năm 2009, lần thứ 04 liên tiếp NIIT đạt danh hiệu cúp vàng CNTT và 02
năm liền đạt danh hiệu Đơn vị Đào tạo CNTT hàng đầu.
Trang 14/15
b. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy & học của NIIT
trang web học trực tuyến, các buổi Tech Chat.
Trang 15/15