1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING
ĐIỆN TỬ CHO CÔNG TY CỔ PHẦN ONESOFT
Công nghệ thông tin và Internet đang từng giờ từng phút làm thay đổi cuộc
sống xã hội. Ra đời trong những thập niên 80, qua hơn 20 năm trưởng thành và phát
triển Internet thật sự mang lại rất nhiều lợi ích cho mọi người trong nhiều lĩnh vực,
trong đó có kinh tế. Rất nhiều các công ty trên thế giới đã sớm nhận thức được vai
trò quan trọng của Internet và ứng dụng nó vào công cuộc kinh doanh của mình.
Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao
mọi khả năng: đẩy nhanh tốc độ kinh doanh, giảm thiểu chi phí, khắc phục được các
trở ngại về không gian và thời gian… đây chính là những điểm mạnh của thương
mại điện tử.
Theo số liệu từ của Bộ Công Thương, hiện nay, cả nước có trên 94% DN vừa
và nhỏ, 100% DN này đều ứng dụng Internet, tuy nhiên đa số các doanh nghiệp mới
chỉ dừng lại ở việc giới thiệu hình ảnh sản phẩm, dịch vụ, chưa có xây dựng chiến
lược cụ thể để đẩy mạnh ứng dụng marketing điện tử để phát triển hoạt động kinh
doanh.
Công ty cổ phần OneSoft là 1 công ty nhỏ, hoạt động trong lĩnh vực trò chơi
trực tuyến trên di động và các ứng dụng trên di động. Với những chi phí hạn hẹp và
cũng là công ty trẻ nên việc xây dựng kế hoạch marketing điện tử trong thời điểm
này là rất cần thiết, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp với đối thủ cạnh
tranh và phát triển thị trường. Đặc biệt nó lại rất phù hợp với lĩnh vực hoạt động của
công ty mà không một hình thức marketing truyền thống nào có thể mang lại được.
Trong xu thế phát triển hiện nay, công ty cổ phần OneSoft, đã có những ứng
dụng marketing điện tử nhất định vào hoạt động phát triển và đạt được những kết
quả thành công nhất định xong vẫn gặp phải những khó khăn trong quá trình triển
khai các hoạt động phát triển kinh doanh của mình, trong việc nâng cao khả năng
cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành, khai thác nguồn tài nguyên miễn phí
trên Internet vào hoạt động E-Marketing….Đặc biệt là hiện tại công ty chưa có
được một phòng ban hay một bộ phận chuyên biệt về lĩnh vực cấp thiết này. Chỉ có
4. PHẠM VI VÀ Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU
a. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Tìm hiểu về tình hình ứng dụng marketing điện tử tại công ty
cổ phần OneSoft.
3
Về thời gian: Thông tin phục vụ cho số liệu được thu thập trong thời gian từ
2010– 2011, đề tài có ý nghĩa ứng dụng từ giữa năm 2013 trở đi.
b. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Không chỉ ở Việt Nam mà ở mọi nơi trên thế giới hiện nay thì sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp đang ngày càng trở nên gay gắt. Ngày càng có nhiều doanh
nghiệp nhận ra được vai trò và tầm quan trọng của Thương mại điện tử trong việc
nâng cao vị thế, hình ảnh và sức mạnh cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường. Xu
hướng phát triển và ứng dụng Thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh đã trở
thành xu hướng tất yếu. Trong Thương mại điện tử thì vai trò của marketing điện tử
là vô cùng lớn đối với việc tiếp đưa hình ảnh, sản phẩm và dịch vụ của công ty tiếp
cận với được khách hàng dễ dàng, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí hơn. Nhưng để
có thể ứng dụng được điều đó vào doanh nghiệp trước tiên ta cần phải xây dựng
một kế hoạch marketing điện tử hoàn chỉnh. Đó cũng chính là ý nghĩa của đề tài
“xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho công ty cổ phần OneSoft”
Mục đích của đề tài là xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho công ty cổ
phần OneSoft nói riêng và với các doanh nghiệp nói chung.
Với công ty cổ phần OneSoft đề tài này giúp cho công ty nhận thấy được
những điểm mạnh, điểm yếu, những bất cập hiện tại của công ty. Giúp công ty thấy
được những lợi ích và hiệu quả kinh doanh hơn khi áp dụng và tiến hành làm theo
kế hoạch này.Thấy được tầm quan trọng của đề tài này với doanh nghiệp của mình
để từ đó có hướng đi khác giúp doanh nghiệp phát triển hơn nữa. Cạnh tranh được
với các đối thủ và chiếm lĩnh được thị trường hiện tại và trong tương lai.
Đối với các doanh nghiệp khác, đề tài cũng không kém phần quan trọng,giúp
các doanh nghiệp thấy được tầm quan trọng của marketing điện tử để từ đó nghiên
cứu và xây dựng kế hoạch marketing điện tử cho công ty mình. Giúp công ty kinh
Theo Philip Kotler (2003): Marketing điện tử là quá trình lập kế hoạch về
sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp
ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân - dựa trên các phương tiện điện tử và Internet.
Theo nhóm tác giả Strauss El-Ansary và Frost (2003) : Marketing điện tử là
sự ứng dụng hàng loạt những công nghệ thông tin cho:
Việc chuyển đổi những chiến lược Marketing để tạo ra nhiều giá trị khách
hàng hơn thông qua những chiến lược phân đoạn, mục tiêu, khác biệt hóa và định vị
hiệu quả hơn.
Việc tạo ra những sự trao đổi làm thỏa mãn những mục tiêu của khách hàng
là người tiêu dùng cuối cùng và những khách hàng là tổ chức.
Như vậy thông qua các khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy: Marketing
điện tử là kết quả của công nghệ thông tin ứng dụng vào Marketing truyền thống
nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng. Marketing điện tử sẽ giúp doanh nghiệp
tạo ra những phương thức thực thi các chiến lược marketing mới giúp thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu và mục tiêu của khách hàng, vì vậy khi triển khai chương trình
Marketing điện tử không chỉ doanh nghiệp được lợi mà cả khách hàng cũng sẽ
được hưởng nhiều dịch vụ tốt hơn so với kinh doanh truyền thống.
6
Bên cạnh những khái niệm về marketing thì cũng có nhiều khái niệm khác
nhau về marketing điện tử (E-Marketing)
Trong đề tài này marketing điện tử được tiếp cận là “E-marketing là cách
thức dùng các phương tiện điện tử để giới thiệu, mời chào, cung cấp thông tin về
sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ của nhà sản xuất đến người tiêu dùng và thuyết
phục họ chọn nó”. Với cách tiếp cận này marketing điện tử được gắn liền với mạng
Internet. Marketing điện tử là quá trình phát triển và quảng bá doanh nghiệp sử
dụng các phương tiện trực tuyến. Marketing điện tử không chỉ đơn giản là xây dựng
Website. Marketing điện tư phải là một phần của chiến lược marketing và phải được
đầu tư hợp lý.
1.2.2 Đặc điểm của marketing điện tử
Marketing điện tử kể từ khi xuất hiện đã được các nhà tiếp thị ứng dụng
mối quan hệ trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng. Hoạt động marketing trực
tuyến cung cấp thông
tin theo yêu cầu của người sử dụng và cho phép người sử
dụng xem các thông tin.
Khách hàng có thể cung cấp thông tin phản hồi về một sản phẩm nào đó,
có thể yêu cầu nhận thêm thông tin hoặc yêu cầu không nhận thêm thông tin về sản
phẩm đó nữa.
- Khả năng hướng đối tượng thích hợp
Hoạt động marketing trực tuyến có rất nhiều khả năng để nhắm vào đối
tượng phù hợp. Doanh nghiệp
có
thể
nhắm vào các công ty, các quốc gia hay
khu vực địa lý, cũng như doanh nghiệp có thể sử dụng cơ sở dữ liệu để làm cơ sở
cho hoạt động tiếp thị trực tiếp. Doanh nghiệp cũng có thể dựa vào sở thích cá
nhân và
hành
vi
của người tiêu dùng để nhắm vào đối tượng thích hợp.
- Đa dạng hóa sản phẩm
Ngày nay việc mua sắm đã trở lên dễ dàng hơn nhiều, chỉ cần ở nhà, ngồi
trước máy vi tính có kết nối Internet
là
khách hàng có thể thực hiện việc mua
sắm như tại các cửa hàng thật. Sản phẩm và dịch vụ được cung cấp trên các cửa
hàng ảo này ngày một phong phú và đa dạng nên thu hút được sự quan tâm từ phía
người tiêu dùng. Giờ đây, nếu muốn mua một quyển sách, khách hàng chỉ việc
truy cập vào các website chuyên bán sách như w
marketing khác nhau.
1.2.3.1 Quảng cáo trực tuyến
a. Quảng cáo thông qua các công cụ tìm kiếm
Quảng cáo thông qua các công cụ tìm kiếm ngày nay đã trở thành công cụ
web quan trọng nhất cho các nhà quảng cáo. Mỗi ngày có hàng trăm triệu khách
hàng tìm kiếm trên internet mỗi ngày. Và điều tất yếu quảng cáo bằng
các công cụ
tìm kiếm trở thành phương tiện quảng cáo phổ biến cho tất cả
các doanh nghiệp
thương mại điện tử.
Quảng cáo bằng công cụ tìm kiếm là bất kì hình thức nào của hình thức quảng
cáo trả tiền dựa trên giao dịch. Chi phí cho hoạt động này sẽ được các
nhà quảng
cáo trả cho các nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm như Google,
Yahoo, MSN,…để
đảm bảo rằng website sẽ được nhiều người biết tới hơn
trong kết quả tìm kiếm.
Quảng cáo bằng từ khóa sẽ giúp doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp tạo dựng
thương hiệu, tăng doanh thu cho doanh nghiệp cũng như sự phản hồi của người
dùng Internet. Một trong những lợi thế mà quảng cáo trực tuyến đó
chính là
doanh nghiệp có thể tính toán trước được hầu hết 100% chi phí bỏ
ra.
Hiện nay có rất nhiều công cụ tìm kiếm hỗ trợ cho hoạt động marketing
quảng bá doanh nghiệp khác nhau. Tuy nhiên thì Google adwords là một
trong những công cụ quảng cáo bằng từ khóa phổ biến nhất hiện nay. Google
adwords được mọi người biết tới và sử dụng nhiều là do nó trình bày thông
9
tin một cách chi tiết cũng như chi phí cho mỗi cú kích chuột tìm kiếm là cao.
b. Quảng cáo banner
trong
những năm đầu của thương mại điện tử nhưng nhanh chóng sau đó
không được
các nhà quảng cáo ưa dùng bởi vì các trang quá dài và mất nhiều
thời gian để tải về.
Chức năng chính của catalog điện tử đó chính là trình bày các sản phẩm của
doanh nghiệp. Catalog điện tử có đăng tải hình ảnh sản phẩm, thông tin miêu tả sản
10
phẩm, kích thước, màu sắc, nguyên liệu cấu thành và thông tin giá cả
sản phẩm. Có
hai loại catalog trực tuyến khác nhau bao gồm catalog dưới
dàng trình bày toàn
trang và catalog trình bày theo kiểu các ô. Hầu hết các
nhà bán lẻ trực tuyến là sử
dụng catalog dạng các ô để giới thiệu được nhiều
sản phẩm. Hiện nay các
doanh nghiệp như amazon.com, gap.com,
LLbean.com đang sử dụng các
catalog dạng này.
1.2.3.2 Marketing quan hệ công chúng điện tử
Marketing quan hệ công chúng điện tử là một trong những hoạt động xúc
tiến nhằm tác động lên khách hàng, tạo ra một cách nhìn tích cực và thiện chí của
khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, hình ảnh doanh nghiệp. Trên nền tảng
Internet, hoạt động marketing quan hệ công chúng điện tử bao gồm:
+ Xây dựng nội dung trên website của doanh nghiệp
Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng website như một kênh
thông tin giới thiệu về doanh nghiệp, về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
Với chi phí triển khai và xây dựng một website không lớn, thì điều mà doanh
nghiệp cần quan tâm đó là phải tạo ra một website đầy đủ chức năng, nội dung
và thân thiện với khách hàng. Dữ liệu thông tin được cập nhật thường xuyên,
nhận trực tiếp các phiếu thưởng qua email của mình, xem
tin khuyến mãi trên website của công ty, trực tiếp dùng thử sản phẩm mẫu trong
thời hạn quy định…
1.2.3.4 Marketing điện tử trực tiếp
Marketing điện tử trực tiếp là hoạt động truyền thông trực tiếp, một công
cụ xúc tiến hữu ích giúp doanh nghiệp nhận được những phản ứng, phản hồi của
khách hàng từ những thông tin mà doanh nghiệp truyền đạt đến khách hàng một
cách nhanh chóng. Những phản hồi của khách hàng có thể là những quyết định về
hành vi như: truy cập vào website, yêu cầu cung cấp thêm thông tin, thực hiện các
giao dịch…
a. Marketing thông qua email:
Marketing bằng email là một hình thức quảng cáo trực tuyến phổ biến nhất
hiện nay. Đây là hình thức quảng cáo trực tiếp hiệu quả, cho phép doanh
nghiệp
quảng bá sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng một cách nhanh nhất
với chi phí
thấp. Việc sử dụng email để tiến hành hoạt động marketing là
nhằm mục đích
tăng cường mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng
hiện tại, khuyến khích
khách hàng trung thành cùng với sự phát triển của
doanh nghiệp. Nội dung chính
của các email marketing thường là cung cấp
thông tin cho khách hàng về những
sản phẩm dịch vụ mới của doanh nghiệp hay những ưu đãi mà doanh nghiệp dành
cho khách hàng.
Một trong những lợi ích lớn nhất của marketing bằng email đó chính là doanh
nghiệp có thể tiếp cận được với tất cả khách hàng trên toàn cầu trong khoảng thời
gian ngắn nhất với chi phí thấp nhất.
Việc sử dụng email để tiến hành hoạt động marketing đã đem lại cho doanh
khách hàng có thể gửi được 4 thiệp điện tử tới bạn bè,
như vậy sẽ có hơn 6
triệu hình ảnh của công ty sẽ được gửi tới khách hàng tiềm
năng. Nhờ chiến
lược marketing lan tỏa này Universal sẽ tao dựng và phát triển
thương hiệu
của mình.
Marketing lan tỏa được xem là một trong những hình thức marketing trực
tuyến hiệu quả nhất hiện nay. Các hình thức marketing lan tỏa được biến thể theo
giời gian, tuy nhiên hiện nay có 3 hình thức marketing lan tỏa dược
mọi người
biết tới: Marketing lan tỏa dựa trên sản phẩm và dịch vụ;
Markeing lan tỏa
chuyển tiếp; Marketing lan tỏa “truyền miệng”.
c. Marketing liên kết:
Marketing liên kết là hoạt động marketing dựa trên mạng
internet.
Marketing liên kết đơn giản chỉ là một bản hợp đồng của một công ty
(marketer) hứa sẽ trả tiền cho công ty khác (affiliate) nếu giành được doanh số bán
hàng thông qua website của công ty liên kết. Như vậy marketing liên kết đơn giản là
marketing trả tiền, tức là người bán hàng trực tuyến sẽ nhận
được một khoản hoa
hồng nhờ giới thiệu một doanh nghiệp khác tới người
tiêu dùng. Hoa hồng có thể
dựa trên doanh số hàng bán được thông qua giới
thiệu, tính trên số lần click chuột
13
hay tổng số tiền nhất định cho việc giới
thiệu.
Marketing liên kết triển khai dựa trên qui mô “đám đông”. Mô hình
nhân có chung sở thích có thể cùng
nhau xây dựng lên một cộng đồng.
Những cộng đồng này sẽ tạo lên một “sức
mạnh của đám đông”. Trong mạng
xã hội các thành viên có thể cùng lúc đóng hai
vai trò người cung cấp nội
dung và người tìm kiếm thông tin.
Mạng xã hội được xây dựng trên nền web 2.0 cho phép người dùng dễ dàng
chia sẻ thông tin, hình ảnh, phim ảnh với dung lượng lớn. Điều này đồng nghĩa với
việc triển khai hoạt động marketing trên các mạng xã hội này sẽ giúp cho doanh
nghiệp tận dụng được những lợi thế của mạng xã hội này đem lại. Lợi ích đầu tiên
khi tiến hành marketing trên mạng xã hội đó chính là việc doanh nghiệp lợi dụng
được sức mạnh của đám động do các mạng này đem lại để tăng số lượng khách
hàng tiềm năng của doanh
nghiệp lên. Marketing trên mạng xã hội còn giúp
doanh nghiệp nâng cao
nhận thức về thương hiệu, sản phẩm dịch vụ của doanh
nghiệp. Thường các doanh nghiệp đặt các đường link kết nối tới trang web của
doanh nghiệp. Khi
người dùng gia nhập vào các mạng xã hội thì có thể họ sẽ click
14
vào đường
link dẫn tới website doanh nghiệp.
Ứng dụng marketing trên các trang mạng xã hội doanh nghiệp có thể
tiết
kiệm được rất nhiều chi phí bao gồm chi phí nghiên cứu thị trường, chi
phí sản
xuất, chi phí tung sản phẩm ra thị trường Thông qua các trang
mạng xã hội,
doanh nghiệp còn biết được những cảm nhận của doanh nghiệp. Trên những đánh giá
quản trị marketing, các công cụ E-Marketing, phân tích môi trường TMĐT,
marketing 4P trong môi trường TMĐT. Bên cạnh đó là cơ sở lý thuyết nghiên cứu
15
môi trường, thị trường và đặc điểm của doanh nghiệp từ đó đưa ra các kế hoạch và
chiến lược Marketing TMĐT hợp lý.
[2] Nguyễn Đặng Tuấn Minh (2012), Kinh doanh trực tuyến – Tối ưu hóa các
công cụ điện tử, NXB Dân trí: Trong cuốn sách, tác giả đã nêu ra những công
cụ/phương pháp quảng bá thương hiêu trực tuyến hết sức cơ bản mà bất kỳ marketer
nào cũng phải nắm được: cách thức nghiên cứu thị trường trực tuyến, quản lý thông
tin khách hàng trong môi trường internet, ứng dụng bán hàng trên facebook, cách sử
dụng những công cụ của Google (Google Analytics, Google Plus, chiến lược từ
khóa trên Google Adwords…).
[3] PGS.TS.NGƯT Nguyễn Văn Hồng, TS. Nguyễn Văn Thoan ( 2012), Giáo
trình Thương mại điện tử căn bản. Giáo trình được viết nhằm phục vụ cho việc học
tập và nghiên cứu của sinh viên trường Đại học Ngoại Thương. Ngoài ra giáo tình
này còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường đại học, cao
đẳng trên cả nước và các cán bộ làm công tác quản lý, kinh doanh và thương mại
điện tử.
Nội dung của giáo trình "Thương mại điện tử căn bản" bao gồm 6 vấn đề lớn:
Tổng quan về Thương mại điện tử, Giao dịch điện tử, Marketing điện tử, Rủi ro và
phòng tránh rủi ro trong Thương mại điện tử, Ứng dụng Thương mại điện tử trong
doanh nghiệp và Luật Giao dịch điện tử.
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
[4] Gary Vaynerchuk (2010), Đam mê khám phá, NXB Lao động xã hội &
Alphabook. Nội dung của cuốn sách có viết về cách thức tổ chức và quản trị các
công cụ Marketing điện tử hiệu quả nhất cho việc kinh doanh trực tuyến trong môi
trường internet như hiện nay.
[5] Phillip Kotler (2003), Quản trị marketing, NXB thống kê: Marketing căn
bản giới thiệu những kiến thức cơ bản về Marketing như khái niệm, bản chất,
phương châm, nguyên tắc và nội dung hoạt động Marketing, đồng thời giới thiệu
được và biết đến các sản phẩm của công ty là từ đâu. Để từ đó biết được các hoạt
động marketing điện tử nào là hiệu quả với công ty trong việc đưa sản phẩm dịch vụ
cùng hình ảnh của công ty đến với được các khách hàng đó. Xin ý kiến tham khảo
của khách hàng về mức độ quan trọng của việc marketing điện tử đối với công ty và
những tồn tại yếu kém mà khách hàng cảm thấy chưa hài lòng hay có lời khuyên
giúp công ty điều chỉnh và hoạt động tốt hơn. Có được những đánh giá của khách
hàng để biết được những cách thức marketing nào hiệu quả từ đó giúp góp phần xây
dựng kế hoạch marketing điện tử cho công ty được tốt hơn.
- Cách thức tiến hành:
Đối với cán bộ nhân viên của OneSoft: Phỏng vấn trực tiếp từng người một
bằng bảng câu hỏi chuẩn bị trước.
18
Đối với khách hàng của OneSoft: Xin địa chỉ mail của các khách hàng thân
thiết ( Sử dụng dịch vụ thường xuyên) từ bộ phận quản trị dữ liệu của công ty với
sự đồng ý của giám đốc sau đó gửi thư và mẫu phiếu điều tra trực tiếp cho khác
hàng để xin ý kiến và khảo sát.
Các phiếu điều tra sẽ được tập hợp, cập nhật vào cơ sở dữ liệu của phần mềm
SPSS để xử lý, phân tích. Mục đích áp dụng cách thức này là giúp thu thập thông
tin một cách nhanh chóng nhất, tiết kiệm nhất và xử lý một cách chính xác nhất để
có thể đưa ra những đánh giá và kết quả chuẩn xác nhất.
- Phiếu điều tra nghiên cứu
Bảng 1.1: Phiếu điều tra nghiên cứu
Đối tượng
Phiếu phát ra
(PPR)
Phiếu thu về
(PTV)
Tỷ lệ
(PPR/PTV)
Cán bộ nhân viên công
Phương pháp định lượng
Trong khuôn khổ đề tài khóa luận này tác giả sử dụng phần mềm SPSS để
phân tích dữ liệu. Các phiếu điều tra sẽ được tập hợp, cập nhật vào cơ sở dữ liệu của
phần mềm SPSS để xử lý, phân tích. Mục đích áp dụng cách thức này là giúp thu
thập thông tin một cách nhanh chóng nhất, tiết kiệm nhất và xử lý một cách chính
xác nhất để có thể đưa ra những đánh giá và kết quả chuẩn xác nhất.
Phương pháp định tính
Các dữ liệu được tập hợp, sau đó phân tích bằng phần mềm SPSS để thấy được
tần xuất xuất hiện của các biến ảnh hưởng đến hoạt động phát triển truyền thông
thương hiệu điện tử của công ty từ đó đánh giá được tình hình truyền thông thương
hiệu điện tử tại công ty.
Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu theo giá trị trung bình. Kết quả
các phiếu điều tra sau khi thu về được tổng hợp trên SPSS và phân tích theo giá trị
trung bình và chỉ số thống kê. Các số liệu thống kê từ kết quả hoạt động của công ty
được xử lý bằng hai phương pháp phân tích chi tiết và biểu đồ minh hoạ.
2.2 ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN
TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG KẾ HOẠCH MARKETING
ĐIỆN TỬ CHO CÔNG TY CỔ PHẦN ONESOFT
2.2.1 Tổng quan tình hình xây dựng kế hoạch marketing điện tử tại công ty
cổ phần OneSoft
Công ty cổ phần OneSoft là một công ty hoạt động trong lĩnh vực truyền
thông giải trí, chuyên cung cấp các sản phẩm dịch vụ giải trí số hóa trên các thiết bị
di động.
Theo những nghiên cứu qua các số liệu điều tra và thời gian làm việc tại đây
tác giả đã tìm hiểu và có những đánh giá tổng quan về tình hình xây dựng kế hoạch
marketing điện tử tại công ty như sau:
20
Mặc dù hoạt động trong lĩnh vực điện tử, mạng internet, mạng di động nhưng
có thể nói rằng công ty gần như không chú trọng đến các hoạt động marketing điện
tử nội bộ mà hầu như chỉ thuê các dịc vụ marketing bên ngoài. Điều này cũng
hoạch marketing điện tử của công ty cổ phần OneSoft, đặc biệt là việc xem xét đặc
điểm khu vực thị trường đích. Công ty cổ phần Onesoft, mới đi vào hoạt động được
hơn 3 năm trong lĩnh vực trò chơi trên điện thoại di động, nên thị trường chính mà
công ty hướng tới là hầu hết những người sử dụng điện thoại di động có kết nối
Internet( GPRS, 3G, Wifi), nhưng chủ yếu nhắm đến vẫn là giới trẻ với quỹ thời
gian rảnh rỗi rất lớn và nhu cầu giải trí giao lưu kết bạn cao nhất. Với phương châm
mang đến cho khách hàng những dịch vụ giải trí, giao lưu, kết bạn tốt nhất, công ty
cổ phần Onesoft, luôn đặt vấn đề chất lượng của các dịch vụ cung cấp tốt nhất. Và
để khách hàng có thể biết đến những dich vụ đó không có cách nào có thể tốt hơn là
xây dựng 1 kế hoạch marketing điện tử hiệu quả nhất để những sản phẩm dịch vụ
của công ty có thể đến được với những khách hàng tiềm năng của công ty.
2.2.2.2 Ảnh hưởng của môi trường kinh tế
Tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2012 của Việt Nam đạt mức 5,03%, theo
công bố tại cuộc họp báo chiều 24-12 của Tổng cục Thống kê. Mức này thấp hơn
đáng kể so với dự báo gần nhất là 5,2-5,3%. Cụ thể, GDP quý I tăng 4,64%, quý II
tăng 4,80%, quý III tăng 5,05% và quý IV tăng 5,44%.
So với năm 2011, GDP năm nay giảm 0,86%. Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê
cho rằng, trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện
mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là
hợp lý.
Như vậy, việc đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 6,5-7% như kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 là một thách thức đáng kể. Do năm 2011,
GDP chỉ ở mức 5,89%; năm 2012 là 5,03%; năm 2013, GDP dự báo khoảng 5,5%
nên hai năm còn lại (2014-2015), trung bình GDP phải đạt 8-9%.
Đáng lưu ý là một số nước trong khu vực vẫn đạt mức tăng trưởng khá khả
quan. Lào vẫn tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (8,3%) và trở thành
nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á năm 2012.
22
Theo Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch
Đầu tư), trong khối ASEAN, Việt Nam, Campuchia và Indonesia cùng có tốc độ
Việt Nam còn rất chậm chạp: Nghị định về Thương Mại Điện Tử: 9/6/2006, nghị
định về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính, nghị định về giao dịch điện tử
trong hoạt động ngân hàng, nghị định về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký
số, nghị định hướng dẫn Luật Công nghệ thông tin, nghị định xử phạt hành chính
trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Điều này có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh nói chung cũng
như hoạt động trực tuyến nói riêng của OneSoft, và ảnh hưởng trực tiếp tới tâm lý
người
dùng, không tin tưởng vào những hoạt động bán hàng,những dịch vụ liên quan
đến tài sản số hóa qua mạng do chưa được pháp luật bảo vệ.
Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2011-2015 góp
phần thúc đẩy thương mại và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp nước ta.
Với mục tiêu hướng doanh nghiệp, hộ gia đình, chính phủ cùng tham gia nhận thức
và thực hiện các loại hình giao dịch điện tử. Kế hoạch cũng cụ thể hóa các chính
sách và giải pháp phát triển thương mại điện tử như hoàn thiện hệ thống pháp luật
rà soát, bổ sung và sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức thực thi quy định
pháp luật, xấy dựng cơ sở hạ tầng công nghệ, tuyên truyền, đào tạo, phổ cập thương
mại điện tử, tăng cường hợp tác quốc tế về thương mại điện tử.
2.2.2.4 Ảnh hưởng của văn hóa xã hội
Tỉ lệ số dân sử dụng internet để tìm kiếm thông tin hoặc tiến hành giao dịch
trực tuyến ngày càng tăng. Những gói cước hấp dẫn cùng với sự hiện diện của công
nghệ 3G ở Việt Nam đang đẩy mạnh xu hướng truy cập Internet bằng điện thoại di
động. Tính đến tháng 4 năm 2012 Việt Nam có 12 triệu thuê bao 3G.
Các mạng xã hội đang tiếp tục phát triển tại Việt Nam, trong đó hoạt động
chia sẻ nội dung, quan điểm trên mạng và tham gia diễn đàn trực tuyến đã lấn át các
hoạt động làm quen, kết nối xã hội. Theo Tổng cục Thống kê, tổng số người sử
dụng Internet tại VN tính đến quí I năm 2012 là 30.8 triệu người. Con số này sẽ tiếp
tục tăng trong thời gian tới khi việc truy cập Internet trở nên ngày càng phổ biến
hơn. Thói quen sử dụng internet: Hầu hết mọi người truy cập Internet là đọc tin tức
trực tuyến, chơi game trực tuyến và mua bán hàng trực tuyến. 50% đồng ý rằng họ
doanh nghiệp nhỏ như OneSoft.
Tuy nhiên, để công ty có thể hoạt động tốt được thì rất cần có thêm nhân viên
cho bộ phận này. Vì muốn làm marketing điện tử được tốt thì 2-3 người vẫn là con
25
số quá ít. Đặc biệt nhân lực Thương mại điện tử chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế
nhiều, vấn đề này là một khó khăn xong với kiến thức cơ bản được đào tạo thì
nguồn nhân lực này sẽ đáp ứng tốt công việc của mình trong tương lai.
2.2.3.2 Đối thủ cạnh tranh
Thị trường trò chơi, mạng xã hội di động ngày càng phát triển mạnh cả về số
lượng và chất lượng các dịch vụ. Nhất là trong thời đại công nghệ di động bùng nổ
như hiện nay. Kéo theo đó là ngày càng có nhiều nhà cung cấp dịch vụ giải trí số
gia nhập thị trường này. Khiến thị trường này ngày càng trở nên sôi động hơn, cạnh
tranh cũng gay gắt hơn. Chính vì thế rất cần có những kế hoạch và chiến lược kinh
doanh hiệu quả cho các doanh nghiệp trong tương lai để có một chỗ đứng vững
chắc trên thị trường.
Công ty cổ phần OneSoft tham gia thị trường này từ cuối năm 2009 đến nay.
Tuy đi sau các đối thủ cạnh tranh cùng lĩnh vực cung cấp phần mềm dịch vụ chat,
game, mạng xã hội…như Zalo của VNG; Ola của Microgame; Wala; Timbox; hay
ứng dụng “lai” như Vitalk, FPT Chat của FPT… Tuy nhiên cộng đồng chưa thể
phát triển nhanh, ngoại trừ Iwin với khoảng trên 1 triệu người tham gia do đi trước
BigOne 1 năm và đầu tư khá là mạnh mẽ cho các hoạt động truyền thông. Tuy đi
sau nhưng OneSoft không vì thế mà nản long mặc dù gặp không ít khó khăn với đối
thủ đáng gờm này, vừa đi trước lại vừa đầu tư mạnh cho các hoạt động truyền
thông. Sau hơn 3 năm hoạt động, mặc dù không thể bằng Iwin nhưng game BigOne
của OneSoft cũng đã thu hút được gần 1 triệu người chơi trong đó có khoảng 400
đến 600 nghìn người thường xuyên tham gia và nạp tiền vào game BigOne. Đây là
1 con số đáng nể cho một doanh nghiệp đi sau nhưng tập chung và chỉ phát triển
mảng thị trường này.Vượt mặt những đối thủ đi trước OneSoft đã khẳng định được
sức mạnh của mình trước các đối thủ. Điều này có thể còn hơn nữa khi mà công ty
biết đầu tư hiệu quả cho hoạt động marketing điện tử của mình. Đó cũng là một