MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ - BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU
i
ii
iii
1
Chương 1. Những vấn đề chung quản lý sử dụng NSNN……….
6
1.1. Bản chất, vai trò của ngân sách nhà nước
6
1.1.1. Khái niệm, bản chất NSNN
6
1.1.2. Vai trò của NSNN
7
1.1.2.1. Công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu
chi tiêu của nhà nước…………………………………………….
7
1.1.2.2. Công cụ điều tiết vĩ mô KT-XH của nhà nước………….
8
1.2. Nội dung quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước
13
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
13
1.2.2. Vai trò của các cấp ngân sách ở Việt Nam
32
2.1.2. Chấp hành dự toán
32
2.1.3 Quyết toán chi ngân sách
33
2.2. Quản lý và sử dụng NS địa phương tại cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp ở Lâm Đồng sau khi có luật Ngân sách
34
2.2.1. Công tác lập và giao dự toán
35
2.2.2. Cấp phát, thanh toán và sử dụng ngân sách
40 2.2.2.1. Cấp phát, thanh toán kinh phí chi tiêu thường xuyên
40
2.2.2.2. Cấp phát, thanh toán chi đầu tư xây dựng cơ bản
44
2.2.2.3. Chấp hành chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu ngân
sách……
47
2.2.2.4. Kế toán chi tiêu ngân sách
52
2.2.3. Quyết toán chi ngân sách
54
2.2.4. Quản lý và sử dụng kinh phí NS đối với đơn vị thực hiện
cơ chế tự chủ tài chính NS tỉnh Lâm Đồng
57
2.2.4.1. Thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng
biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các CQHC Nhà
sách theo đầu ra
75
3.2.3. Cải tiến hình thức cấp phát, thanh toán các khoản chi NS
78
3.2.3.1. Đối với hình thức cấp phát, thành toán bằng lệnh chi
tiền
78
3.2.3.2. Đối với hình thức cấp phát, thanh toán theo dự toán từ
KBNN……………………………………………………………
79
3.2.4. Cái tiến nội dung, phương thức lập và phê duyệt quyết
toán chi ngân sách
83
3.2.5. Cải tiến công tác giám sát chi tiêu ngân sách
85
3.2.5.1. Nâng cao hiệu quả các hình thức gián sách chi tiêu NS
86
3.2.5.2. Nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm toán NS
87
3.2.6. Phân định trách nhiệm, quyền hạn của từng cơ quan trong
chu trình Ngân sách
89 3.2.6.1. Trách nhiệm, quyền hạn của thủ trưởng đơn
89
3.2.6.2. Trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan chủ quản, đơn vị
dự toán cấp trên
90
3.2.6.3. Trách nhiệm, quyền hạn của KBNN
1
CCHC
Cải cách hành chính
2
CQHC
Cơ quan hành chính
3
CQTC
Cơ quan tài chính
4
DTNS
Dự toán ngân sách
5
ĐVSN
Đơn vị sự nghiệp
6
GDP
Gross Domestics Products (Tổng sản
phẩm quốc nội)
7
GNP
Gross National Product (Tổng sản
phẩm quốc dân)
8
HCNN
Hành chính nhà nước
9
HĐND
Hội đồng nhân dân
10
Stt
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Dự toán chi NS địa phương tại TLĐ
36
2
Bảng 2.2
Quyết toán chi NS địa phương TLĐ
57 iii
DANH MỤC HÌNH
Stt
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Hình 1.1
Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt
Nam
15
2
Hình 1.2
Hệ thống cơ quan hành chính nhà
HCNN và ĐVSN công là một trong những chương trình hành động trọng
điểm từ 2011 đến 2015, xác định: phân bổ ngân sách cho cơ quan HCNN
theo kết quả đầu ra và chất lượng hoạt động, mức độ hoàn thành nhiệm vụ
được giao; thực hiện chế độ khoán chi trong cơ quan HCNN; xây dựng cơ
chế tài chính phù hợp với các tổ chức thực hiện chức năng dịch vụ công và
ĐVSN, tạo tính chủ động của các tổ chức này, giảm dần chi từ ngân sách
nhà nước (NSNN) tiến tới thực hiện chế độ tự quản tài chính.
Trong những năm qua, Lâm Đồng đã đạt được những chuyển biến
tích cực trong phương thức quản lý chi tiêu, được Chính phủ đánh giá cao về
phương thức thực hiện khoán chi và cho nhân rộng ra toàn quốc. Là địa
phương vừa cải tiến mạnh mẽ, vừa kết hợp duy trì quy trình cũ. Chính vì vậy
tuy có nhiều thành công nhưng Lâm Đồng cũng còn hạn chế trong khâu tổ
chức lập, phân bổ dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách; chi tiêu ngân
sách còn sai chế độ, lãng phí trong lĩnh vực sử dụng trụ sở làm việc như xây
vượt định mức tiêu chuẩn cho phép; sử dụng trụ sở sai mục đích như cho
thuê các hoạt động dịch vụ kinh doanh, còn lãng phí mua sắm ô tô vượt mức
quy định, sử dụng sai mục đích; ý thức trách nhiệm của người đứng đầu
trong các cơ quan hành chính (CQHC), ĐVSN sử dụng kinh phí ngân sách
chưa cao. Chính vì vậy vấn đề: “Quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách
2
địa phƣơng tại các cơ quan hành chính nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp trên
địa bàn Lâm Đồng” là đề tài nghiên cứu luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu
Một số tác giả đã có những nghiên cứu về vấn đề này làm luận văn
thạc sĩ và các bài đăng trên tạp chí như sau:
- Trần Hồng Hà (2006); Quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp có thu
tại tỉnh Bình Thuận; Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế TP.HCM.
Qua tìm hiểu và nghiên cứu tôi thấy luận văn nay chưa nêu rõ được
thường xuyên của NSNN qua KBNN; Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua luận văn này tôi thấy nhấn mạnh về công tác kiểm soát chi
NSNN qua kho bạc đối với chi thường xuyên nhưng không nói đến việc
kiểm soát chi những khoản chi lớn qua kho bạc như chi xây dựng cơ bản,
sắm trang thiệt bị, xe
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: đề tài luận văn trình bày một cách rõ nét cơ sở lý luận về
ngân sách nhà nước (NSNN), CQHC Nhà nước và ĐVSN trong nền kinh tế
thị trường; phân tích và đánh giá tình hình quản lý và sử dụng NS địa
phương ở tỉnh Lâm Đồng (TLĐ). Trên cơ sở đó, kiến nghị chính quyền Tỉnh
trong thẩm quyền của mình, cần thay đổi một số cơ chế hiện hành về quản lý
chi tiêu NS; các vấn đề vượt thẩm quyền, cần tiếp tục kiến nghị các Bộ,
Ngành và Chính Phủ sửa đổi.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu quy trình quản lý chi tiêu ngân
sách địa phương; việc sử dụng kinh phí ngân sách của các cơ quan HCNN,
ĐVSN trên địa bàn Lâm Đồng. Lâm Đồng bao gồm các cơ quan, Sở, ban
ngành và đơn vị trực thuộc sử dụng kinh phí ngân sách tỉnh; các cơ quan và
đơn vị thuộc khối TP, huyện, ngân sách xã.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biến chứng và duy vật lịch sử
làm phương pháp khảo sát điều tra thực tế kết hợp phân tích và tổng hợp,
phương pháp thống kê kinh tế, phương pháp logic biện chứng. Nguồn số liệu
sơ cấp qua việc trực tiếp thu thập từ các đơn vị, một số nguồn thứ cấp từ các
báo cáo quyết toán Ngân sách trình Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Lâm
Đồng, Bộ Tài chính.
6
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG
NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
1.1. Bản chất, vai trò NSNN
1.1.1. Khái niệm, bản chất Ngân sách nhà nƣớc
Theo khái niệm chung thì NSNN là dự toán thu - chi bằng tiền của
Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Như
vậy, NSNN là một kế hoạch tài chính cơ bản của quốc gia, trong đó gồm có
kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối: thu phải
đủ chi, chi không vượt thu.
Theo Luật NSNN Việt Nam thì: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi
của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được
thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước.
Năm NS hay còn gọi là năm tài chính, là giai đoạn mà trong đó, dự
tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước phải
được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế.
Việc huy động nguồn thu vào tay nhà nước để đảm bảo các yêu cầu
chi tiêu cần thiết phải chú ý đến ba vấn đề:
- Mức động viên vào NSNN đối với các thành viên trong xã hội qua
thuế và các khoản thu khác có liên quan phải hợp lý. Mức động viên cao hay
thấp đều có tác dụng tiêu cực.
- Tỉ lệ động viên vào NSNN đối với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
8
vừa đảm bảo hợp lý với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo
cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụ vốn để tái sản xuất mở rộng.
- Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho NSNN và thực
hiện các khoản chi tiêu của NSNN.
1.1.2.2. Công cụ điều tiết vĩ mô nền KT-XH của nhà nƣớc
Khi đề cập đến các công cụ tài chính trong quản lý và điều tiết vĩ mô
nền kinh tế - xã hội (KT-XH), nhà nước không thể không sử dụng một công
cụ rất quan trọng đó là NSNN. Bởi lẽ, phạm vi phát huy vai trò của NSNN
rất rộng và trên một mức độ lớn, nó tương đồng với phạm vi phát huy chức
năng và nhiệm vụ của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH. Hay
nói cách khác, do cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ
phía nhà nước. Song, nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện điều chỉnh thành
công khi có nguồn tài chính đảm bảo, tức là khi sử dụng triệt để và có hiệu
quả công cụ NSNN. Vai trò điều tiết vĩ mô nền KT-XH của NSNN có thể
được khái quát hóa trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và thị trường như sau:
Về mặt kinh tế
NSNN có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng hình thành cơ
cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc
quyền.
nghèo, mà chính là những người có thu nhập trung bình hoặc cao.
Về mặt thị trường
NSNN có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về
ổn định giá cả, thị trường và chống lạm phát. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí,
vay và chính sách chi NSNN có thể điều chỉnh được giá cả, thị trường một
cách chủ động.
10
Một chính sách NS thắt chặt hay nới rộng đều có thể tác động mạnh
mẽ đến cung - cầu xã hội.
Việc huy động của NSNN dưới các hình thức thuế, phí, lệ phí, vay và
kể cả bảo hiểm xã hội trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm
quốc dân (GNP) chiếm tỉ trọng cao thì sự cung ứng vốn đầu tư dài hạn, vốn
tiền tệ ngắn hạn của các nhà đầu tư và đầu tư của dân sẽ giảm, vốn tự đầu tư
sẽ khan hiếm hơn. Mặt khác, nó sẽ làm cho cầu về hàng hóa, dịch vụ của
dân cư giảm xuống, nhưng NSNN lại có điều kiện để tăng cầu với quy mô
lớn và chi cho đầu tư lớn sẽ kích thích tăng cung.
Ngược lại, nếu NSNN huy động trên GDP và GNP chiếm tỉ trọng thấp
thì nguồn tự đầu tư tăng lên, thúc đẩy tăng cung, đồng thời kích thích tăng
cầu về hàng hóa, dịch vụ, nhưng NS lại không có điều kiện để tăng cầu và
chi cho đầu tư.
Trên thị trường tài chính, nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ có tác
động tăng cung ứng vốn từ phía các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dùng để
dành cho tương lai, đồng thời làm giảm lượng cầu về vốn đầu tư của doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất các khoản vay
của nhà nước giảm xuống dưới mức lợi tức bình quân toàn xã hội, các nhà
đầu tư sẽ tìm môi trường đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
mà không muốn cho nhà nước vay. Mặt khác, lãi suất các khoản vay của nhà
nước có vị trí quan trọng trên thị trường chứng khoán, có thể tham gia điều
Khái niệm hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp NS, giữa chúng có mối quan hệ
hữu cơ với nhau đã được xác định bởi sự thống nhất về cơ sở kinh tế - chính
trị, bởi pháp chế và các nguyên tắc tổ chức của Nhà nước.
12
Các nước có nền kinh tế thị trường, hệ thống NSNN được tổ chức phù
hợp với hệ thống hành chính. Có hai mô hình tổ chức hệ thống hành chính
đó là: Mô hình nhà nước liên bang; Mô hình nhà nước thống nhất hay phi
liên bang.
Xuất phát từ đó cũng tồn tại hai mô hình tổ chức hệ thống NSNN. Ở
các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể chế nhà nước liên bang
như: Mỹ, Đức, Canada, Thụy Sĩ, Malaysia, hệ thống NSNN được tổ chức
theo 3 cấp: NS liên bang; NS bang; NS địa phương.
Hệ thống NSNN ở các nước có mô hình tổ chức hành chính theo thể
chế nhà nước thống nhất hay phi liên bang như: Anh, Pháp, Ý, Nhật, bao
gồm 2 cấp NS: NS trung ương; NS địa phương.
Những nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
NSNN ở các nước có nền kinh tế thị trường được xây dựng trên cơ sở
các nguyên tắc khá chặt chẽ, trong đó nổi bật lên những nguyên tắc cơ bản
sau:
Thứ nhất, là nguyên tắc thống nhất: Nhà nước chỉ có một NS tập hợp
tất cả các khoản thu và các khoản chi. Sự thống nhất của NS còn thể hiện
trong sự thống nhất về hệ thống NS, về các báo biểu, mẫu biểu tài chính.
Nguyên tắc thống nhất đảm bảo cho yêu cầu kiểm tra từ phía nghị viện đối
với hoạt động tài chính của chính phủ.
Thứ hai, là nguyên tắc về sự đầy đủ và toàn bộ của NSNN: Nguyên tắc
này được đưa ra nhằm chống lại tình trạng để ngoài NS các khoản thu hoặc
chi thuộc NSNN, dẫn đến tình trạng lãng phí trong quá trình chi tiêu của
về tài chính và củng cố NS của nhà nước Việt Nam, như phát hành tiền kim
khí (ngày 1/12/1946) và giấy bạc Việt Nam (ngày 3/2/1946); đặt ra "Quỹ
14
độc lập" nhằm huy động vốn cho NSNN. Nói chung, trong giai đoạn kháng
chiến (1946 - 1954) mọi vấn đề huy động và chi tiêu của NSNN đều nhằm
mục đích phục vụ kháng chiến thắng lợi.
Đến năm 1967 chế độ phân cấp quản lý NS ra đời. Hệ thống NSNN
bao gồm: NS trung ương và NS địa phương các tỉnh, thành phố ở miền Bắc
.
Năm 1978, chính phủ ra quyết định số 108/CP, NS địa phương được
phân thành hai cấp: NS tỉnh, thành phố; NS huyện, Quận, thị xã trực thuộc
tỉnh.
Với Nghị quyết 138/HĐBT ngày 19/11/1993, NS xã được tổng hợp
vào NSNN và hệ thống NSNN bao gồm 4 cấp: NS trung ương; NS tỉnh,
thành phố; NS huyện (quận, thị xã); NS xã (phường, thị trấn)
Trong giai đoạn nền kinh tế nước ta chuyển mình sang cơ chế mới, có
lúc NS huyện được thí điểm chuyển sang cấp dự toán. Và từ đây việc tìm
kiếm một phương án phân cấp phù hợp với tình hình thực tế mới, đáp ứng
được yêu cầu của chính quyền nhà nước các cấp bắt đầu được đặt ra. Đã có
nhiều phương án được đề xuất
.
Mỗi phương án đều có ưu, nhược điểm riêng
của nó. Sau nhiều lần thảo luận, cuối cùng trong kỳ họp Quốc Hội thứ 9,
khóa IX từ ngày 02/03/1996 đến ngày 20/3/1996) đã thông qua Luật NSNN
ngày 20/3/1996
.
Luật này có hiệu lực thi hành từ năm NS 1997 và được sửa
phát triển KT-XH trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định NS, phải tăng khả
năng tự cân đối, phát triển NS địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ
NS cấp trên đối với địa phương nhận bổ sung từ NS cấp trên hoặc tăng tỷ lệ
phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về NS cấp trên đối với những địa phương
có điều tiết về NS cấp trên;
- Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ
quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng
của mình, thì phải chuyển kinh phí từ NS cấp trên cho cấp dưới để thực hiện
nhiệm vụ đó;
- Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi
như trên, không được dùng NS của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp
khác.
- Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp được sử dụng NS cấp mình để hỗ
trợ cho các đơn vị do cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong các trường
hợp:
+ Khi xảy ra thiên tai và các trường hợp cấp thiết khác mà địa phương
cần khẩn trương huy động lực lượng để bảo đảm ổn định tình hình KT-XH;
+ Các đơn vị do cấp trên quản lý khi thực hiện chức năng của mình,
kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới.
1.2.2. Vai trò của các cấp ngân sách ở Việt Nam
17
Vai trò của NS trung ương
NS trung ương được hợp thành từ các kế hoạch tài chính các ngành
kinh tế quốc dân và các dự toán kinh phí của Bộ, các cơ quan trực thuộc
chính phủ. NS trung ương phản ánh sự lãnh đạo tập trung kinh tế theo
ngành. Trong hệ thống NSNN, NS trung ương là khâu trung tâm và giữ vai
trò chủ đạo. NS trung ương có vai trò:
- Tác động có tính tổ chức và xác định phương hướng hoạt động đối