skkn hướng dẫn học sinh tiếp cận truyện ngắn vợ nhặt của nhà văn kim lân bằng bản đồ tư duy - Pdf 25

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, vấn đề đổi mới dạy học môn Ngữ Văn luôn được các nhà khoa
học quan tâm, nghiên cứu, nhiều phương pháp, biện pháp mới liên tục được đưa ra. Dù
có khác nhau nhưng tất cả đều thống nhất hướng tới mục đích khẳng định vai trò chủ
động, tích cực của người học. Như vậy, dạy Ngữ văn là dạy cách tư duy, dạy cách đi
tìm và tự chiếm lĩnh lấy kiến thức cho học sinh. Đó là một định hướng giáo dục quan
trọng hiện nay.
Năm học 2011- 2012 Bộ giáo dục - đào tạo tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học
nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Ngữ văn trong các nhà trường phổ thông. Một
trong những phương pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào là dạy học bằng
bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp dạy học mới đang được rất nhiều nước trên
thế giới áp dụng. Qua việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp dạy học bằng BĐTD, tôi
nhận thấy phương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy và học tập
của học sinh, bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi gợi trong học sinh
tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới về
môn học Ngữ văn
Với việc áp dụng BĐTD trong giảng dạy, từng bước giáo viên sẽ giúp học sinh tự
mình phát hiện dần dần toàn bộ kiến thức bài học. Bắt đầu bằng những kiến thức tổng
quát nhất - trọng tâm bài học - trung tâm bản đồ, giáo viên giúp học sinh phát hiện
những kiến thức lớn xoay quanh trọng tâm bài học, những ý nhỏ trong từng ý lớn cứ
như vậy đến khi giờ học kết thúc cũng là lúc kiến thức tổng quát của bài học được trình
bày một cách sáng tạo, sinh động trên bản đồ. Không những cung cấp cho học sinh kiến
thức tổng thể, BĐTD còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều mọi mặt của vấn đề, từ
đó đưa ra các ý tưởng mới, phát hiện mới, tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng
trong bài tức tìm ra mạch lôgic của bài học. Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản
đồ có thể tái hiện, thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học. Đồng thời
học sinh cũng có thể khẳng định được toàn bộ dung lượng kiến thức của bài, xác định ý
chính, ý phụ và lên kế hoạch học tập hiệu quả.
Sử dụng BĐTD (dưới dạng sơ đồ) trong dạy học các môn khoa học tự nhiên và một
số môn khoa học xã hội ( như Địa lí, Lịch sử) đã trở thành quen thuộc. Đối với môn
Ngữ văn BĐTD đã bắt đầu được vận dụng có hiệu quả trong giảng dạy các tiết ôn tập

2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Bản đồ tư duy
Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra BĐTD thì: BĐTD là một
hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Ở
giữa bản đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm. Ý tưởng hay hình ảnh trung
tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối
với các ý trung tâm. Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, BĐTD
khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự. Từ đó, các ý tưởng của con
người sẽ phát triển. Hay hiểu một cách khác, BĐTD trình bày một cách tóm tắt ngắn
gọn nhất, khoa học nhất về văn bản bằng các biểu tượng (các mô hình, các hình ảnh,
các nhánh ) trên một mặt phẳng thể hiện sự liên quan giữa các đơn vị kiến thức và trật
tự logic giữa chúng.
2. Vận dụng BĐTD trong tiếp cận truyện ngắn Vợ nhặt
Vận dụng BĐTD trong tiếp cận truyện ngắn "Vợ nhặt" nghĩa là chúng ta phải
chuyển hoá những thông tin liên quan trong bài học lên các mô hình, các hình ảnh, các
nhánh của bản đồ và ngược lại. Bài học sử dụng BĐTD với mục đích:
- Một công cụ gợi mở, kích thích quá trình tìm kiếm kiến thức của học sinh:
Với những ưu điểm của mình, BĐTD trở thành một công cụ gợi mở, kích thích quá
trình tìm tòi kiến thức của học sinh. Bước quan trọng nhất là giáo viên giúp học sinh
phát hiện, tìm kiếm được trung tâm bản đồ - trọng tâm bài học. Sau đó, theo nguyên lí
BĐTD là ý nọ gợi ý kia dần dần giúp học sinh khám phá kiến thức bài học. Bằng trí
tưởng tượng cùng sự tập hợp kiến thức từ các nguồn, học sinh phải biết cách phân tích
tìm ra những từ khóa, hình ảnh chính xác nhất. Khi các nhánh lớn được xây dựng giáo
viên cũng nên hướng dẫn học sinh sắp xếp theo thứ tự quan trọng bằng cách đánh số ở
đầu mỗi nhánh. Điều đó giúp học sinh dễ dàng ôn tập sau này. Cứ làm việc theo cách
đó học sinh sẽ biết cách tự mình vận động, tìm tòi khám phá, lĩnh hội tri thức một cách
có hiệu quả.
- Một công cụ để củng cố, khái quát bài học của học sinh:

Suy nghĩ, thảo luận nhóm và trả lời câu hỏi của giáo viên.
4
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN: Vận dụng BĐTD vào hướng dẫn học sinh tiếp cận truyện
ngắn "Vợ nhặt":
1. Dung lượng kiến thức cần nắm của bài học:
a. Xét ở mục tiêu cần đạt: Giúp HS:
- Về kiến thức: + Hiểu được tình cảnh sống thê thảm của người nông dân trong nạn
đói 1945 và niềm tin vào tương lai, sự yêu thương đùm bọc giữa những con người
nghèo khổ khi cận kề cái chết.
+ Thấy được một số nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm
- Về kĩ năng: Củng cố, nâng cao các kĩ năng tóm tắt tác phẩm và phân tích nhân vật
trong truyện ngắn hiện đại
- Giáo dục: Sự cảm thông, đồng cảm với những con người nghèo khổ, có khát vọng
vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
b. Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức bài học khi sử dụng BĐTD:
Một bài đọc - hiểu tác phẩm trên lớp thường được chia thành ba phần lớn: I. Tiểu
dẫn; II; Đọc- Hiểu văn bản, III. Tổng kết và củng cố bài học. Trong mỗi phần lớn sẽ
chia thành các phần nhỏ nhằm mục đích định hướng cho học sinh nắm bắt được toàn bộ
giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của văn bản, đồng thời hướng tới rèn luyện kĩ
năng, phương pháp tiếp cận tác phẩm cho học sinh. Dựa vào tiến trình lên lớp như trên,
bài học này trong quá trình hướng dẫn học sinh tiếp cận văn bản sẽ sử dụng các BĐTD
như sau:
5
I. TIỂU DẪN
Sau khi đặt câu hỏi để học sinh nắm được hai đơn vị kiến thức trong phần tiểu dẫn
(tác giả và tác phẩm), giáo viên trình chiếu chân dung nhà văn Kim Lân và hình ảnh tác
phẩm Vợ nhặt (qua BĐTD có các nhánh trung tâm), yêu cầu học sinh theo dõi sách giáo
khoa và chuẩn bị trả lời bằng cách hoàn thiện nội dung bản đồ
Học sinh trả lời, giáo viên nhận xét và đi đến kết luận:
Giáo viên diễn giải nội dung trên BĐTD để học sinh nắm được kiến thức phần Tiểu dẫn

người Việt, mà là “nhặt được vợ”.
Chỉ riêng hai chữ “Vợ nhặt” cũng đã nói lên khá nhiều về cảnh ngộ, số phận của
Tràng và cả của người đàn bà xa lạ. Đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ. Cái giá của
con người chưa bao giờ lại rẻ rúng đến như vậy.
Nhưng vợ lại là sự trân trọng. Người vợ có vị trí trung tâm xây dựng tổ ấm. Gia đình
Tràng từ khi có vợ nhặt, mọi người trở nên gắn bó quây quần, chăm lo thu vén cho tổ
ấm của mình.
Chuyện Tràng nhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục
của người dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời cũng cho thấy
“trong sự túng đói quay quắt, trong bất cứ hoàn cảnh nào, người dân ngụ cư vẫn khao
khát vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để hướng tới hạnh phúc tương lai”.
b. Tình huống truyện
GV chia lớp thành 2 nhóm thảo luận các câu hỏi: Nội dung câu hỏi ứng với các
nhánh trên bản đồ trình chiếu)
Các nhóm thảo luận trong 5 phút, cử đại diện trình bày. Giáo viên nhận xét, kết luận.
Sau đó yêu cầu học sinh nhận xét về tình huống truyện:
Lưu ý: Quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh được tiến hành đồng thời với
việc trình chiếu lần lượt các nhánh của BĐTD. Kết thúc hoạt động cũng là lúc toàn bộ
kiến thức cơ bản trược thể hiện trên BĐTD:
10
BĐTD tham khảo:
11
BĐTD 05
Sau khi hoàn thành các đơn vị kiến thức cơ bản, giáo viên có thể yêu cầu học sinh
“đọc” bản đồ bằng lời văn của mình:
Tràng là nhân vật có ngoại hình xấu. Gia cảnh đáng ái ngại, nguy cơ ế vợ đã rõ. Đã
vậy lại gặp năm đói, cái chết luôn đeo bám. Trong lúc không một ai nghĩ đến chuyện
lấy vợ thì anh Tràng đột nhiên có vợ. Trong hoàn cảnh này “nhặt” vợ là thêm một
miệng ăn, đẩy mình đến gần hơn với bờ vực của cái chết. Vì thế việc Tràng có vợ là
một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt. Qua tình huống truyện, nhà

- Miêu tả tâm trạng nhân vật Tràng xoay quanh tình huống nhặt vợ hết sức đặc biệt.
Cũng từ đó, hình tượng nhân vật Tràng có vai trò lớn trong việc thể hiện tư tưởng chủ
đề của tác phẩm: “Những người đói, họ không nghĩ đến cái chết mà luôn nghĩ đến sự
sống”. - Qua Tràng và câu chuyện nhặt vợ của anh, người đọc cảm nhận được vẻ đẹp
tâm hồn của những người dân lao động nghèo: đó là vẻ đẹp tình người và niềm tin
tưởng vào tương lai.
- Qua nhân vật Tràng, Kim Lân đã bộc lộ khả năng miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo và
ngòi bút nhân đạo sâu sắc.
* Nhân vật Thị
Giáo viên giới thiệu: Nhân vật được xây dựng bên cạnh Tràng là Thị. Hiện lên trong
tác phẩm, người phụ nữ được Tràng nhặt về làm vợ có cảnh ngộ nghèo đói, bất hạnh
nhưng lại có một khát vọng sống mãnh liệt
Sau khi chuyển ý, giáo viên yêu cầu học sinh làm việc độc lập. Tìm, liệt kê những
chi tiết, sự việc liên quan đến nhân vật Thị. Phân tích hoàn cảnh xuất thân, ngoại hình,
tính cách, tâm hồn và đánh giá tổng quát về nhân vật. Giáo viên phát vấn và cho học
sinh trả lời, bổ sung rồi nhận xét và trình chiếu sơ đồ cho học sinh quan sát và kết luận:
14
BĐTD tham khảo
15
BĐTD 07
Sau khi quan sát bản đồ, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đánh giá quá trình
“trở lại là chính mình” của người đàn bà đáng thương và tội nghiệp:
Người phụ nữ không tên tuổi, không gia đình, không người thân đã thật sự đổi đời
bằng chính tấm lòng giàu tình nhân ái bao dung của Tràng và người mẹ chồng đáng
kính.
* Bà cụ Tứ
Giáo viên giới thiệu: Cũng như Tràng và người vợ nhặt, bà cụ Tứ là một trong ba
nhân vật trung tâm trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân. Xuất hiện trong
tác phẩm, bà cụ Tứ là một người mẹ già, nghèo khổ nhưng giàu tình thương con và
giàu lòng nhân hậu.

BĐTD 09
diện nhóm treo bảng phụ và thuyết trình. Các nhóm theo dõi và rút ra nhận xét, đánh
giá. Giáo viên nhận xét và trình chiếu sơ đồ tổng kết bài học:
IV. CỦNG CỐ
Để học sinh khái quát kiến thức tổng quát của bài học được trình bày một cách sáng
tạo, sinh động thì không có phương phát nào hữu dụng như BĐTD. Không những cung
cấp cho học sinh kiến thức tổng thể, BĐTD còn giúp cho học sinh nhìn nhận đa chiều
mọi mặt của vấn đề, từ đó tìm ra sự liên kết, ràng buộc các ý tưởng trong bài, tức tìm ra
mạch lôgic của bài học. Sau khi hoàn thiện, học sinh nhìn vào bản đồ là có thể tái hiện,
thuyết trình lại được toàn bộ nội dung kiến thức bài học. Đồng thời học sinh cũng có
thể khẳng định được toàn bộ dung lượng kiến thức của bài, xác định được luận điểm,
luận cứ của bài:
19
BĐTD 10
Giáo viên trình chiếu BĐTD tổng hợp kiến thức bài học để học sinh tham khảo:
20
BĐTD 11
2. Sử dụng BĐTD để hướng dẫn học sinh so sánh với các tác phẩm cùng đề tài
Sau khi củng cố nội dung bài học, giáo viên đặt câu hỏi mở rộng để học sinh liên
hệ, so sánh với các tác phẩm có cùng đề tài. Đây là việc làm cần thiết để giúp học sinh
chỉ ra được điểm giống và khác nhau giữa hai tác phẩm, hai tác giả. Từ đó, thấy được
vẻ đẹp riêng của từng tác phẩm, từng nhân vật hay sự đa dạng muôn màu của phong
cách nhà văn đồng thời, góp phần hình thành kĩ năng lí giải nguyên nhân của sự khác
nhau giữa các hiện tượng văn học – một năng lực rất cần thiết góp phần tránh đi khuynh
hướng “bình tán”, khuôn sáo trong các bài văn của học sinh hiện nay.
a. So sánh ở cấp độ tác phẩm
*“Vợ nhặt” của Kim Lân và “Chí Phèo” của Nam Cao
21
BĐTD 12
*“Vợ nhặt” của Kim Lân với truyện ngắn “Vợ chồng APhủ” của Tô Hoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status