Câu hỏi đáp án ôn thi CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH - Pdf 25

THAM KHẢO CHƯƠNG TRÌNH CHUYÊN VIÊN CHÍNH
Câu hỏi: Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) quy định:" Nhà nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nứôc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân" anh,chị hãy lý giải:
- Nhà nước pháp quyền là gì? so sánh các đặc trưng của nhà nước pháp quyền nói chung
và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam noí riêng.
- Tại sao nước ta phải xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN? Phương hướng hoàn thiện
bộ máy nhà nước ta theo hướng pháp quyền.
Trả lời:
- Khái niệm về nhà nước pháp quyền
1. Khái niệm nhà nước pháp quyền
Hiện nay, trong lý luận có nhiều quan điểm, cách tiếp cận khác nhau về khái niệm và các yếu tố
cơ bản của nhà nước pháp quyền. Cụ thể các quan điển thường nhấn mạnh đến một trong những yếu tố cơ
bản sau đây của nhà nước pháp quyền: tính tối cao của pháp luật, nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của chính
nhà nước; cơ chế phân chia quyền lực, kìm chế và đối trọng giữa những nhánh quyền lực: lập pháp, hành
pháp và tư pháp; dân chủ, xã hội công dân; quyền con người…
Là một khái niệm có nội hàm khái niệm rộng lớn, nhà nước pháp quyền bao gồm nhiều thành tố
cấu thành trong mối quan hệ biện chứng: nhà nước và pháp luật, nhà nước và xã hội công dân, dân chủ.
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước.
Trên cách hiểu phổ quát nhất, nhà nước pháp quyền được thể hiện ở những đặc điểm cơ bản
sau:
Thứ nhất, tổ chức nhà nước được thiết kế, hoạt động trên cơ sở pháp luật, bản thân nhà nước
cũng phải đặt mình trong khuôn khổ pháp luật. Hình thức tổ chức nhà nước được xây dựng trên cơ
sở của sự phân công lao động hợp lý giữa các loại cơ quan trong bộ máy nhà nước: lập pháp, hành
pháp và tư pháp .
Một hình thức tổ chức nhà nước mà nền tư pháp được tổ chức khoa học, có hiệu quả và độc lập
chỉ tuân theo pháp luật. Trong nhà nước pháp quyền phải hiện hữu một nền hành chính trong sạch, hiệu
quả, phục vụ tốt nhất những nhu cầu đa dạng, chính đáng của các cá nhân, tổ chức.
Thứ hai, một hình thức tổ chức nhà nước mà pháp luật có vị trí, vai trò xã hội to lớn, là ph-
ương tiện điều chỉnh quan trọng hàng đầu đối với các quan hệ xã hội, là công cụ của nhà nứơc và
toàn xã hội.

Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức…"
- So sánh đặc điểm Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và Nhà nước pháp quyền nói
chung
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn của nhà nước pháp quyền, có thể nêu những đặc điểm cơ bản
nhất về nhà nước pháp quyền như sau:
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đảm bảo tính đồng bộ,
thống nhất để thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật dựa trên nền tảng đạo đức xã hội và đạo đức tiến
bộ cuả nhân loại.
- Xác lập và có cơ chế hữu hiệu để đảm bảo tính tối cao của luật trong hệ thống các văn bản pháp
luật.
- Pháp luật trong nhà nước pháp quyền phải mang tính nhân đạo phù hợp đạo đức xã hội, tất cả vì
lợi ích chính đáng của con người.
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước, trong đó mối quan hệ giữa nhà nước và công dân bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ, quan hệ đồng trách nhiệm. Tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ đối với mọi cá nhân, tổ
chức kể cả nhà nước, nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại vật chất, tinh thần cho
cá nhân về các quyết định và hành vi sai trái của mình.
- Nhà nước pháp quyền là nà nước trong đó các quyền tự do, dân chủ và lợi ích chính đáng của
con người được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng hệ thống pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều
phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời, đúng pháp luật.
- Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước được tổ chức khoa học, các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp đợc phân định rõ ràng, hợp lý cho ba hệ thống cơ quan nhà nước tương ứng trong mối
quan hệ cân bằng, kiểm soát lẫn nhau tạo thành một cơ chế đồng bộ đảm bảo sự thống nhất của quyền lực
nhà nước, thực hiện quyền lực nhân dân.
- Nhà nước pháp quyền tồn tại trên cơ sở một xã hội công dân phát triển lành mạnh, đảm bảo tự
do của các cá nhân và các tổ chức của họ trên cơ sở pháp luật và đạo đức xã hội.
- Nhà nước pháp quyền là nhà nước sống hoà đồng với cộng đồng thế giới, thực hiện các cam kết
quốc tế, các điều ước quốc tế mà nhà nước là thành viên ký kết hay công nhận.
Nhận diện từ góc độ tổng thể, nhà nước pháp quyền là kiểu tổ chức xã hội ở trình độ cao và

Tính pháp quyền cao nhất của quyền lực nhà nước ở nước ta là ở chỗ đó. Chính vì tầm quan
trọng của việc khẳng định chủ quyền chính trị của nhân dân mà ngày nay vấn đề bầu cử, các hình
thức dân chủ trực tiếp vẫn tiếp tục là những vấn đề cần được đặt trong sự chú ý của quá trình cải
cách bộ máy nhà nước và đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta. Bầu cử như thế nào, quyền bầu cử
phải được sử dụng như thế nào để nhân dân tìm cho được “những người xứng đáng thay mặt cho
mình gánh vác việc nước” là nội dung cơ bản của việc đổi mới cơ chế bầu cử ở nước ta hiện nay.
- Khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ là nguyên tắc cơ bản được
ghi nhận trong hiến pháp mà còn gắn liền với với việc thiết lập các cơ chế bảo đảm thực hiện quyền
lực thực sự của nhân dân.
+ Nhân dân ta, người chủ của quyền lực, không chỉ tạo lập nên Nhà nước của mình, trực tiếp
và thông qua các cơ quan đại diện cho mình thực thi quyền lực, mà còn thông qua các hình thức
khác để tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch
định chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như vào các hoạt động thuộc phạm vi của
Nhà nước – hoạt động lập pháp, hoạt động quản lý – điều hành, công tác xét xử và các hoạt động bảo
vệ pháp luật. Đó chẳng những là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta mà còn là một trong những
quyền cơ bản của công dân nước ta. Điều 53 của Hiến pháp ghi: “Công dân có quyền tham gia quản
lý Nhà nước và xã hội…”.
+ Là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên là những tổ chức để qua đó nhân dân ta “tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng
Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân (…), giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước (Điều 9 Hiến pháp).
Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với
cơ quan nhà nước (…) chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao
động khác, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước…” (Điều 10 Hiến pháp). Thay mặt cho các tổ chức của mình, Chủ tịch uỷ ban Trung ương Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được
mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề có liên quan (Điều 111 Hiến pháp). Đến
lượt mình, Chính phủ có trách nhiệm hiến định là phối hợp với các tổ chức đó trong khi thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả (Điều 112 Hiến pháp).
+ Cá nhân công dân, song song với việc tham gia vào các hoạt động của Nhà nước với tư cách

nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở
địa phương (Điều 125 Hiến pháp).
+ Giáo dục ý thức chính trị và năng lực chính trị cho nhân dân là bảo đảm hết sức quan trọng
để duy trì bản chất dân chủ của Nhà nước ta và chế độ chính trị của chúng ta. Nhưng đối với Chủ
tịch Hồ Chí Minh, ý thức và năng lực đó của nhân dân phải là sản phẩm của hoạt động quản lý,
tham gia quản lý Nhà nước và quản lý xã hội của nhân dân. Người nói : Nhà nước ta “phải phát
triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, làm cho mọi người công dân Việt Nam thực
sự tham gia vào công việc của Nhà nước” (người trích nhấn mạnh).
+ Hiệu quả của chính quyền, của cả hệ thống chính trị của chúng ta hiện nay là đẩy tới sự
nghiệp đổi mới, làm cho đất nước ta không ngừng phát triển, mà trước hết là lấy kết quả phát triển
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm mục
tiêu tổ chức và hoạt động.
- Trong tư tưởng và phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng ta, tính hiệu quả
và thiết thực vì dân là một phương châm tổ chức và hoạt động hết sức được coi trọng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói : “Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi ; nếu dân rét, Đảng và
Chính phủ có lỗi ; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi”. Khi Bác nói như vậy là Bác muốn nói đến
hiệu quả thực tế nhiệm vụ cụ thể trong việc hoạch định chính sách và pháp luật và tổ chức thực hiện
chính sách, pháp luật.
Từ đó, tiêu chí của việc đánh giá hiệu quả hoạt động của Nhà nước là khả năng phục vụ
nhân dân, là công cụ để nhân dân làm chủ về kinh tế, chính trị, xã hội, sử dụng tốt và có hiệu quả
các quyền, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình.
Chúng ta cần nhớ câu nói rất đơn giản, nhưng rất rõ ràng của Bác là: “Việc gì có lợi cho dân
thì ta phải làm, việc gì hại cho dân thì ta phải tránh”. Chính quyền là của dân, nên nó phải tiện lợi
cho dân, gắn với dân, tôn vinh nhân dân.
- Đối với chúng ta vấn đề về tính pháp quyền của quyền lực nhà nước được xem xét ở bình
diện khẳng định và bảo đảm quyền lực đó là của nhân dân, giữ cho nó luôn luôn nằm trong quỹ đạo
phục vụ nhân dân.
Ở bình diện thứ hai, vấn đề được đặt ra là làm thế nào để nhân dân uỷ nhiệm cho Nhà nước
thực hiện quyền lực của mình mà không bị mất quyền, không bị lạm quyền, sử dụng quyền lực để đi
ngược lại với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

“Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”
1
Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày 3-9-
1945, Hồ Chủ tịch đã nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực
dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền
tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”
2
Như vậy, ngay từ đầu, ở nước ta, sự hiện diện của Hiến pháp đã được gắn liền với nền dân chủ,
với quyền tự do dân chủ của nhân dân. Nhà nước ta được tính chất và hoạt động trên nền tảng Hiến pháp
và trong khuôn khổ của Hiến pháp.
Kế thừa và phát triển các giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa lập hiến Việt Nam, Hiến pháp năm 1992
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xuất phát từ những nguyên tắc và quan điểm lớn của
Đảng ta và điều chỉnh những chế định lớn như:
1) Chủ quyền quốc gia sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;
2) Đại đoàn kết toàn dân;
3) Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân: quyền lực nhà nước là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân và là quyền lực thống nhất;
4) Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội;
5) Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
6) Thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự do cơ bản của công dân và
nghĩa vụ của công dân; thực hiện vai trò xã hội của Nhà nước, đề cao chủ nghĩa nhân đạo XHCN, và tính
nhân văn trong đời sống xã hội;
7) Bảo đảm sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
8) Quản lí xã hội bằng pháp luật, đề cao đạo đức XHCN, bảo đảm và không ngừng tăng cường pháp
chế XHCN;
9) Tập trung dân chủ trên cơ sở có sự phân công và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp; bảo đảm sự độc lập của Toà án;
10). Tổ chức quyền lực theo đơn vị hành chính-lãnh thổ, đảm bảo sự hài hoà giữa quyền lực tập
trung thống nhất với sự chủ động sáng tạo của địa phương và cơ sở.

Pháp luật của Nhà nước ta phản ánh đường lối, chính sách của Đảng và lợi ích của nhân dân. Vì
vậy, pháp luật phải trở thành phương thức quan trọng đối với tính chất và hoạt động của Nhà nước và là
thước đo giá trị phổ biến của xã hội ta: công bằng, dân chủ, bình đẳng – những tố chất cần thiết cho sự
phát triển tiến bộ và bền vững của Nhà nước và xã hội ta.
Nhà nước pháp quyền đặt ra nhiệm vụ phải có một hệ thống pháp luật cần và đủ để điều chỉnh các
quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại một trật tự pháp luật và kỉ luật. Pháp luật thể chế hóa các nhu cầu
quản lí xã hội, là hình thức tồn tại của các cơ cấu và tổ chức xã hội và của các thiết chế Nhà nước. Vì
vậy, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật là lối sống có trật tự và lành mạnh nhất của xã hội. Tất
cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp
hành Hiến pháp và pháp luật.
Hiến pháp đã ghi rõ những yêu cầu đó như sau:
a) Về Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam (…) là
lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4).
b) Về Nhà nước: - “Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa.
Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và mọi công dân phải
nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật… Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lí theo pháp luật” (Điều 12).
- “Nhà nước thống nhất quản lí toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật” (Điều 18); “Nhà
nước thống nhất quản lí nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách” (Điều 26)
c) Về công dân: “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định” (Điều
51); “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” (Điều 57); “Các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật” (Điều 70); “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật
bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” (Điều 71); “Việc bắt giữ và giam giữ người phải
đúng pháp luật” (Điều 71); “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72); “Việc khám xét chỗ ở, việc bóc, mở, kiểm soát, thu giữ thư tín,
điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật” (Điều 73);
“Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được…nghiêm chỉnh chấp
hành” (Điều 136).

công bằng, bình đẳng của nó. Không thể tuỳ tiện đưa ra luật! Tình trạng “phi mã’ của các văn bản dưới
luật, các “giấy phép con” của các Bộ, ngành, các địa phương; tình trạng thay đổi quá nhanh và thiếu tính
khả thi của các quy định pháp luật đã phần nào làm suy giảm lòng tin vào những giá trị công bằng và khả
năng điều chỉnh của pháp luật hiện nay. Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền là quyết tâm đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặt công việc đó trên một nền
tảng khoa học.
Đề cao pháp luật, tăng cường pháp chế phải đi liền với mối quan tâm làm sao để đưa pháp luật
vào cuộc sống, tạo thói quen và nếp sống tôn trọng pháp luật trong cán bộ và mọi tầng lớp nhân dân. Cho
nên, xây dựng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống phải thực sự là hai mặt của một nhiệm vụ. Đổi
mới và hoàn thiện pháp luật phải đi liền với đổi mới và hoàn thiện thực tiễn áp dụng pháp luật. Tăng
cường hoạt động xây dựng pháp luật phải đi liền với việc khuyến khích và tạo điều kiện cho các hoạt
động của các tổ chức và công dân nhằm sử dụng đầy đủ các quyền và thực hiện tốt các nghĩa vụ của họ,
khuyến khích tính tích cực pháp lý của họ; phải đi liền với việc hoàn thiện các thủ tục pháp lý, đổi mới và
cải cách hành chính và hệ thống tư pháp. Đồng thời, đề cao pháp luật và pháp chế còn đặt ra nhiệm vụ
phải bằng mọi cách nâng cao hiểu biết pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các
vi phạm và tội phạm, kiên quyết chống quan liêu và tham nhũng trong bộ máy Đảng và Nhà nước.
4). Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và
tự do của công dân, giữ vững mối liên hệ dân chủ giữa Nhà nước và công dân, giữa Nhà nước và xã
hội
Xét về bản chất, ngọn cờ bảo vệ quyền con người thuộc về các Nhà nước chân chính cách mạng,
Nhà nước XHCN. Cuộc đấu tranh trên bảy mươi năm đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc Việt Nam vì độc
lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng, suy cho cùng, chính là vì quyền con người, quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của cộng đồng dân tộc và của từng cá nhân, từng con người mà
Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt nhân dân Việt Nam tuyên bố với toàn thế giới
trong ngày khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà 2/9/1945 đã chỉ rõ:
“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm
phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Vấn đề bảo đảm quyền con người, quyền công dân, mở rộng quyền dân chủ, nâng cao trách
nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, giữa công dân với Nhà nước v.v, luôn được Đảng ta dành sự
quan tâm đặc biệt.

thuế xuất, nhập khẩu v.v ) để tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và lấy từ nguồn này chi đầu tư phát
triển và tiêu dùng.
Nhà nước còn có vai trò xây dựng và thực thi vào quy hoạch phát triển, thực hiện kế hoạch cân
đối hợp lý vào đầu tư cho các vùng lãnh thổ khác nhau. Có hai loại khu vực và địa bàn: các khu vực và
địa bàn trọng điểm, đầu tàu; các khu vực và địa bàn khác, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ. Sự quan tâm đặc biệt này có hai mục đích. Mức
đầu tư cần thiết cho các vùng và địa bàn trọng điểm, đầu tầu sẽ kéo theo sự phát triển của cả nước. Còn
sự chú ý thích đáng đến các vùng và địa bàn khác là nhằm khắc phục sự “bất công tự nhiên” hoặc do lịch
sử để lại, giữ vững ổn định chính trị, xã hội bảo đảm sự phát triển bền vững của xã hội.
5. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành
pháp và tư pháp, có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền lực nhà nước
Bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) cùng với “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, quan điểm về sự tồn tại của ba quyền và sự phân công, phối hợp giữa ba
phạm vi quyền lực đó của Nhà nước mới được chính thức khẳng định trên cơ sở tiếp thu, kế thừa, phát
triển, vận dụng vào hòan cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam các tri thức của nhân loại và trước yêu cầu của
sự nghiệp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Và đến Hội nghị
Trung ương lần thứ tám (khóa VII), (1995), quan niệm của Đảng về sự tồn tại của ba quyền đã được sự
bổ sung quan trọng: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Có nói rằng, quan điểm về
sự thống nhất quyền lực nhà nước có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa ba quyền và quyền lực nhà
nước là một quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo trong thiết kế mô hình tổ chức Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Ở nước ta xuất phát từ bản chất của Quốc hội với tính cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất và cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, Quốc hội cần nắm giữ những quyền hạn mà việc thực
thi chúng có ý nghĩa quyết định đối với tòan bộ hoạt động Nhà nước.
Quyền quyết định các vấn đề quan trọng, trong đó cần chú trọng đến quyền quyết định chính
sách tài chính, tiền tệ quốc gia, quyết định dự toán ngân sách Nhà nước và phân bổ ngân sách Nhà nước,
phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước Vấn đề ngân sách Nhà nước luôn có ý nghĩa quyết định đối
với tòan bộ hoạt động Nhà nước. Do vậy quyền quyết định ngân sách Nhà nước được khẳng định thuộc

quyền quốc gia.
Bảo đảm tính thống nhất, tập trung của hệ thống hành chính, phát huy tính năng động, sáng tạo
của địa phương. Điều chỉnh cơ cấu tổ chức, tinh giản bộ máy hành chính các ngành, các cấp hành chính
trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của mỗi tổ chức và mối quan hệ
công tác giữa các tổ chức ấy. Nói chung, Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp cần được sắp xếp tinh
gọn, giảm đầu mối, tập trung làm tốt công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực. Khắc phục tình trạng
bộ máy cồng kềnh, trùng lặp và tính cục bộ trong hệ thống hành chính ở cả Trung ương và địa phương.
Chính phủ có trách nhiệm quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ công chức
Nhà nước. Thực tiễn điều hành công việc của Chính phủ trong thời gian vừa qua cho thấy giải pháp xây
dựng một đội ngũ những người làm hành chính chuyên nghiệp được tuyển chọn và đào tạo theo tiêu
chuẩn chức danh là khâu có ý nghĩa quyết định. Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng và hoàn thiện
chế độ công vụ bao gồm những vấn đề về trách nhiệm và kỷ luật đối với công chức, về đạo đức của
người công chức trong khi thi hành nhiệm vụ. Từng bước chính quy hoá các công sở, nâng cao kỷ luật và
phong cách làm việc; ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý hành chính; tăng cường các
phương tiện thông tin liên lạc cho các cơ quan để nâng cao hiệu suất công tác và hiệu lực quản lý.
- Các cơ quan tư pháp.
+Trong Hiến pháp 1992, vấn đề tổ chức và hoạt động của Toà án được quy định tại các điều từ
Điều 127 đến Điều 136. Các Toà án nhân dân ở nước ta được tổ chức theo nguyên tắc kết hợp giữa thẩm
quyền xét xử với tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ từ cấp huyện trở lên. Ở mỗi đơn vị cấp huyện
(quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) có một Toà án, ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có một
Toà án cấp tỉnh và ở Trung ương có Toà án nhân dân tối cao.
+Hệ thống Viện Kiểm sát - vai trò, địa vị pháp lý của hệ thống các Viện kiểm sát được quy định
trong Hiến pháp năm 1992 và cụ thể hoá bởi Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2002. Viện Kiểm
sát nhân dân có hai chức nănng chính:
*Chức năng thực hành quyền công tố (chức năng công tố) là chức năng chính yếu của Viện kiểm
sát.
* Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp
Trong quan niệm về phân quyền hiện đại, ngoài sự phân biệt ba quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp, còn có sự phân quyền giữa Trung ương và địa phương. Trên thế giới, tùy thuộc vào tính chất của
chế độ Nhà nước mà sự “phân quyền theo chiều dọc” này là rất đa dạng và có nhiều mức độ. Nhưng cũng

Xa rời nhân dân, thiếu hiểu biết về ý kiến, nguyện vọng, sáng kiến của nhân dân, quan liêu, bao
biện là những căn bệnh hết sức nguy hiểm đối với một đảng cầm quyền.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “ Khi đặt ra khẩu hiệu và chỉ thị, luôn phải dựa vào điều kiện
thiết thực và kinh nghiệm cách mạng ở các nước, ở trong nước và ở địa phương. Phải luôn luôn do nơi
quần chúng mà kiểm soát những khẩu hiệu và chỉ thị đó có đúng hay không”.
Thứ hai, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách tốt thì Đảng chỉ có thể đưa đường lối, chủ
trương, chính sách đó vào cuộc sống nếu được sự tiếp nhận và tự giác thực hiện từ phía nhân dân, từ đó
mới có thể huy động được đông đảo nhân dân tham gia thực hiện bằng nhân tài, vật lực của chính nhân
dân – nguồn lực nội sinh của sức mạnh kiểm tra, sự sáng tạo của nhân dân.
Quá trình lãnh đạo cách mạng mấy chục năm qua của Đảng cộng sản Việt nam đã khẳng định
tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng. Khi nào đường lối của Đảng được xây dựng
từ cở sở thực tiễn Việt nam, tranh thủ được những ý kiến đóng góp rộng rãi của nhân dân thì được nhân
dân tiếp nhận, nhanh chóng đưa vào cuộc sống. Ngược lại, lức nào đường lối, chính sách của Đảng xa rời
thực tiễn, không hợp lòng dân thì khó được nhân dân chấp nhận.
Thứ ba, sự liên hệ mật thiết với nhân dân giúp cho Đảng có thể dựa vào dân để tự chỉnh đốn, xây
dựng Đảng ta và đội ngũ đảng viên ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng vạch rõ rằng, đại đa số đảng viên vào đảng với mong muốn phấn
đấu, hy sinh cho dân, cho nước. Song không ít đảng viên vào đảng vì họ tưởng rằng “vào đảng thì dễ tìm
công ăn việc làm, mong làm chức này chức nọ”. Những người như vậy dễ sinh ra những bệnh rất nguy
hiểm như “bệnh tham lam”, “bệnh lười biếng”, “bệnh kiêu ngạo”, “bệnh hiếu danh”, “thiếu kỷ luật”, “óc
hẹp hòi”.
Có thể nói rằng một đảng duy nhất cầm quyền, cơ chế quyền lực nhà nước tập quyền xã hội chủ
nghĩa không tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” – những đặc điểm đó của hệ thống chính trị
nước ta đã đặt sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động của Nhà nước nói riêng và nền dân chủ XHCN của
chúng ta nói chung vào trạng thái phát triển không có đối trọng. Trong bối cảnh đó không thể không nói
đến nguy cơ chủ quan, lạm quyền và quan liêu trong bộ máy Đảng và Nhà nước.
10
Tuy nhiên, giống như một bài toán của lịch sử, yếu tố “kiềm chế” thay cho cơ chế “đối trọng”
trong hệ thống chính trị nước ta đã được xác lập. Đó là Mặt trận Tổ quốc Việt nam và hệ thống các tổ
chức, đoàn thể xã hội với vai trò kiểm tra, giám sát của các tổ chức đó đối với hoạt động của bộ máy

Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cơ bản chính là yêu cầu, đòi hỏi đối với việc hoàn thiện
phương thức tổ chức quyền lực nhà nước để đáp ứng các tiêu chí của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã được Đảng ta coi là nhiệm vụ quan
trọng và đã được Hiến pháp ghi nhận. Nhiệm vụ đó được Đảng đặt trong định hướng chung của việc đổi
mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
3
Đảng ta coi xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là khâu
then chốt, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đổi mới; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là nhu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước
phải thể chế hoá và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quyền của công dân, quyền của con người; phát
huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc tập hợp các tầng lớp nhân dân, phát
huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới.
Xác lập những mối quan hệ hợp lý giữa Đảng, Nhà nước và Mặt trận tổ quốc cùng các đoàn thể
nhân dân thông qua hệ thống cơ chế thích hợp, làm cho tất cả các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị
ngày càng vững mạnh, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện ngày một tốt hơn, từ đó tạo ra động
lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới
4
.
Như vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta xuất phát từ những yêu
cầu, đòi hỏi chủ yếu sau đây:
1. Nhu cầu về việc phát huy bản chất XHCN duy trì và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước
XHCN và hệ thống chính trị XHCN, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của tất cả các khâu
3
Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng. Báo Nhân dân, ngày 19-4-2006.
4
Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo cáo chính trị tại Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng. Báo Nhân dân, ngày 19-4-2006.
11
trong hệ thống chính trị; đấu tranh có hiệu quả chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, làm trong sạch bộ

- Quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất thể hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, chủ
thể cao nhất thực hiện quyền lực nhà nước. Đây là quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo , tổ chức và hoạt
động của nhà nước ta không theo nguyên tắc phân chia quyền lực như ở nhiều quốc gia khác. Đồng thời
quan điểm này cũng thể hiện sự tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong học thuyết và thực tiễn áp dụng
phân chia quyền lực ở các quốc gia khác.
Trong lần sửa đổi một số điều của Hiến pháp 1992 đã thể hiện một bước tiến trong việc nhận thức
và thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Sự phân công rành mạch, xác định rõ chức năng, quyền hạn,
nhiệm vụ, trách nhiệm của từng loại cơ quan nhà nước và cơ chế phối hợp chính là điều kiện cốt yếu để
đảm bảo thống nhất quyền lực nhà nước.
- Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo xã hội và nhà nước. Sự lãnh
đạo của Đảng đối với nhà nước là nhân tố bảo đảm thành công của sự nhgiệp đổi mới đất nước. Trong
điều kiện hiện nay, Nói đến sự tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước phải gắn liền với đổi
mới, chỉnh đốn tổ chức Đảng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng trong điều kện mới. Trong điều kiện
xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta, điều vô cùng quan trọng là phải phân định rõ giữa sự lãnh đạo
của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các hiện tượng" hành chính đơn
thuần phi chính trị", xa rời sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và
ngược lại, sự bao biện, làm thay các công việc nhà nước từ phía các tổ chức Đảng.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà n-
ước
12
Tập trung dân chủ là nguyên tắc nền tảng của nhà nứơc và hệ thống chính trị ở nước ta, nếu xa rời
thì sẽ làm giảm hiệu lực và hiệu quả quản lý xã hội của nhà nước nhất là trong điều kiện cơ chế kinh tế
thị trường, hội nhập và mở rộng dân chủ như hiện nay. Tập trung dân chủ là nguyên tắc quản lý nhà nước
được thể hiện trong sự kết hợp giữa lãnh đạo điều hành tập trung thống nnhất của Trung ương với phát
huy tính năng động, tính chủ động của địa phương, khắc phục cả hai khuynh hướng phân tán cục bộ và
tập trung quan liêu. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải yêu cầu thực hiện sự phân cấp mạnh mẽ giữa các

ương hướng, nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hoàn thiện nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam;
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật;
- Xây dựng ý thức, lối sống tuân thủ pháp luật, xây dựng nền văn hoá pháp lý;
- Thực hiện dân chủ hoá đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội của đất nước;
- Bảo đảm và bảo vệ các quyền con người;
- Đôỉ mới hệ thống chính trị;
- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN;
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
- Phát huy nội lực, chủ động tham gia hội nhập khu vực và quốc tế, giữ vững an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội.
Từ góc độ pháp lý, những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền tập
trung nhất vào nhà nước, pháp luật, dân chủ, quyền con người, hệ thống chính trị. Dưới đây là một số nét
khái quát.
2.Hoàn thiện nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách bộ
máy nhà nước
Công cuộc cải cách lớn về bộ máy nhà nước thời gian qua đã đạt được một số thành tựu to lớn
theo định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Tuy vậy, trước yêu cầu của sự nghiệp phát triển
đất nước và tình hình quốc tế hiện nay, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước còn nhiều yếu kém,
13
bất cập. Do vậy, tiếp tục công cuộc cải cách nhà nước là một trong những nhiệm vụ chiến lược chủ yếu
để xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ XHCN.
- Đổi mới hoạt động của Quốc hội
Thời gian qua hoạt động của Quốc hội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực
xây dạng pháp luật. Chất lượng của các luật, pháp lệnh đã được nâng cao, đã góp phần to lớn vào sự phát
triển kinh tế, xã hội, văn hoá; ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy vậy, so với yêu cầu nhà
nước pháp quyền, cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội
trên một số lĩnh vực quan trọng như sau:
- Đôỉ mới về tổ chức bộ máy ( về đại biểu Quốc hội, về các cơ quan chuyên môn của Quốc hội,
các đoàn đại biểu Quốc hội…).

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền điạ phương, đẩy mạnh phân công, phân cấp, nâng
cao tính chủ động, chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với mọi mặt đời sống xã hội tại địa
phương. Tăng cường chế độ kiểm tra, giám sát, đánh giá các hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban
nhân dân. Tổ chức hợp lý HĐND, tăng cường vai trò của HĐND tại địa phương. Kiện toàn các cơ quan
chuyên môn của UBND và bộ máy chính quyền cấp xã.
Trong nền hành chính, yếu tố con người là khâu then chốt. Cần xây dựng quy chế hoạt động công
vụ, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ. Thực hiện thường xuyên công tác đào tạo, bồi d-
ưỡng nâng cao trình độ và kỹ năng thực hành chuyên môn của đôị ngũ cán bộ. Xây dựng cho đội ngũ cán
bộ nhà nước thói quen tuân thủ pháp luật, áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, công tâm trong việc
giải quyết công việc đối với người dân, chịu trách nhiệm pháp lý về các quyết định và hành vi của mình.
- Thực hiện cải cách tư pháp
Trong nhà nước pháp quyền và một xã hội công dân phát triển lành mạnh, vai trò của bộ máy tư
pháp đặc biệt quan trọng. Ngày 02/01/2002 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới. Cải cách tư pháp cần được tiến hành
trong tổng thể cải cách của bộ máy nhà nước, cải cách hành chính. Nôị dung và các nguyên tắc cơ bản
của cải cách tư pháp ở nước ta tập trung vào những lĩnh vực hoạt động sau:
14
- Xây dựng các cơ quan tư pháp vững mạnh, trong sạch, từng bước hiện đại hoá. Hệ thống các cơ
quan tư pháp bao gồm: các Toà án nhân dân, các Viện Kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra; tổ chức
luật sư, công chứng, giám định tư pháp và các chức danh tư pháp như thẩm phán, luật sư, công chứng
viên, giám định viên…
- Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tư pháp trong công tác điều tra, gíam định, truy tố,
xét xử, thi hành án và các hoạt động tư pháp khác.
Tổ chức lại cơ quan điều tra, thi hành án theo nguyên tắc thu gọn đầu mối, thành lập cảnh sát t ư
pháp.
- Đảm bảo nguyên tắc độc lập khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội thẩm nhân
dân và một số hoạt động tư pháp khác như điều tra
, truy tố. Để nâng cao tính độc lập của hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động xét xử nói riêng cần phải
thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ như kiện toàn cơ cấu, tổ chức, cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi
phạm, hoàn thiện các quy định pháp luật; đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ và nâng cao đạo đức nghề

đồng bộ với việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền
Việt Nam XHCN.
-Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Xây dựng nhà nước pháp
quyền không thể tách rời với việc đổi mới hệ thống chính trị. Trước hết phải đổi mới tổ chức và hoạt
động của Đảng, nâng cao via trò, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng đói với nhà nước và xã hội.
-Tổ chức chính trị-xã hội là nơi triển khai thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà n-
ước. Vì vậy, các tổ chức chính trị- xã hội phải có bước đổi mới về cơ cấu tổ chức, hình thức hoạt động để
góp phần vào việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền.
-Dân chủ vừa là yếu tố cấu thành của nhà nước pháp quyền, vừa là mục tiêu vừa là động lực của
nhà nước pháp quyền. Dân chủ còn là điều kiện cho sự tồn tại của nhà nước pháp quyền. Do đó, để thực
hiện thành công sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền, cần thực hiện dân chủ hoá sâu sắc mọi mặt
15
của đời sống nhà nước, pháp luật, xã hội. Nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, xây dựng
sự đồng thuận xã hội.
KẾT LUẬN
Xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình lâu dài, vô cùng khó khăn, phức tạp. Chúng ta
vừa tiếp thu có chọn lọc lý luận và thực tiễn của thế giới về xây dựng nhà nước pháp quyền, vừa phải
đảm bảo phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, kiên định trên con đường XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
2. Câu hỏi: Nhận xét về pháp luật tư sản, C.Mác viết: "Pháp luật của các ông chẳng qua
cũng là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật, mà nội dung ý chí đó là do điều kiện sinh
hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định".
Anh(chị) hãy ;phân tích và liên hệ thực tiễn pháp luật Việt Nam để làm sáng tỏ nhận định trên.
Trả lời:
1. Bản chất pháp luật
Tiếp cận vấn đề về bản chất pháp luật
-Bản chất pháp luật là một thể thống nhất bao gồm hai mặt-hai phương diện cơ bản: phương diện
giai cấp và phương diện xã hội hay thường được gọi là tính giai cấp và tính xã hội. Hai phương diện
này có quan hệ mật thiết, phụ thuộc, tác động lẫn nhau và cả hai đều mang tính tất yêú khách quan.

một nhà nước, vào những thời điểm khác nhau.
+Pháp luật chủ nô công khai xác nận quyền lực tuyệt đối, vô hạn của chủ nô và tình trạng vô
quyền của người nô lệ như là những "công cụ biết nói"trong xã hội.
+ Pháp luật phong kiến vẫn được coi là pháp luật "quả đấm" với hệ thống những quy định, chế
tài trừng phạt dã man, vô nhân đạo, bảo vệ công khai lợi ích của giai cấp địa chủ, phong kiến.
+ Pháp luật tư sản mặc dù là một bước tiến bộ, phát triển vượt bậc so với các kiểu pháp luật trước
đó cả về nội dung và hình thức, song nó vẫn là công cụ bảo vệ lợi ích giai cấp tư sản trước hết.
Bản chất của pháp luật tư sản
16
Pháp luật tư sản ra đời cùng với nhà nước tư sản trong cách mạng tư sản. Bản chất pháp luật tư
sản được quy định bởi cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội, nhiệm vụ, mục tiêu của nhà nước tư sản và được thể
hiện ở tính chất giai cấp và tính chất xã hội của pháp luật tư sản.
-Pháp luật tư sản mang tính chất giai cấp sâu sắc vì nó do giai cấp tư sản tạo ra thông qua nhà n-
ước tư sản và luôn luôn thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.
Trong "Tuyên ngôn Đảng cộng sản" (năm 1848), Mác và Ăng ghen đã chỉ ra rằng pháp luật tư
sản là ý chí của giai cấp tư sản được đưa lên thành những quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, cái ý chí
mà mà nội dung của nó do những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội tư bản chủ nghĩa quyết định.
+ Giai cấp tư sản sử dụng pháp luật của mình như là một công cụ có hiệu lực nhất để đàn áp, bóc
lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động; duy trì, bảo vệ sự thống trị của mình về kinh tế, chính trị , tư t-
ưởng trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
+Qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, nhà nước tư sản và pháp luật tư sản thì tính
chất giai cấp của pháp luật tư sản cũng có những biểu hiện khác nhau.
* Ở giai đoạn tự do cạnh tranh và hình thành các thiết chế của nền dân chủ tư sản (từ các cuộc
cách mạng tư sản đến năm 1 87 1), tính chất giai cấp của pháp luật tư sản thể hiện một cách kín đáo, nhẹ
nhàng và khó nhận biết.
* Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền - nhà nước , rồi sau đó là chủ nghĩa đế quốc ( 1
87 1 - 1 9 1 7 ) và nhất là thời kỳ đầu thuộc giai đoạn thứ ba (từ năm 1 9 1 7 đến nay) - thời kỳ tổng
khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản ( 1 9 1 7 - 1 945 ) , tính chất giai cấp của pháp luật tư sản thể hiện một
cách công khai, mạnh mẽ, quyết liệt mà minh chứng là những đạo luật phản động, phản dân chủ.
*Trải qua 60 năm, kể từ sau cuộc tổng khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và kết thúc cuộc chiến

1. Mang tính nhân dân sâu sắc
Pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa mang tính nhân dần sâu sắc. Pháp luật thể hiện ý chí của
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và những người lao động khác. Với tư cách là
kiểu lịch sử pháp luật mới, pháp luật xã hội chủ nghĩa có đặc điểm bản chất khác biệt căn bản với các
kiểu pháp luật khác ở tính nhân dân sâu sắc.
17
Về bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết "pháp luật thực sự dân
chủ vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động" .
Tính nhân dân của pháp luật nước ta được thể hiện trong hệ thống các văn bản pháp luật, trong
hoạt động áp dụng pháp luật, phổ biến và giáo dục pháp luật.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, nhà nước ta thực hiện nhiều hình thức để thu hút sự tham
gia của các tầng lớp nhân dân vào hoạt động xây dựng pháp luật để các quy định pháp luật ngày càng
phù hợp với cuộc sống. Hoạt động xây dựng pháp luật những năm gần đây thực sự đã và đang được đổi
mới cả về nội dung, hình thức, cách thức xây dựng. Các quyền, lợi ích chính đáng của người dân đã được
ghi nhận và có cơ chế bảo đảm, bảo vệ hữu hiệu hơn.
Hoạt động kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật cũng được quan tâm hơn, thông qua đó góp
phần tích cực vào việc phát hiện những quy định pháp luật bất cập, gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích
chính đáng của người dân và kịp thời sửa đổi, bổ sung.
2.Khẳng định đường lối phát triển kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định h-
ướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi thới đất nước, tác động
của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, xã hội đã khẳng định về tính chất, đặc điểm của kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, không thể thiếu được vai trò quản lý của nhà nước bằng một hệ thống pháp luật và các công cụ
quản lý khác .
Trong những năm qua, nhà nước đã xây đựng, ban hành nhiều văn bản pháp luật có chất lượng
cao, về cơ bản đã tạo dựng được khung pháp luật phục vụ cho việc phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thay thế cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mệnh lệnh hành chính
bao cấp, hiện vật trước đây, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động kinh tế của xã hội. Nhờ vậy,
đã tạo lập được hành lang pháp lý cho việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xác định

các quan điểm, chuẩn mực đạo đức truyền thống .
18
Xu hướng chung là pháp luật nước ta càng ghi nhận nhiều hơn các quy tắc đạo đức . xử Sự theo
những quan điểm, chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc đã được Bộ Luật Dân sự ghi nhận thành
nguyên tắc pháp lý mà các chủ thể phải tuân theo trong các giao dịch dân sự:
+Tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội ;
+ Tự nguyện , bình đẳng , thiện chí, hợp tác , trung thực và ngay thẳng. . .
-Tương tự, trong các quan hệ lao động, Bộ luật lao động cũng quy định nghĩa vụ tôn trọng danh
dự, nhân phẩm, tính trung thực giữa người lao động và người sử dụng lao động.
Pháp luật chỉ có thể thực hiện được vai trò là phương tiện điều chỉnh hàng đầu nếu như có sự hỗ
trợ của các quy phạm xã hội khác, đặc biệt là đạo đức truyền thống và đạo đức tiến bộ. Các nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức luôn là tiêu chí tác động đến nội dung của các quy phạm pháp luật,được tính đến khi
xem xét các vấn đề pháp lý và ngược lại :trong từng vấn đề của đạo đức đều phải xem xét cả về phương
diện pháp lý.
Đồng thời pháp luật còn có mối quan hệ mật thiết với các loại quy tắc xã hội khác như phong tục,
tập quán, truyền thống. Khi áp dụng pháp luật, muốn được công bằng và đầy đủ, cần phải được bổ sung
bằng tục lệ,tập quán. Pháp luật Việt Nam bảo vệ những phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, đồng thời cũng có những quy định nhằm ngăn cản, hạn chế và loại trừ dần những tập tục lạc hậu,
phản tiến bộ như tệ đa thê, tảo hôn, nghi là ma lai…
5.Pháp luật là hình thức thể hiện đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam .
Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo của
Đảng đối với tiến trình phát triển của xã hội chỉ có thể đợc thực hiện thôngqua nhà nớc bằng một hệ
thống pháp luật. Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước ta có nhiệm vụ thể chế hoá thành
các quy định pháp luật để đưa đường lối đó vào cuộc sống.
6. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng.
- Các nền pháp luật trước như chủ nô, phong kiến có phạm vi điều chỉnh hẹp, tập trung chủ yếu
vào các lĩnh vực hành chính - chính trị với mục đích bảo vệ, củng cố nền thống trị của thiểu số giai cấp
bóc lột, duy trì sự bất bình đẳng trong xã hội.
- Pháp luật của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay có phạm vi điều chỉnh

Chính do phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực và do tính chất công quyền của quyền lực
nhà nước, nên các giai cấp, các lực lượng chính trị trong xã hội luôn hướng tới quyền lực nhà nước nhằm
giành, giữ, sử dụng hoặc chi phối quyền lực nhà nước. Chính vì thế mà quyền lực nhà nước là trung tâm
của quyền lực chính trị.
2. Mấy nét về thuyết phân quyền
Trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người tư tưởng phân quyền đã được thể
hiện qua các tác phẩm của các nhà tưởng từ thời cổ đại đến trung, cận đại. Tuy nhiên, tư tưởng phân
quyền thể hiện rõ nét trong tác phẩm của các nhà tư tưởng Tây Âu vào thế kỷ 17-18.
Vào thế kỷ 16-17 thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển nhanh chóng trong nền kinh tế
các nước đã thúc đẩy sự tan rã tiếp tục của chế độ phong kiến. Cùng với sự phát triển của các thuyết về
kinh tế; các học thuyết về pháp luật cũng phát triển mạnh và đóng góp vai trò to lớn của phát triển t ư duy
chính trị thời kỳ đó. Thuyết pháp luật tự nhiên đã tách lý luận về nhà nước và pháp luật ra khỏi thần học
và phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến.
Người phát triển một cách toàn diện thuyết phân quyền là nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp
S. Montesquieu(1689-1775).Vì vậy, mà ngày nay người ta thường gắn tên tuổi của S. Montesqieu
với thuyết" tam quyền phân lập".
Montesqieu kịch liệt phê phán chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp thời bấy giờ, lên án việc Vua
nắm toàn bộ quyền lực trong tay dẫn tới chỗ độc đoán, lạm quyền, tuỳ tiện: quyền lực nhà vua và thậm
chí bao trùm cả khối óc của thần dân, bắt thần dân phải nghĩ những gì có lợi cho vua. Chủ nghĩa cực
quyền không thể dung hoà với tự do, vì vậy theo Montesqieu, cần phải xoá bỏ chủ nghĩa cực quyền. Ông
cho rằng chính thể cộng hoà có tính ưu việt nhưng ông vẫn đề cao chính thể quân chủ lập hiến. Hình thức
nhà nước là cái quyết định nội dung của luật và hệ thống luật lệ.
Để đạt được mục tiêu đó, theo Montésqieu cần phải có sự phân quyền: quyền lập pháp,
quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ba quyền này hạn chế lẫn nhau, đối trọng vơí nhau và thuộc về
các cơ quan khác nhau.
*Ông kêu gọi thành lập cơ quan đại diện của nhân dân để hạn chế quyền lực của nhà vua. Nếu cả
ba quyền đều nằm trong tay vua tất yếu sẽ nảy sinh ra sự lạm quyền, chuyên chế, độc đoán.
* Nếu như quyền lập pháp và hành pháp nằm trong tay một người, hoặc một cơ quan thì sự tự do
sẽ không có bởi vì sẽ có nguy cơ ông Vua hay nghị sĩ nào đó sẽ ban hành các đạo luật tàn bạo sẽ rồi áp
dụng các đạo luật đó cũng theo kiểu tàn bạo.

nhà nước trong tay mình, đồng thời không có cơ quan nào không bị ràng buộc bởi pháp luật,
không cơ quan nào nằm ngoài sự giám sát, kiểm tra từ phía các cơ quan khác.
1. Quyền lập pháp
Theo thuyết tam quyền phân lập thì quyền lập pháp thuộc về nghị viện(Quốc hội)- cơ quan đại
diện của nhân dân, được lập ra qua phổ thông đầu phiếu.
Lập pháp tức là làm ra luật. Luật là hình thức cao nhất của việc thực hiện quyền lực nhà nước,
không chỉ vì hiệu lực pháp lý của nó mà còn vì sự uỷ quyền pháp lý-luật do chính những đại biểu do nhân
dân bầu ra.
Nếu quan niệm luật là ý chí của nhà nước được nâng lên thành luật thì ý chí ở đây là ý chí của cơ
quan đại diện cho nhân dân, suy cho cùng là chính ý chí của nhân dân vì thông qua bầu cử nhân dân đã
thể hiện ý chí của mình, đã uỷ quyền cho những đại diện của mình.
Nhiều khi ý chí của nhân dân cũng được biểu thị một cách trực tiếp khi thông qua đạo luật cơ
bản(Hiến pháp) nhiều khi người ta đã phải dùng tới hình thức trng cầu ý kiến của nhân dân.
Giới hạn, phạm vi của quyền lập pháp phải do híên pháp quy định. Như vậy hiến pháp thể hiện
tính tôí cao, hiệu lực cao nhất của đạo luật cơ bản: cơ quan lập pháp hoạt động trong khuôn khổ mà
hiến pháp quy định- các đạo luật khác do cơ quan lập pháp thông qua đều phải phù hợp với hiến
pháp.
Cơ quan lập pháp, ở phạm vi hiến pháp cho phép, có thể tự nguyện trao một số quyền nào đó
của mình cho các cơ quan khác, cụ thể là có thể trao quyền cho cơ quan hành pháp.
Tuy nhiên kinh nghiệm lịch sử cũng chỉ ra rằng nhiều khi hành pháp lấn át quyền lập pháp, cũng
có khi cơ quan lập pháp tự trốn tránh trách nhiệm của mình. Cơ quan lập pháp thông qua luật mà đã là
luật thì phải có tính khái quát cao nên không ít đạo luật muốn đi vào cuộc sống cần phải nhờ tới các văn
bản dới luật- các văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan hành pháp. Và cũng có khi chính các văn bản
dới luật đó có những quy định trái với những quy định của luật. Điều quan trọng cần phải cú ý là ngay sự
uỷ quyền của cơ quan lập pháp cho cơ quan hành pháp cũng phải được thể hiện trong văn bản luật.
Tuy nhiên các nhà khoa học cũng nhấn mạnh rằng các đạo luật do cơ quan lập pháp ban hành cần
phải là các văn bản quy phạm có hiệu lực trực tiếp, tác động trực tiếp đến các chủ thể tới các chủ thể quan
hệ pháp luật, trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể, không cần phải có các văn bản hướng dẫn thi
hành trừ những trường hợp quá chi tiết về kỹ thuật (như những thông số về an toàn lao động, chất lượng
sản phẩm…).

-Hoạt động của cơ quan hành pháp luôn trực tiếp động chạm tới quyền của công dân cho nên hoạt
động đó phải thực hiện trên cơ sở có sự uỷ quyền, sự tán thành của cơ quan lập pháp- cơ quan đại diện
của nhân dân.
+ Sự tán thành đó phải đợc biểu thị dới hình thức luật. Điều đó có nghĩa là mọi hành vi của cơ
quan hành pháp có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của công dân đều dựa trên cơ sở luật.
+ Nội dung các quyết định pháp lý và hành vi cụ thể của cơ quan hành pháp đều phải do luật điều
chỉnh. Nếu như đối với công dân(và cả các cơ sở sản xuất kinh doanh, đơn vị kinh tế) đợc áp dụng
nguyên tắc"có thể làm tất cả những gì mà luật không cấm" thì đối vơí các cơ quan hành pháp, đặc biệt là
những ngời có chức vụ trong hệ thống cơ quan hành pháp phải triệt để tuân thủ nguyên tắc" chỉ đ ược làm
những gì mà luật cho phép", vì sự uỷ quyền(cho phép) là có giới hạn, đề phòng mọi khả năng lạm quyền,
tuỳ tiện.
+Mỗi khi có sự vi phạm, làm tổn hại tới quyền và lợi ích của công dân thì cơ quan hay cá nhân
những nhân viên làm việc trong hệ thống cơ quan hành pháp thì ai sẽ chịu trách nhiệm? Có quan điểm
cho rằng cá nhân những nhân viên đã gây thiệt hại cho công dân phải chịu trách nhiệm trước người bị hại.
Song vấn đề lại là ở chỗ nếu không nhân danh cơ quan hành pháp thì những nhân viên cụ thể đã không
có hành động làm tổn hại tới quyền và lợi ích công dân (bởi vì họ làm việc không nhân danh cá nhân
mình). Do vậy, trước công dân(người có quyền và lợi ích bị xâm hại) thì chính cơ quan thực thi pháp luật
phải bồi thường thiệt hại. Thẩm quyền xem xét vấn đề này trong trường hợp có sự tranh chấp thuộc về cơ
quan tư pháp(cụ thể là toà án hành chính).
3.Quyền tư pháp
Theo thuyêt "tam quyền phân lập", muốn thực hiện tư tưởng về sự kiềm chế, đối trọng giữa
ba quyền thì quyền tư pháp phải thực hiện chức năng kiểm tra đối với hoạt động của quyền lập pháp
và hành pháp.
Sự kiểm tra đó là sát sao, những vi phạm từ phía cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, những ng-
ười có chức vụ và mọi công dân đều phải xem xét công minh, "đúng người , đúng tội" trên cơ sở luật.
Chính vì lẽ đó mà người đời xưa đã đưa ra biểu tượng của quan toà: nữ thần bịt mắt bằng vải
đen(phải coi trọng nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật), một tay cầm kiếm(hình phạt do
luật định), một tay cầm chiếc cân(cán cân công lý, xét xử công minh, khách quan, không vị nể, trước khi
dùng hình phạt cần phải cân nhắc kỹ, xem xét toàn diện…) .Không thể chỉ quan niệm về quan toà như
người chỉ áp dụng hình phạt. Việc áp dụng chế taì trong hoạt động xét xử của cơ quan tư pháp không

động của nhà nước ta không theo nguyên tắc phân chia quyền lực như ở nhiều quốc gia khác. Đồng thời
quan điểm này cũng thể hiện sự tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong học thuyết và thực tiễn áp dụng
phân chia quyền lực ở các quốc gia khác.
Trong lần sửa đổi một số điều của Hiến pháp 1992 đã thể hiện một bước tiến trong việc nhận thức
và thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp. Sự phân công rành mạch, xác định rõ chức năng, quyền hạn,
nhiệm vụ, trách nhiệm của từng loại cơ quan nhà nước và cơ chế phối hợp chính là điều kiện cốt yếu để
đảm bảo thống nhất quyền lực nhà nước.
"…Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giưã các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp"(Điều 2 Hiến pháp năm 1992 đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2001)
- Quốc hội
Điều 83 Hiến pháp 1992( đã được sửa đổi , bổ sung năm 2001) ghi nhận: " Quốc hội là cơ
quan đại biêủ cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam".
+ Cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân: Quốc hội do nhân dân cả nước bầu ra theo chế độ bầu
cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
+Cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất- Quốc hội có những chức năng sau:
-Lập hiến và lập pháp;
-Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước;
- Quốc hội quyết định những vấn đề hệ trọng nhất của đất nước, quyết định những chính sách cơ
bản về đối ngoại và đối nội, nhiệm vụ kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên
tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt dộng của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Điều 83 Hiến pháp 1992( đã được sửa đổi , bổ sung năm 2001) ghi nhận: " Quốc hội là cơ quan đại biêủ
cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam".
+ Cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân: Quốc hội do nhân dân cả nước bầu ra theo chế độ bầu
cử phổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Địa vị pháp lý của Quốc hội thể hiện thông qua mối quan hệ với các cơ quan nhà nước
khác: Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC. Quan hệ đó thể hiện qua:

của Chủ tịch nước;
+Phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng danh sách các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và và các
thành viên khác của Chính phủ trước Thủ tướng.
Với phương thức thiết lập Chính phủ như vậy nhằm:
+ Xác định rõ vai trò của tập thể Chính phủ trước Quốc hội,
+ Đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm của cá nhân Thủ tướng trước Quốc hội;
+ Trách nhiệm của các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ
trước Thủ tướng,
+ Trách nhiệm của Bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ về ngành, lĩnh vực do mình phụ
trách.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, UBTVQH,Chủ
tịch nước.
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ chịu sự giám sát của
Quốc hội , UBTVQH trực tiếp hoặc thông qua sự giám sát của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc
hội. Trong các kỳ họp của Quốc hội, Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ phải trả lời chất vấn của
các đại biểu Quốc hội.
Về cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các Bộ , cơ quan ngang Bộ- Các cơ quan của Chính phủ do
Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, sáp nhập theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ.
Thành phần của Chính phủ gồm: Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và
các thành viên khác của Chính phủ.
Các hình thức hoạt động của Chính phủ gồm:
-Hình thức hoạt động cuả tập thể Chính phủ là phiên họp của Chính
Phủ. Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết
định theo đa số tại các phiên họp của Chính phủ bao gồm:
+Chương trình hoạt động hàng năm của Chính phủ;
+Những dự án luật trình trước Quốc hội, những dự án pháp lệnh trình trước UBTVQH; những dự
án và kế hoạch ngân sách;
+Những chính sách cụ thể về phát triển kinh tế- xã hội;
+Các vấn đề quan trọng về quốc phòng, an ninh, đôí ngoại;

hội; bảo vệ môi trường;
-Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, bảo đảm an ninh quốc gia
và trật tự an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố
tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;
-Tổ chưc và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra
Nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân;
-Thống nhất quản lý công tác đối ngoại, đàm phán , ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước,
trừ trường hợp quy định tại điểm 10 Điều 103; đàm phán ký kết, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế
nhân danh Chính phủ. Chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà nước ta ký kết hoặc gia nhập; bảo
vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và của công dân Việt Nam ở nước ngoài;
-Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;
-Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương;
-Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ(Điều 114 HP 1992)
-Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, UBND các cấp; chủ toạ các phiên
họp của Chính phủ;
-Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ, cơ quan ngang Bộ; trình Quốc hội phê chuẩn đề
nghị về việc bổ nhiện, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng , các thành viên khác của Chính
phủ;
-Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầu
cử; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các phó Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương;
-Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các thành
viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của UBND và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trái với Hiến pháp,
luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;
-Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái
với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị UBTVQH bãi bỏ;


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status