xây dựng chiến lược kinh doanh ở Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn. - Pdf 25

Tiểu luận cá nhân

Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, ảnh
hưởng tích cực và tiêu cực tới nền kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và hoạt
động sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp nói riêng. Mức độ ảnh
hưởng phụ thuộc vào tiềm năng, sức mạnh của bản thân nền kinh tế mỗi nước
và chính sách của Chính phủ. Trong những năm qua, bộ mặt đất nước ta có
nhiều thay đổi, kinh kế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng
được cải thiện. Đó là do đất nước ta kịp thời chuyển đổi từ cơ chế bao cấp
sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đời sống nhân dân ngày
càng được nâng cao, do đó nhu cầu mua sắm hàng hoá cũng phát triển theo.
Do vậy mà các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện công tác tiêu thụ sản
phẩm. Trong cơ chế mới sự cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng gay
gắt. Vì vậy đã có nhiều doanh nghiệp đã không chịu được sức ép của thị
trường đã không đứng vững được, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp với
đường lối kin doanh đúng đắn đã vượt qua được những khó khăn đó, nắm bắt
kịp thời cơ hội, thích hợp với điều kiện mới nên đã tồn tại và phát triển bền
vững. Một trong những doanh nghiệp đó có Công ty xi măng và công trình
Lạng Sơn.
Ở công ty xi măng và dựng công trình Lạng Sơn. Việc xây dựng công
kế hoạch của công ty mới chỉ dừng lại ở kế hoạch hóa mà chưa có tầm chiến
lược. Công ty có nhiều thuận lợi: Tài nguyên dồi dào, thị trường tiêu thụ
rộng lớn, song công ty đang ngày càng mất dần thị trường do sự cạnh tranh
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 1
Tiểu luận cá nhân
của các doanh nghiệp mới ra nhập nghành. Vì vậy, việc hoạch định việc thực
hiện chiến lược kinh doanh là rất quan trọng và cấp bách đối với sự tồn tại
và phát triển của Công ty.
Với ý nghĩa thực tiễn đó, em đã chọn đề tài :” xây dựng chiến lược
kinh doanh ở Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn.”
Đề tài gồm 3 phần:

“ Chiến lược là việc nghiên cứu tìm ra một vị thế cạnh tranh phù hợp trong
một nghành công nghiệp, một phạm vi hoạt động chính mà ở đó diễn ra các
hoạt động cạnh tranh.”
Ta nhận thấy rằng trong các định nghĩa chiến lược truyền thống, nội
dung và kế hoạch vẫn còn là một bộ phận quan trọng. hơn nữa các quan điểm
truyền thống về nội dung chiến lược đã ngầm thừa nhận rằng chiến lược của
công ty luôn là một kết quả của quá trình kế hoạch có tính toán, dự tính từ
trước. Thời gian đầu quan điểm này đã được sự ủng hộ cùa các nhà nghiên
cứu cũng như các nhà quản trị. Tuy nhiên, môi trường kinh doanh ngày càng
biến đổi một cách nhanh chóng và phức tạp, việc ra chiến lược vốn rất khó
khăn lại càng khó khăn thêm. Việc xây dựng chiến lược theo phương pháp kế
hoạch hóa cũng không còn phù hợp nữa. Vì thực tế đã chứng minh rằng đôi
khi có những kế hoạch chính thức được xây dựng cụ thể lại không thành
công, bởi thế cần có những kế hoạch đối phó trong quá trình kinh doanh.
Chính vì vậy, các quan điểm truyền thống đã bộc lộ những yếu điểm của nó.
Bản chất của chiến lược là một khoa học và là một nghệ thuật để đạt được
mục tiêu cũng không được khẳng định.
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 3
Tiểu luận cá nhân
Trong bối cảnh đó các thuật ngữ hiện đại ra đời dần thay thế cho các
quan điểm chiến lược truyền thống. Các quan điểm chiến lược hiện đại đã cố
gắng trở lai với bản chất thuật ngữ chiến lược đồng thời vẫn đảm bảo sự thích
nghi của thuật ngữ này với môi trường kinh doanh đang biến động. Do đó,các
quan điểm chiến lược hiện đại không nhấn mạnh vào lựa chọn các chiến lược
phù hợp với mục tiêu của tổ chức đề ra.
• Khái niệm chiến lược kinh doanh:
Chiến lược kinh doanh là phân tích, tìm hiểu và đưa ra con đường cơ bản,
phác họa quỹ đạo tiến triển trong hoạt động sản xuất kinh doanh; đó là kế
hoạch mang tính toàn diện, tính phối hợp và tính thống nhất được rèn giũa kỹ
lưỡng nhằm dẫn đắt đơn vị kinh doanh đảm bảo mục tiêu của đơn vị kinh

hiệu quả.
Quản trị chiến lược xuất phát từ việc phân tích môi trường bên ngoài để
xác định các cơ hội và nguy cơ, phân tích môi trường bên trong để xác định
điểm mạnh và điểm yếu, trên cơ sở đó tiến hành kết hợp để tìm ra những
chiến lược giúp tổ chức phát huy điểm mạnh để tận dụng cơ hội, khắc phục
điểm yếu để tận dụng cơ hội, phát huy điểm mạnh để vượt qua những nguy cơ
và khắc phục điểm yếu để vượt qua những nguy cơ, thách thức. không chỉ
trong giai đoạn hoạch định chiến lược mà cả trong giai đoạn tiếp theo – thực
hiện và đánh giá chiến lược với môi trương có liên quan, nhạy bén phán đoán
những thay đổi của môi trường để điều chỉnh chiến lược cho phù hợp. Chính
vì gắn chặt với môi trường, dự báo được những biến động của môi trường,
năng động và sáng tạo. Quản trị chiến lược giúp tổ chức luôn ở thế chủ động
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 5
Tiểu luận cá nhân
nắm bắt kịp thời các cơ hội,biến nguy cơ thành cơ hội lật ngược tình thế,
chiến thắng đối thủ cạnh tranh, phát triển bền vững và hiệu quả.
Đã qua rồi thời kỳ quản trị chiến lược là công việc của riêng các vị lãnh
đạo cao cấp cùng các chuyên gia cố vấn, còn các nhà quản trị cấp thấp và đội
ngũ nhân viên chỉ là người thừa hành, chỉ cần nhắm mắt thực hiện những gì
cấp trên đã quyết định, giờ đây quản trị chiến lược đòi hỏi sự tham gia của tất
cả mọi người trong tổ chức. trong điều kiện chuyên môn hóa, các nhà quản trị
và nhân viên ở mỗi phòng ban, bộ phận của tổ chức thường có xu hướng nỗ
lực thực hiện mục tiêu của bộ phận mình mà không quan tâm đến mục tiêu
chung của cả tổ chức. trong trường hợp, mục tiêu của bộ phận không phù hợp
với mục tiêu của tổ chức, thì sẽ không cộng hưởng được sức mạnh của cả tổ
chức, thậm chí còn có thể thành vật cản, gây tổn hại cho tổ chức. chính vì vậy
cần tập trung sức mạnh của tất cả các bộ phận để đạt được mục tiêu chung.
Quản trị chiến lược giúp mọi thành viên thấy rõ được tầm nhìn, sứ mạng các
mục tiêu chung của tổ chức, từ đó thu hút mọi người vào qua trình quán trị
chiến lược, giúp thống nhất sức mạnh của tổ chức để thực hiện mục tiêu

không sà đà vào những ảo tưởng vô căn cứ hay bỏ lỡ những cơ hội phát triển
do đật ra những yêu cầu tăng trưởng quá thấp ngay từ đầu.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình Quản trị chiến lược:
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp được xem như là một yếu tố
tác động quan trọng tới doanh nghiệp mà daonh nghiệp không thể tránh khỏi
khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng ta có thể hiểu được
điều tất yếu đó nếu nhận thức được doanh nghiệp như là một hệ thống mở.
Mà tại đó các bộ phận không chỉ tương tác với nhau theo một liên kết lôgic
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 7
Tiểu luận cá nhân
mà còn chịu tác động chi phối của môi trường bên ngoài. Trong nền kinh tế
phát triển đa dạng và phức tạp thì sự nắm bắt môi trường sẽ rất là khó khăn do
sự xuất hiện quá nhiều thông tin gây nhiễu, cần phải được lựa chọn kỹ càng.
Đồng thời không chỉ có một doanh nghiệp tham gia khai thác những tiềm
năng tư môi trường mà còn rất nhiều doanh nghiệp khác có cùng mối quan
tâm. Chính điều đó tạo nên sự canh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau
giữa các nguồn lực từ môi trường.
a) Môi trường bên ngoài:
Mục đích của việc nghiên cứu môi trường bên ngoài là phát hiện một danh
mục có giới hạn các cơ hội mà môi trường bên ngoài có thể mang lại cho
doanh nghiệp và các nguy cơ từ môi trường này mà doanh nghiệp nên tránh.
Hoạch định chiến lược mà không nghiên cứu môi trường bên ngoài cũng
không khác nào người mù vẽ đường đi. Một người mù thông minh có thể dựa
vào trí nhớ và sự tưởng tượng của mình vẽ được một bản sơ đồ đường đi,
thậm chí một bức tranh tuyệt vời. Trong hoạch định chiến lược cũng vậy, đã
từng có một thời, người ta hoạch định chiên lược, lập kế hoạch dựa vào việc
phân tích môi trường bên trong. Trong bối cảnh môi trường bên ngoài ổn định
suốt một thời gian dài. Thực tế cho thấy môi trường bên ngoài có ảnh hưởng
rất lớn đến tất cả các sản phẩm, dịch vụ thị trường và tổ chức trên thế giới. Sự
thay đổi của những yếu tố môi trương bên ngoài sẽ kéo theo những thay đổi

tiêu cực đối với các doanh nghiệp.
Tỷ lệ lạm phát, mức độ thất nghiệp cũng tác động đến cả mặt sản xuất
và tiêu dùng. Khi tỷ lệ lạm phát cao nó sẽ tác động xấu đến tiêu dùng số cầu
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 9
Tiểu luận cá nhân
giảm, làm cho lượng hàng tiêu thụ giảm không khuyến khích sản xuất và đầu
tư giảm.
Chất lượng hoạt động của ngành ngân hàng không chỉ tác động đến
kinh doanh của bản thân ngành này mà còn tác động nhiều mặt đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, tác động đến công tác kiểm tra,
kiểm soát, giám sát của nhà nước. Điều này thể hiện ở việc tác động đến huy
động và sử dụng vốn kinh doanh, chi tiêu, tiết kiệm của dân cư, cầu của người
tiêu dùng từ đó ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
Ngoài ra tỷ giá hối đoái cũng tác động đến các doanh nghiệp thông qua
nguồn hàng nhập khẩu và xuất khẩu của các doanh nghiệp.
• Yếu tố công nghệ kỹ thuật – công nghệ:
Trong phạm vi môi trường kinh tế quốc dân, yếu tố kỹ thuật – công
nghệ cũng đóng vai trò ngày càng quan trọng, mang tính chất quyết định đối
với khả năng cạnh tranh, và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.
Trong xu thế toàn cầu hóa doanh nghiệp hiện nay. Sự phát triển nhanh chóng
của kỹ thuật công nghệ ở mọi lĩnh vực đều tác động trực tiếp đến doanh
nghiệp . Với trình độ khoa học công nghệ như hiện nay ở nước ta thì hiệu quả
của các ứng dụng chuyển giao công nghệ đã, đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp
và mạnh mẽ tới các doanh nghiệp.
Xu thế hội nhập buộc các doanh nghiệp ở nước ta phải tìm mọi biện
pháp để tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài. Một
trong các yếu tố quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh là giá cả, doanh
nghiệp đạt được điều này nhờ việc giảm chi phí trong đó yếu tố công nghệ
đóng vai trò rất quan trọng. Vì vậy các doanh nghiệp phải chú ý nâng cao
nhanh chóng khả năng nghiên cứu và phát triển, không chỉ chuyển giao, làm

phải đánh giá đúng xu thế và thay đổi của dân số. Các thông tin này sẽ xác lập
nên tập khách hàng hiện tại và tiềm năng của doanh nghiệp trong tương
lai.Hơn nữa,các nhà quản trị sẽ biết đươc nhiều những cơ hội về thị trường mà
doanh nghiệp đang có và những thị trường mà doanh nghiệp muốn thâm
nhập.
• Môi trường văn hóa – xã hội:
Được hiểu như những giá trị sống tinh thần của mỗi dân tộc, mỗi đất
nước. Nó tạo ra những đặc tính riêng trong cách tiêu dùng của người dân cũng
như những hạn chế vô hình mà các doanh nghiệp bắt gặp khi thâm nhập thị
trường. Do vậy cần nghiên cứu kỹ để tránh khỏi những phản ứng tiêu cực của
người dân do xâm hại tới những giá trị truyền thống của họ.
• Môi trường toàn cầu:
Trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa, không có một quốc gia, doanh
nghiệp nào lại không có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nền kinh tế
thế giới, những mối quan hệ này đang hàng ngày, hàng giờ phát triển mạnh
mẽ và phức tạp tác động lên doanh nghiệp. Vì vậy, sẽ là khiếm khuyết, nếu
phân tích môi trường vĩ mô của một doanh nghiệp mà lại chỉ giới hạn ở phân
tích môi trường trong nước, bỏ qua môi trường toàn cầu.
Môi trường toàn cầu bao gồm môi trường của các thị trường mà doanh nghiệp
có liên quan. Khi phân tích môi trường vĩ mô của các thị trường này cũng cần
phân tích môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hóa xã hội , tự nhiên,
công nghệ… sự thay đổi trong môi trường toàn cầu sẽ ảnh hưởng đến những
quyết định chiến lược của doanh nghiệp. Ví dụ: Nếu như trước đây CHLB
Đức là nước xuất khẩu lớn nhất thế giới, thì trong chiến lược tham gia chuỗi
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 12
Tiểu luận cá nhân
cung ứng toàn cầu của doanh nghiệp chỉ tính đến việc chuẩn bị những điều
kiện cần thiết để gia nhập những chuỗi cung ứng của Đức, Mỹ, Nhật. Trong
nữa đầu năm 2009, Trung Quốc đã vượt Đức và trở thành nước xuất khẩu lớn
nhất thế giới. Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp cần thay đổi chiến lược:

một hậu quả là doanh nghiệp sẽ không được dáp ứng đầy đủ những gì cần
thiết phục vụ quá trình sản xuất của mình.Hoặc một sự phản ứng tiêu cực của
ngành cung ứng cũng coá thể làm gián đoạn sự liên tuc của quá trình sản xuất
kinh doanh.Ví dụ như nhà cung ứng giao hàng không đúng hẹn hoặc như chất
lượng không đúng trong hợp đồng cam kết.Do vậy,doanh nghiệp hết sức quan
tâm tới thị trường này,cần có những chính sách lựa chọn các nàh cung ứng
theo nguyên tắc không bỏ trứng vào một giỏ.Điều đó sẽ cho phép doanh
nghiệp tránh được những rủi ro đem lại từ nhã cung cấp khi họ có những ý
định thay đổi các điều kiện hợp tác.Mặt khác cần lựa chọn những nhà cung
cấp truyền thống,đảm bảo cho doanh nghiệp khai thác được tính ưu thế trong
kinh doanh như giảm chi phí nghiên cứu đầu vào,nợ tiền hàng để quay vòng
vốn…Ngoài ra sự cạnh tranh của các nhà cung ứng cĩng là những điều kiên
tốt để doanh nghiệp xác định được chất lượng,cũng như giá cả của đầu vào.
• Thị trường khách hàng:
Đây là một trong những thị trường quan trọng nhất của doanh nghiệp.
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả hay không
là phản ánh rõ ràng trên thị trường này thông qua các chỉ tiêu như doanh
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 14
Tiểu luận cá nhân
thu,lợi nhuận,khả năng cạnh tranh,khả năng xâm nhập thị trường mới…Sự
đòi hỏi của khách hàng về chất lượng và giá cả luôn là thách thức đối với mỗi
doanh nghiệp. Nếu không đáp ứng được những yêu cầu đó,họ sẽ chuyển ngay
sang tiêu dùng loại sản phẩm khác thay thế hoăc lựa chọn hàng hoá của doanh
nghiệp khác để thoả mãn nhu cầu của họ với chi phí thấp nhất.Điều đó lại làm
cho doanh nghiệp phải tăng chi phí cho nghiên cứu để tạo ra những sản phẩm
mong muốn đó của khách hàng,đồng thời phải tìm kiếm những giải pháp tiết
kiệm chi phí đầu vào để giảm giá thành sản xuất và tăng năng suất lao động.
Điều đó thật khó vì trong đó tồn tại những mâu thuẫn giữa chi phí đầu vào và
giá cả đầu ra. Nếu Doanh nghiệp không làm được điều đó chứng tỏ khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp rất thấp và doanh nghiệp dễ dàng bị đánh bật ra

phải có sự khác biệt.
Sự ra đời của loại sản phẩm mới sẽ là thách thức lớn cho doanh nghiệp
vì sẽ có một bộ phận khách háng sẽ quay lưng lại với những sản phẩm
cũ.Điều đó sẽ làm cho Doanh nghiệp mất đi một lượng khách hàng to lớn và
không đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi ích từ khách hàng. Yêu cầu đặt
ra là phải làm thế nào chống chọi đươc với những sản phẩm thay thế đó.
Doanh nghiệp không thể vứt bỏ công nghệ cũ của mĩnh để theo đuổi một
công nghệ mới khác. Nhiệm vụ là các doanh nghiệp phải cải tiến công
nghệ,tạo ra những đặc tính hay đơn giản chỉ là những thay đổi bên ngoài của
sản phẩm cải tiến để níu giữ và thu hút thêm được khách hàng mới.
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN LỚP: K13KKT3 Page 16
Tiểu luận cá nhân
Phần II
Thực trạng về việc thực hiện quản trị chiến lược ở công
ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn.
2.1 Điều kiện, đặc điểm về công ty:
2.1.1 Sự ra đời của công ty:
Công ty xi măng và xây dựng công trình Lạng Sơn là một doanh nghiệp
nhà nước thành lập vào tháng 10 năm 1960 lấy tên là xí nghiệp Vôi Phai
Duốc trực thuộc Ty kiến trúc Tỉnh Lạng Sơn (Sở Xây Dựng). Nhiệm vụ là sản
xuất vôi với quy mô nhỏ, số lượng công nhân viên chỉ có vài chục người.
Đến năm 1972 kiến trúc tỉnh Lạng Sơn quyết định sáp nhập xí nghiệp
với đội cơ giới đá Hồng Phong lấy tên là “Xí Nghiệp Vôi Đá”, lúc này ngoài
nhiệm vụ sản xuất vôi , xí nghiệp còn sản xuất đá các loại , số lượng công
nhân viên đã tăng lên trên 100 người.
Đầu năm 1978 Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh Lạng Sơn có chủ trương mở rộng
mặt bằng xí nghiệp, lập dự án xây dựng một phân xưởng sản xuất xi măng lò
đứng P300. Cuối năm 1978 “Xí Nghiệp Vôi Đá” được đổi tên thành “Xí
Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng”.
Năm 1991 “Xí Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng” được đổi tên thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status