Hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu linh kiện ô tô của Công ty cổ phần ô tô An Hưng - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Ths. Lê Thị Thuần - là người trực tiếp hướng
dẫn em cùng toàn bộ các cán bộ, công nhân viên trong Công ty Cổ phần ô tô An Hưng
đã giúp đỡ em để em có thể hoàn thành đề tài luận văn này. Mặc dù đã cố gắng, nỗ lực
hết sức, song do những hạn chế về thời gian cũng như những kiến thức và kinh nghiệm
thực tế nên đề tài luận văn của em vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự đóng góp, nhận xét của các thầy cô giáo để em có thể hoàn thiện hơn đề
tài luận văn của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ.
STT TÊN BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ TRANG
1 Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của CTCP ô tô An Hưng. 17
2 Bảng 3.1: Bảng tổng hợp kết quản kinh doanh của CTCP ô ôtô
An Hưng giai đoạn 2010-2012.
18
3 Bảng 3.2: Kim ngạch nhập khẩu linh kiện ô tô của CTCP ô tô
An Hưng giai đoạn 2010-2012.
19
4 Biểu đồ 3.1: Cơ cấu thị trường nhập khẩu của Công ty cổ phần
ô tô An Hưng giai đoạn 2010-2012.
20
5 Bảng 3.3: Số hợp đồng có sai sót năm 2011. 28
6 Biểu đồ 3.2: Tỷ giá danh nghĩa USD/VNĐ theo quý giai đoạn
2008-2012
29
2

3
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới của nước ta hiện nay, thì thương mại
quốc tế (TMQT) ngày càng trở nên quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nước
ta nói riêng và đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nói chung. TMQT nó tạo cho
mỗi quốc gia phát huy mạnh những mặt hàng mà mình có lợi thế cạnh tranh tăng
cường xuất khẩu những mặt hàng đó và nhập khẩu những mặt hàng không phải lợi thế
của mình.
TMQT thông qua hoạt động xuất nhập khẩu đã đem lại lợi ích cho nền kinh tế,
nó tạo điều kiện cho công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, góp phần vào việc đẩy
mạnh dịch chuyển cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần cải thiện đời
sống nhân dân, nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân. TMQT trở thành một tất yếu
đối với mỗi quốc gia nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
( XNK) nói riêng
Tại Công ty cổ phần ô tô An Hưng, hoạt động nhập khẩu chủ yếu diễn ra là nhập
khẩu linh kiện ô tô, nó mang lại nguồn doanh thu tương đối lớn cho công ty. Thị
trường nhập khẩu chủ yếu của công ty là thị trường Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan,
Hàn Quốc. Các thị trường nhập khẩu là không giống nhau nên trong quá trình nhập
khẩu đã xảy khá nhiều rủi ro và bất cập, đặc biệt là trong quá trình thực hiện hợp đồng
nhập khẩu.
Tất cả những rủi ro tiềm ẩn này đều có thể làm tăng chi phí đối với doanh
nghiệp, nó còn ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty, làm giảm
hiệu quả hoạt động chung của công ty. Qua nghiên cứu và tìm hiểu thì nguyên nhân
sâu sa của những rủi ro đã xảy ra xuất phát từ công tác thực hiện hợp đồng của công
ty chưa thực sự hiệu quả và chưa thực hiện sát xao. Tất cả các cấp quản lý cũng như
nhân viên của công ty chưa thấy hết được tầm quan trọng của công tác thực hiện, tuân
thủ quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, do đó, công tác này chưa được quan tâm

rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm các nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, tác động của các nhân tố này, các biện
pháp được áp dụng chủ yếu để hạn chế rủi ro từ đó, đưa ra các đánh giá và đề xuất,
kiến nghị hướng nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
1.3Mục đích nghiên cứu
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
5
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
Trên cơ sở nguồn dữ liệu thu thập được và vận dụng phương pháp nghiên cứu
dựa trên trình độ và kinh nghiệm thực tế của bản thân, mục đích nghiên cứu đề tài gồm
3 mục đích cơ bản:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về rủi ro trong quá trình thực hiện hợp
đồng nhập khẩu.
- Nhận xét, đánh giá thực trạng quy trình nhập khẩu linh kiệ ô tô của Công ty
cổ phần ô tô An Hưng.
- Đưa ra các đề xuất nhằm hạn chế rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng
nhập khẩu của Công ty Cổ phần ô tô An Hưng.
1.4Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
1.5Phạm vi nghiên cứu.
Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu linh
kiện ô tô của Công ty cổ phần ô tô An Hưng.
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Bao gồm các thị trường nhập khẩu của Công
ty cổ phần ô tô An Hưng.
Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Nguồn số liệu thứ cấp thu thập được từ năm
2010 đến năm 2012.
1.6Phương pháp nghiên cứu.
1.6.1 Phương pháp thu thập dữ liêu
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn chuyên
gia và dùng phương pháp quan sát.

Hợp đồng thương mại quốc tế hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương hay hợp
đồng xuất nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các
quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán (bên xuất khẩu) có nghĩa vụ
chuyển quyền sở hữu cho một bên khác gọi là bên mua (bên nhập khẩu) một tài sản
nhất định gọi là hàng hoá, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
2.1.3. Rủi ro.
Rủi ro là sự kiện không may mắn. Rủi ro hết sức đa dạng, phức tạp, tồn tại dưới
nhiều hình thái khác nhau và gắn liền với hoạt động sống, sản xuất, kinh doanh của
con người. Do đó, nhiều năm qua, rủi ro đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều
học giả trong lĩnh vực kinh tế và bảo hiểm thế giới. Xoay quanh khái niệm rủi ro, hiện
đang có rất nhiều quan điểm khác nhau, sau đây là một số khái niệm phổ biến nhất.
Một học giả người Mỹ, ông Allan Willett trong cuốn “ Risk and Insurance”, 1995
quan niệm rằng: “ rủi ro là bất trắc cụ thể đến một biến cố không mong đợi”. Như vậy,
theo ông, rủi ro liên quan tới thái độ con người. Những biến cố ngoài mong đợi thì
được xem là rủi ro còn những biến cố mong đợi thì không phải là rủi ro.
Còn theo ông Nguyễn Hữu Thân, tác giả cuốn “ Phương pháp mạo hiểm và
phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh”, NXB Thông tin, 1991, thì rủi ro là sự bất trắc,
gây ra mất mát, thiệt hại. Théo cách tiếp cận này thì rủi ro phải là bất trắc gây ra hậu
quả cho con người, còn những bất trắc không gây tổn thất thì không phải là rủi ro.
Nhìn từ góc độ bảo hiểm, rủi ro là những đe dọa nguy hiểm mà con người không
lường trước được và là nguyên nhân trực tiếp gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm.
2.1.4. Nguy cơ rủi ro
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
Những sự kiện bất lợi chưa xảy ra nhưng có khả năng xảy ra được gọi là nguy cơ
rủi ro. Nguy cơ rủi ro phản ánh trạng thái tiềm ẩn và khả năng xảy ra rủi ro. Nguy cơ
càng cao thì khả năng xảy ra rủi ro càng lớn. Nguy cơ rủi ro luôn tiềm ẩn song hành
cùng với hoạt động kinh doanh và làm cho rủi ro có thể xảy ra bất kỳ lúc nào gây thiệt
hại, mất mát cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguy cơ rủi ro ít nhiều mang tính quy luật,

nếu điều kiện cơ sở giao hàng là EXW, FCA, FAS, FOB thì người nhập khẩu phải có
nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải.
 Căn cứ vào khối lượng hàng và đặc điểm của hàng hoá: Căn cứ vào khối lượng hàng
để tối ưu hoá trọng tải của phương tiện từ đó tối ưu hoá chi phí. Đồng thời căn cứ vào
đặc điểm của hàng hoá là để lựa chọn phương tiện đảm bảo an toàn cho hàng hoá
trong quá trình vận chuyển.
 Căn cứ vào điều kiện vận tải: Đó là hàng hoá rời hay hàng hoá đóng trong Container,
hàng hoá thông dụng hay hàng hoá đặc biệt. Vận chuyển trên tuyến đường bình
thường hay đặc biệt, vận tải một chiều hay khứ hồi
2.2.1.3 Mua bảo hiểm.
Trong thương mại quốc tế thường phải vận chuyển đi xa, trong những điều kiện
vận tải khá phức tạp, do đó hàng hoá dễ bị hư hỏng, mất mát tổn thất lớn trong quá
trình vận chuyển. Chuyên chở hàng hoá bằng đường biển cũng thường gặp rủi ro và
tổn thất, bởi vậy trong thương mại quốc tế bảo hiểm đường biển là loại bảo hiểm phổ
biến nhất. Theo điều kiện CIF, CIP thì nghĩa vụ của người bán phải mua bảo hiểm vì
lợi ích của người mua nhưng chỉ phải mua bảo hiểm ở một mức tối thiểu. Còn trong
các điều kiện khác, các bên tự quyết định việc mua bảo hiểm nếu họ cảm thấy cần thiết
tức là không bắt buộc phải mua bảo hiểm.Các đơn vị kinh doanh khi mua bảo hiểm
phải xác lập nên một hợp đồng bảo hiểm.
2.2.1.4 Làm thủ tục hải quan.
Thủ tục hải quan là một công cụ để quản lý các hoạt động buôn bán theo pháp
luật của Nhà nước để ngăn chặn buôn lậu. Theo quyết định số 1494/2001/QĐ-TCHQ
(Có hiệu lực ngày 1/10/2001, ban hành ngày 26/01/2001) thì thủ tục hải quan đối với
hàng nhập khẩu gồm 3 bước:
Bước 1: Tiếp nhận, đăng ký tên khai hải quan và quyết định hình thức kiểm tra
thực tế hàng hoá.
Bước 2: Kiểm tra thực tế hàng hoá.
Bước 3: Kiểm tra tính thuế
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
10

2.2.1.6 Kiểm tra hàng.
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
11
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
Sau khi nhận hàng bên nhập khẩu làm thủ tục kiểm tra quy cách, phẩm chất và
tình hình thực tại của hàng hoá. Thông thường bên mua sẽ mời một cơ quan giám định
để giám định hàng hoá. Cơ quan này lấy mẫu, phân tích số lượng, chất lượng hàng
xem có phù hợp với hợp đồng không.
2.2.1.7 Làm thủ tục thanh toán.
Trong thương mại quốc tế hiện nay có nhiều phương thức thanh toán khác nhau
nhưng chủ yếu dùng một trong các phương thức sau:
♦ Phương thức chuyển tiền.
♦ Phương thức nhờ thu.
♦ Phương thức giao chứng từ trả tiền.
♦ Phương thức tín dụng chứng từ (L/C).
Tuy nhiên, trong các phương thức đó thì thanh toán bằng L/C là có độ an toàn
cao hơn cả, nó đảm bảo quyền lợi cho cả người mua và người bán. Ta có thể biểu diễn
qua sơ đồ sau:
Trong đó:
(1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở L/C gửi tới ngân hàng.
(2) Ngân hàng chấp nhận mở L/C. Trong đó ngân hàng cam kết trả tiền cho người xuất
khẩu nếu họ trình một bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp với những quy định trong L/C
bao gồm: Hoá đơn thương mại, vận đơn, giấy chứng nhận xuất xứ, giấy chứng nhận số
lượng, chất lượng, giấy chứng nhận bảo hiểm.
(3) Ngân hàng thông báo chuyển L/C bản gốc cho người xuất khẩu.
(4) Người xuất khẩu chấp nhận L/C và giao hàng. Nếu không chấp nhận thì phải có
thông báo đề nghị sửa L/C cho phù hợp với hợp đồng mua bán.
(5) Người xuất khẩu chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo.
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
(7)

bị tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hoặc do lỗi của người thứ ba gây ra khi những
rủi ro này được mua bảo hiểm.
Đơn khiếu nại phải kèm theo những bằng chứng về việc tổn thất nh biên bản
giám định, vận đơn đường biển, đơn bảo hiểm (nếu khiếu nại tại công ty bảo hiểm).
Việc giải quyết khiếu nại phải thận trọng kịp thời, tỉ mỉ, giải quyết khẩn trương. Nếu
việc khiếu nại không giải quyết thoả đáng thì hai bên có thể kiện nhau ra Hội đồng
trọng tài hoặc tại toà án (nếu có thoả thuận trong hợp đồng).
2.2.2 Rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
2.2.2.1. Các yếu tố làm gia tăng rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu chịu sự chi phối của nhiều nhân tốt ảnh
hưởng và nguyên nhân gây rủi ro riêng có trong kinh doanh xuất nhập khẩu.
Trước hết phải kể đến những rủi ro phát sinh từ môi trường pháp lý. Nguồn luật
áp dụng cho hợp đồng mua bán ngoại thương rất nhiều, bao gồm: điều ước quốc tế về
ngoại thương, luật quốc gia, tập quán quốc tế về thương mại, án lệ và hợp đồng mẫu.
Việc lựa chọn nguồn luật nào được áp dụng cho quan hệ hợp đồng là do các bên hoàn
toàn tự do thỏa thuận. Do đó, trong trường hợp không có điều ước quốc tế, các bên
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
13
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
thường tranh chấp trong thỏa thuận luật áp dụng. Nếu không bên nào chịu nhượng bộ,
họ có thể lựa chọn luật của nước thứ 3. Đây chính là nguồn gốc có thể đem lại rủi ro
do không phải bao giờ các bên cũng hiểu cặn kẽ luật pháp của nước thứ 3 đó. Nhân tố
ảnh hưởng và nguyên nhân thứ hai làm gia tăng rủi ro, tổn thất trong quá trình thực
hiện hợp đồng nhập khẩu chính là chủ thể của hợp đồng.
Thông thường, trong hợp đồng mua bán quốc tế, các bên có quốc tịch khác nhau
hoặc trụ sở giao dịch ở các nước khác nhau. Điều này dẫn tới địa vị pháp lý của các cá
nhân và tổ chức tham gia quan hệ hợp đồng cũng khác nhau.
Chủ thể hợp đồng thường bất đồng về ngôn ngữ và có tập quán văn hóa khác
nhau. Điều này gây ra không ít khó khăn cản trở cho quá trình đàm phán, ký kết hợp
đồng và kết quả là khi thực hiện hợp đồng, có thể sự hiểu lầm sẽ xảy ra, đem lại rủi ro

Rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu xảy ra với tần suất lớn hơn
thực hiện hợp đồng trong nước: Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nhà
kinh doanh luôn phải đối mặt với môi trường kinh doanh đầy biến động, kèm theo đó
là muôn vàn nguy cơ rủi ro ở tất cả cá lĩnh vực hoạt động diễn ra trong và ngoài nước.
Các nhân tố ảnh hưởng, các nguyên nhân của quan và khách quan ở cả trong và ngoài
nước làm cho rủi ro xảy ra thường xuyên hơn với tần suất lớn hơn kinh doanh trong
nước. Sự xuất hiện dồn dập của các sự cố bất lợi có thể lý giải bằng sự khác biệt trong
hệ thống luật pháp, văn hóa kinh doanh, chủ thể trong quan hệ hợp đồng, khoảng cách
địa lý
Rủi ro xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn: Khi xảy ra rủi ro thường gây hậu
quả nghiêm trọng hơn cho người kinh doanh nhập khẩu vì hai lý do. Một là, giá trị của
thường vụ nhập khẩu thường lớn hơn các thương vụ kinh doanh trong nước. Hai là,
quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu thường liên quan tới nhiều bên hơn nên khi
xảy ra rủi ro có thể tất cả các bên cùng phải gánh chịu. Nói một cách khác, mức độ
nghiêm trọng hơn được thể hiện ở phạm vi ảnh hưởng của rủi ro rộng lớn hơn
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
15
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
2.2.2.3. Phân loại rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Phân loại rủi ro là một công việc cần thiết và có ý nghĩa to lớn cho quá trình nhận
thức và đề ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro một cách hợp lý. Tuy nhiên, việc
phân loại rủi ro mang tính tương đối vì dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
∗ Căn cứ vào khả năng đo lường.
• Rủi ro có thể tính toán được: là rủi ro mà tần số xuất hiện của nó có thể tiên đoán được
ở mức độ tin cậy nào đó.
• Rủi ro không thể tính toán được: là rủi ro mà tần số xuất hiện của nó bất thường, khó
tiên đoán.
∗ Căn cứ vào nguyên nhân gây ra rủi ro.
• Rủi ro có nguyên nhân khách quan: là rủi ro do tác động của môi trường vĩ mô và
nguyên nhân bên ngoài mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được.

phải phân tích môi trường kinh doanh, phân tích hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm loại trừ hoàn cảnh phát sinh rủi ro, tiết kiệm để bù đắp mất mát rủi ro
bằng lập quỹ dự trữ, mua bảo hiểm cho hàng hóa. Mặc dù để tiến hành các hoạt động
này doanh nghiệp phải bỏ ra khoản chi phí nhất định song nếu đem so sánh nó với chi
phí khắc phục rủi ro thì chi phí phòng ngừa có thể chấp nhận được. Đến lượt nó, các
biện pháp phòng ngừa rủi ro giúp doanh nghiệp kiểm soát được rủi ro, làm cho công
việc kinh doanh ổn định và tạo tâm lý yên tâm cho nhà kinh doanh khi thực hiện hợp
đồng.
Như vậy, rủi ro xảy ra luôn đem theo thiệt hại cho doanh nghiệp và tác động
nghịch với hiệu quả thực hiện hợp đồng. Do đó, điều cần thiết để tăng hiệu quả là
người kinh doanh phải nhận thức được rủi ro và chủ động áp dụng các biện pháp
phòng tránh rủi ro.
2.3 Phân định nội dung nghiên cứu.
2.3.1 Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu là một nội dung quan trọng trong phân
định nội dung nghiên cứu. Phân tích các bước trong quy trình nhập khẩu sẽ nhận ra
được các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu của doanh
nghiệp. Bởi lẽ, mỗi bước khác nhau lại bị một yếu tố đặc trưng tác động đến, đồng
thời, từ những phân tích đó sẽ nhận định được những ảnh hưởng qua lại của các yếu tố
đến hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp. Từ đó giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu
quả trong công tác thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu bao gồm
nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến quá trình thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp đánh giá được
các cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của mình để hoàn thiện hơn nữa quá trình
thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
17
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế

mô hình kinh doanh mới, đòi hỏi An Hưng phải có những giải pháp phát triển mang
tính chiến lược dài hạn để tiếp tục phát triển kinh doanh trong giai đoạn hội nhập, tạo
ra những bước đi đột phá, đưa công ty lên một tầm cao mới.
Công ty cổ phần ô tô An Hưng luôn là một trong 3 đại lý dẫn đầu về doanh số
bán hàng của GMV trên toàn quốc, chiếm 10% thị phần GMV.
Trong quá trình hoạt động, công ty đã tạo dựng được nhiều khách hàng truyền
thống, đó là: những người tiêu dung, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vân tải
hành khách, các doanh nghiệp nước ngoài chuyên cung cấp linh kiện ô tô….
Trải qua quá trình 13 năm hình thành và phát triển, Công ty cổ phần ô tô An
Hưng luôn khẳng định được thương hiệu của mình trên thị trường ô tô Hà Nội và Miền
Bắc.
3.1.2 Lĩnh vực kinh doanh của công ty.
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
19
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
Công ty cổ phần ô tô An Hưng là đại lý ủy quyền của công ty ô tô GM Chevrolet
Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực phân phối, kinh doanh ô tô của GM Chevreolet,
cung cấp các dịch vụ ô tô như cho thuê, taxi, kinh doanh nhượng quyền thương mại,
nhập khẩu và phân phối linh kiện ô tô,…
Trong đó, một trong những thế mạnh của công ty là kinh doanh ô tô của GM
Chevrolet. Đây là lĩnh vực đã gắn với công ty ngay từ những ngày đầu thành lập nên
công ty đã rút cho mình được rất nhiều bài học kinh nghiệm và ngày càng trưởng
thành trong lĩnh vực kinh doanh này.
Còn đối với lĩnh vực nhập khẩu linh kiện ô tô, An Hưng đã tiếp nối hoạt động
này của đơn vị chủ quản là tập đoàn Gami Group, 1 đơn vị hoạt động đa ngành nghề.
3.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty được khái quát theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của CTCP ô tô An Hưng.
Bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần ô tô An Hưng được tổ chức theo cơ cấu
phòng ban chuyên trách thống nhất quản lý từ Giám đốc đến từng nhân viên của công

0.61% 1,03% 1.5% 0.42% 0.47%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2010 – 2012)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy tổng doanh thu, doanh thu thuần giảm đi trong
2 năm 2011, 2012. Cụ thể tổng doanh thu năm 2011 giảm 52% so với 2010 và giảm
53.35% năm 2012 so với năm 2011; Doanh thu thuần giảm 52.7% năm 2011 so với
năm 2010 và giảm 52.66% năm 2012 so với năm 2011. Cùng với sự giảm đó đã kéo
theo 2 khoản lợi nhuận thuần trước thuế (LNTTT) và lợi nhuận thuần sau thuế
(LNTST) giảm cùng với một tỷ lệ là năm 2011 giảm 19,2% so với năm 2010 (Cả 2
khoản) và năm 2012 giảm 19,2% so với năm 2011 (Cả 2 khoản). Điều này là do doanh
thu nhập khẩu bộ linh kiện ô tô giảm mạnh ở 2 năm liên tiếp 2011 và 2012. Tuy nhiên,
chúng ta không phải chỉ nhìn những chỉ tiêu đó mà chúng ta đánh giá là công ty làm ăn
không có hiệu quả. Để xem xét thực chất hiệu quả kinh doanh của công ty ta cần phải
xét đến 2 chỉ tiêu đó là Tỷ suất LNTTT/Doanh thu thuần và Tỷ suất LNTST/Doanh
thu thuần. Qua bảng trên ta thấy hai chỉ tiêu này ở 2 năm liên tiếp đều tăng. Cụ thể: Tỷ
suất LNTTT/DTT năm 2011 tăng 0.57% so với năm 2010 và năm 2012 là 0.6% so với
năm 2011; Còn Tỷ suất LNTST/DTT năm 2011 tăng 0.42% so với năm 2010 và năm
2012 tăng 0.4% so với năm 2011. Chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của công ty đã tăng
dần lên qua các năm. Để có được hiệu quả kinh doanh tăng như vậy là do có sự nỗ lực
không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty cùng với sự tích luỹ
kinh nghiệm qua nhiều năm dẫn đến hiệu qủa công việc tăng dần lên ở các năm. Cùng
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
21
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
với đó là sự đảm bảo ổn định mức thu nhập cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong
công ty để khuyến khích họ làm việc hăng say hơn với công việc và hoàn thành tốt các
kế hoạch đặt ra.
3.1.5 Tình hình kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty.
3.1.5.1 Về kim ngạch nhập khẩu.
Kim ngạch nhập khẩu linh kiện ô tô của CTCP ô tô An Hưng giai đoạn
2010 – 2012 được thể hiện qua bảng sau:

2,42
4 Tổng kim ngạch
Triệu
VNĐ
282692
74961
23883
% 100 100 100
(Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu)
Việc nhập khẩu linh kiện ô tô từ 5 chỗ trở xuống vẫn chiếm ưu thế trong tổng
kim ngạch nhập khẩu của Công ty cổ phần ô tô An Hưng. Ngoài ra, xuất phát từ việc
nghiên cứu nhu cầu của thị trường trong những năm kế tiếp và trong tương lại dài hạn,
công ty đã mở rộng cơ cấu mặt hàng nhập khẩu, nhập khẩu them linh kiện ô tô từ 16
đến 24 chỗ vào năm 2011 là 4,24% và đến năm 2012 là 1,13%. Tùy vào tình hình diễn
biến thị trường và nhu cầu của thị trường, An Hưng tiếp tục điều chỉnh kim ngạch
nhập khẩu linh kiện ô tô để đạt được lợi nhuận tối đa.
3.1.5.2 Cơ cấu thị trường nhập khẩu
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
22
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
Nhật Bản luôn là thị trường nhập khẩu linh kiện ô tô số 1 của các doanh nghiệp
Việt nam nói chung và của Công ty cổ phần ô tô An Hưng nói riêng. Đây có thể nói là
thị trường có uy tín và tạo dựng được niềm tin vững chắc đối với các doanh nghiệp
Việt Nam.
Ngoài ra, thị trường Hàn Quốc cũng là một thị trường được Công ty cổ phần ô tô
An Hưng chú trọng đến. Đặc biệt, trong những năm gần đây, linh kiện ô tô của Trung
Quốc đã bao phủ hầu khắp các thị trường trên thế giới, linh kiện ô tô Trung Quốc có
đặc điểm rẻ, đa dạng về mẫu mã nên cũng được các doanh nghiệp Việt Nam nói chung
và Công ty cổ phần ô tô An Hưng nói riêng thiết lập mối quan hệ hợp tác lâu dài.
(Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu)

 Nếu đơn xin mở L/C đạt, cán bộ phòng Xuất nhập khẩu chuyển bộ hồ sơ gồm: Hợp
đồng đã được phê duyệt, phương án kinh doanh, đơn xin ở L/C cho phòng Kế toán –
Tổng hợp.
 Khi nhận được hồ sơ từ phòng Xuất nhập khẩu, trưởng phòng Kế toán – Tổng hợp tiến
hành xem xet. Nếu đạt thì trưởng phòng Kế toán – Tổng hợp trình Giám đốc duyệt đơn
xin mở L/C
 Sau khi nhận được bộ hồ sơ xin mở L/C đã phê duyệt, cán bộ phòng Kế toán – Tổng
hợp tiến hành làm thủ tục L/C tại ngân hàng và nhận từ ngân hàng bản L/C gốc, sau đó
sao và chuyển cho phòng Xuất nhập khẩu 1 bản L/C.
Hầu hết các hợp đồng nhập khẩu linh kiện ô tô của Công ty cổ phần ô tô An
Hưng đều mở L/C trả ngay và không hủy ngang. Tuy nhiên, việc mở L/C như thế nào
là hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa công ty và bên đối tác nước ngoài khi
đàm phán, kí kết hợp đồng.
Sau khi L/C được bên đối tác nước ngoài chấp nhận và tiến hành giao hàng, đồng
thời công ty sẽ nhận được bộ chứng từ hàng hoá từ người bán (Người xuất khẩu) hoặc
ngân hàng mở L/C. Có thể có các trường hợp sau xảy ra: Hoặc bộ chứng từ về trước
hàng về sau; Hoặc bộ chứng từ và hàng cùng về, Hoặc bộ chứng từ về sau hàng về
trước. Và bộ chứng từ hàng hoá này chính là cơ sở để công ty tiến hành các bước tiếp
theo như làm thủ tục hải quan, nhận hàng
Đôi khi trong qúa trình mở L/C đối tác nước ngoài muốn công ty mở ở ngân
hàng mà công ty không có tài khoản hoặc tài khoản ở ngân hàng đó không đủ cho hợp
đồng. Điều này đã gây cản trở phần nào trong quá trình thực hiện hợp đồng .
3.2.1.3 Đôn đốc bên bán giao hàng.
GVHD: Th.S Lê Thị Thuần SVTH: Nguyễn Thị Thúy Nga_K45E7
24
Khóa luận tốt nghiệp Khoa Thương mại quốc tế
Trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế, việc đôn đốc bên bán
giao hàng luôn là một bước quan trọng trong quá trình thực hiện hợp đồng đối với bất
kì bên mua nào. Thông thường, Công ty thường sử dụng Fax, Telex để xem bên đối tác
chuẩn bị nguồn hàng tới đâu, thời gian giao hàng có đúng với hợp đồng hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status