đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học kinh tế
Nguyễn Quốc Anh
phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở việt nam
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01
luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị
ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Huy Đ-ờng
Mục lục 2
Danh mục các từ viết tắt 4
Danh mục các bảng và hình 5
Lời mở đầu 6
Ch-ơng 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phát triển khu kinh
tế cửa khẩu 11
1.1 Vị trí của khu kinh tế cửa khẩu đối với quốc gia 11
1.1.1 Khái niệm 11
1.1.2 Lợi ích của việc phát triển khu kinh tế cửa khẩu 12
1.1.3 Sự cần thiết phải hình thành và phát triển các khu kinh tế cửa khẩu 16
1.1.4 Điều kiện phát triển khu kinh tế cửa khẩu 20
1.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế cửa khẩu ở một số n-ớc và bài học cho
Việt Nam 25
1.2.1 Chính sách mở cửa kinh tế gắn với thúc đẩy kinh tế biên mậu của
Trung Quốc 25
1.2.2. Linh hoạt và đơn giản hóa chính sách nhằm thúc đẩy giao th-ơng biên
giới của Thái Lan 29
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 33
Ch-ơng 2 Thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam thời
gian qua 37
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam 37
2.1.1 Quá trình hình thành 37
2.1.2 Các giai đoạn áp dụng cơ chế chính sách phát triển khu kinh tế cửa
khẩu 38
2.1.3 Tình hình phân bố 39
2.2 Thực trạng phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam 43
2.2.1 Chính sách về kinh tế cửa khẩu của các n-ớc có chung đ-ờng biên giới
với Việt Nam 43
2.2.2 Chính sách phát triển khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam 50
2.2.3 Tình hình phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam 61
AFTA
Khu vực thương mại tự do của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
BOT
Xây dựng, vận hành, chuyển giao
BT
Xây dựng, chuyển giao
BTO
Xây dựng, chuyển giao, vận hành
CAFTA
Khu thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc
CK
Cửa khẩu
GMS
Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng
KTCK
Kinh tế cửa khẩu
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
USD
Đô la Mỹ
VAT
Thuế giá trị gia tăng
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XNC
Xuất nhập cảnh
XNK
Xuất nhập khẩu
72
Bảng 2.4
Thu hút đầu tư vào khu KTCK năm 2008
72
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Mở cửa và hội nhập theo phương châm "đa dạng hoá, đa phương hoá” các
quan hệ giao lưu kinh tế đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định như một trong
những điều kiện quan trọng để đẩy nhanh phát triển kinh tế đất nước. Trong những
điều kiện đặc thù của Việt Nam, với đường biên giới trải dài bao gồm nhiều cửa
khẩu thông với các nước láng giềng, việc phát triển loại hình khu kinh tế cửa khẩu
là việc làm hết sức cần thiết nhằm mục đích mở cửa nền kinh tế theo nhiều hướng,
theo nhiều tầng nấc khác nhau.
Việc phát triển các khu kinh tế cửa khẩu sẽ thúc đẩy giao thương qua cửa
khẩu, trên cơ sở đó tạo tiền đề cho kinh tế của một vùng lớn cũng như kinh tế của cả
quốc gia phát triển. Khu kinh tế cửa khẩu tạo ra một địa bàn để tăng cường giao
thương giữa hai nước, khai thác tiềm năng du lịch, công nghiệp để phát triển du lịch
và công nghiệp, tận dụng được các lợi thế tiềm năng của từng địa phương ở cả hai
bên đường biên, huy động sự tham gia của nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội như ngoại
giao, sản xuất hàng xuất khẩu, nghiên cứu khoa học công nghệ, tài chính, của các
tỉnh, các vùng có biên giới với các nước láng giềng vào hoạt động kinh tế đối ngoại
ở khu vực biên giới. Cùng với việc phát triển khu kinh tế cửa khẩu sẽ kéo theo sự
phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng tổng hợp với mạng lưới giao thông nối liền giữa
khu kinh tế cửa khẩu với nước bạn và nội địa của nước ta, tạo điều kiện lôi kéo và
thúc đẩy hợp tác liên vùng về kinh tế - xã hội giữa các vùng của đất nước.
những chính sách phát triển phù hợp để tạo động lực mới cho quan hệ hợp tác kinh
tế, thương mại, đầu tư giữa nước ta với các nước láng giềng và qua đó tới các nước
khác trong khu vực.
Với ý nghĩa trên, tác giả lựa chọn đề tài "Phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở
Việt Nam" làm Luận văn Thạc sỹ Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu
Khu kinh tế cửa khẩu là một loại hình kinh tế mới mẻ tại Việt Nam và chỉ
được Nhà nước cho áp dụng thí điểm các cơ chế chính sách từ năm 1996. Trải qua
hơn 10 năm, hoạt động của các khu kinh tế cửa khẩu và cả các cơ chế chính sách
của Nhà nước đối với khu kinh tế cửa khẩu đang từng bước phát triển và hoàn thiện.
Đã có một số đề tài nghiên cứu được công bố và một số bài viết trên các tạp chí 8
kinh tế nhưng với số lượng không nhiều, đánh giá chung hoặc về những khía cạnh
riêng lẻ của khu kinh tế cửa khẩu như tình hình hoạt động kinh doanh, một số cơ
chế, chính sách của Nhà nước Trong đó phải kể đến nghiên cứu:
- Thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Dung - Viện Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW
năm 1999, chủ nhiệm đề tài "Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng cơ
chế chính sách và các biện pháp quản lý kinh tế đặc thù đối với khu vực cửa khẩu
trên bộ phía Bắc Việt Nam". Nội dung chính của Đề tài bao gồm: cơ sở lý luận về
áp dụng cơ chế chính sách đặc thù phát triển khu vực các cửa khẩu biên giới đất
liền; thực trạng giao lưu kinh tế khu vực các cửa khẩu biên giới đất liền phía Bắc
Việt Nam; một số khuyến nghị về cơ chế chính sách và các phát triển giao lưu kinh
tế tại khu vực các cửa khẩu biên giới đất liền phía Bắc.
- Thạc sĩ Trần Kim Chung - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW năm 2001
- chủ nhiệm đề tài "Đánh giá việc áp dụng một số cơ chế, chính sách về khu kinh tế
cửa khẩu trong những năm qua và định hướng cho giai đoạn tiếp theo". Nội dung
chính của Đề tài gồm: sự phát triển nhận thức của việc hình thành khu kinh tế cửa
khẩu; đánh giá việc áp dụng thí điểm một số chính sách đối với việc hình thành và
- Phân tích, đánh giá thực trạng để phát hiện những hạn chế, bất cập của khu
kinh tế cửa khẩu.
- Luận chứng những quan điểm và đưa ra giải pháp cơ bản nhằm phát triển
các khu kinh tế cửa khẩu trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
4.2.1 Không gian
Các khu kinh tế cửa khẩu tiếp giáp với Trung Quốc, Lào và Campuchia.
4.2.2 Thời gian
Từ năm 1996 đến thời điểm hiện tại, định hướng phát triển đến năm 2015,
tầm nhìn 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp sau: phương pháp duy vật lịch sử,
duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp thống kê, so sánh 10
6. Những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn sẽ đóng góp trên một số mặt sau:
- Hệ thống hóa các lý luận về khu kinh tế cửa khẩu.
- Phân tích thực trạng, nguyên nhân thành công và hạn chế trong việc phát
triển của khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển khu kinh tế cửa khẩu
trong thời gian tới.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu
thành 3 chương, bao gồm:
thức trao đổi hàng hóa đơn giản thành các hoạt động hợp tác sản xuất kinh doanh.
Trong nội dung của Luận văn được trình bày ở các phần tiếp theo dưới đây,
giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới được sử dụng theo nghĩa rộng của khái niệm
này.
1.1.1.2 Cửa khẩu
Cửa khẩu là nơi người, phương tiện giao thông vận tải, hàng hóa ra - vào qua
biên giới đất liền.
Cửa khẩu biên giới đất liền (cửa khẩu biên giới) bao gồm: cửa khẩu quốc tế,
cửa khẩu chính (còn gọi là cửa khẩu quốc gia) và cửa khẩu phụ, được mở trên các
tuyến đường bộ, đường sắt trong khu vực biên giới theo Hiệp định về Quy chế biên
giới đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với 12
Chính phủ nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập và qua lại biên giới quốc
gia [10].
Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam,
nước láng giềng và nước thứ ba xuất, nhập qua biên giới quốc gia.
Cửa khẩu chính (cửa khẩu quốc gia) được mở cho người, phương tiện, hàng
hóa của Việt Nam, nước láng giềng xuất, nhập qua biên giới quốc gia.
Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hóa của Việt Nam và
nước láng giềng ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua lại biên giới quốc gia.
1.1.1.3 Khu kinh tế cửa khẩu
Khu kinh tế cửa khẩu (sau đây viết tắt là khu KTCK) được hiểu là một địa
bàn bao gồm một cửa khẩu biên giới (cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính) và
một khu vực quan hệ mật thiết đối với toàn bộ hoạt động giao lưu kinh tế biên giới
qua cửa khẩu này. Địa bàn này có thể là một xã hoặc một số xã của một huyện, có
thể là một số xã liền kề của hai huyện. Trên địa bàn đó được áp dụng một số chính
sách ưu đãi về xây dựng cơ sở hạ tầng, về đầu tư sản xuất, thương mại, thuế, đất đai,
xuất nhập cảnh và du lịch
Việt Nam với các nước láng giềng và vươn tới các nước khác.
Thông qua việc hình thành và phát triển các khu KTCK sẽ góp phần tăng
cường, mở rộng và nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa
nước ta với Trung Quốc, Lào, Campuchia và qua các nước đó tới các nước khác,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương hai bên biên giới và cùng
nhau khai thác các tiềm năng và lợi thế của khu KTCK ở mỗi bên.
Việc phát triển các khu KTCK ở mỗi khu vực biên giới sẽ tạo lập quan hệ
hữu nghị, hợp tác giữa các nước mà nước ta có chung đường biên giới; góp phần
tăng cường hơn tình hữu nghị thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa 2 nước Việt Nam
và Trung Quốc theo phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn
diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”; tạo điều kiện cho Việt Nam, Lào và
Campuchia cùng hợp tác phát triển và gìn giữ biên giới hữu nghị, hợp tác và phát
triển kinh tế vùng biên trong quy hoạch hợp tác phát triển 3 nước Việt Nam - Lào
và Campuchia và phát triển hợp tác theo Hành lang kinh tế Đông - Tây, tạo điều
kiện cho Việt Nam, Lào và Campuchia hợp tác với nhau khai thác kinh tế vùng biên
giới, xây dựng vùng biên giới hữu nghị và cùng hợp tác phát triển theo Hành lang
kinh tế đường xuyên Á. 14
Đây cũng là cách giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh có khu
KTCK; gia tăng buôn bán và du lịch biên giới sẽ thúc đẩy quá trình đô thị hóa, cải
thiện cơ sở hạ tầng khu vực. Cùng với phát triển du lịch, thương mại cửa khẩu sôi
động sẽ là quá trình đô thị hóa để thu hút du khách, thương nhân, trong vùng,
khắp mọi miền đất nước, từ các nước láng giềng tham gia đi lại, vận chuyển hàng
hóa, tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp cho dân cư các nơi có khu KTCK. Gắn
liền với đó sẽ là các dự án hợp tác thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và các nước
láng giềng, qua đó với nhiều nước khác.
Thực tế trong những năm qua, hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá qua
biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc, Lào và Campuchia đã góp phần đẩy mạnh
hữu nghị hợp tác vốn có truyền thống lâu đời giữa nước ta và các nước láng giềng.
(4) Nâng cấp hoạt động buôn bán tiểu ngạch qua biên giới
Trong hoạt động kinh doanh khu vực hành lang kinh tế, buôn bán tiểu ngạch
qua biên giới tuy có mang lại lợi ích kinh tế trước mắt nhưng đây là hình thức trao
đổi thương mại quốc tế cấp thấp, thiếu tính ổn định, chứa đựng nhiều yếu tố kinh tế
ngầm, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng bất lợi đối với an sinh xã hội. Buôn bán tiểu
ngạch vùng biên giới thường mang tính tự phát; không được Nhà nước, tổ chức hay
công ty lớn nào bảo đảm và không có bảo hiểm nên gặp nhiều rủi ro, làm nản lòng
các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ở khu vực biên giới.
Khi chính sách của nước láng giềng đột ngột thay đổi, các doanh nhân của ta
chưa kịp thời nắm bắt thông tin nên dẫn đến tình trạng hàng đã đến biên giới sau khi
trải qua hàng trăm, hàng nghìn cây số và rất nhiều khó khăn trong bảo quản, kiểm
dịch, lại bị cấm hoặc đánh thuế quá cao so với chi phí kinh doanh và vận chuyển.
Việc hình thành các khu KTCK là nhằm đưa các hoạt động trao đổi thương
mại vào tổ chức hoạt động đúng hướng, đúng tầm về quy mô và cấp độ, giám sát
chặt chẽ (thuế quan, chất lượng, xuất xứ, ), cung cấp kịp thời thông tin (giá cả,
chính sách, sự thay đổi chính sách của chính quyền sở tại hai bên đối với thị trường
khu vực), tạo điều kiện xây dựng hệ thống dịch vụ bảo đảm về tài chính, tín dụng để
khắc phục những tiêu cực trong buôn bán qua biên giới và giúp cho các hoạt động
này đạt hiệu quả, đem lại niềm tin cho các doanh nghiệp.
(5) Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ hoạt động thương mại, du lịch biên
giới. 16
Trong thời gian tới, khi các nước ASEAN đều phải thực hiện nghĩa vụ của
AFTA, WTO, theo các cam kết quốc tế và khu vực. Theo đó, việc xây dựng các
hành lang hợp tác kinh tế là để tạo ra các cơ hội nâng cao năng lực cán bộ hoạt động
thương mại biên giới, hiện đại hóa cơ sở vật chất, từ đó từng bước xóa bỏ những trở
ngại trên trong quá trình hợp tác song phương và đa phương trên khu vực biên giới
liên kết quốc tế ngày càng sâu sắc các quá trình sản xuất, kinh doanh và các loại
hình thị trường giữa các nước. Quá trình này đẩy nhanh không chỉ thương mại hàng
hóa, dịch vụ truyền thống, mà còn cả những giao dịch mới khác qua biên giới.
Các lý thuyết kinh tế học phát triển đã chỉ rõ rằng quá trình hội nhập kinh tế
sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia phát huy lợi thế so sánh, giảm chi phí nhờ mở
rộng quy mô, chuyển giao vốn, công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, phát triển nguồn
nhân lực, loại bỏ những hạn chế và lệch lạc của thị trường bị cát cứ, bó hẹp trong
từng quốc gia. Về mặt dài hạn, hợp tác kinh tế cho phép các nước có thể tận dụng
lợi thế so sánh của mình, thúc đẩy và duy trì tăng trưởng bền vững, nâng cao phúc
lợi dân cư thông qua việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Về mặt
ngắn hạn, hợp tác kinh tế đòi hỏi các nước phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, xem xét
lại để có quyết sách thích hợp đối với những ngành kém hiệu quả, thiếu tính cạnh
tranh [45].
Giao lưu kinh tế qua biên giới với tư cách là một hình thức mở cửa kinh tế
giữa các nước láng giềng có thể mang lại nhiều lợi thế: tận dụng được ưu thế liền
núi, liền sông, liền đường giữa các nước láng giềng; bổ sung cho nhau giữa dân cư,
doanh nghiệp hai nước láng giềng, do đó, mức cạnh tranh chưa gay gắt như các giao
lưu kinh tế qua hàng không, đường biển; sản phẩm giao lưu kinh tế qua biên giới
không quá chênh lệch về cơ cấu ngành nghề, sản phẩm, nguyên liệu, nhu cầu thị
trường; có những hình thức đa dạng hơn so với buôn bán qua các cửa khẩu hàng
không, hàng hải qua đó thúc đẩy phát triển đa dạng quan hệ, trao đổi chính thức ở
cấp Nhà nước.
Chính nhờ có những lợi thế đó mà giao lưu kinh tế qua khu vực cửa khẩu
biên giới được coi là một trong những hình thức xúc tiến hội nhập kinh tế quốc tế
đáng được quan tâm. 18
1.1.3.2 Giao lưu kinh tế tại khu vực các cửa khẩu biên giới là hình thức tiếp
cận mới để thực hiện mục tiêu mở rộng hợp tác kinh tế giữa các nước láng giềng
19
khu vực này. Hơn nữa, những người dân sống trên địa bàn biên giới thường là đồng
bào dân tộc không chiếm đa số trong cộng đồng dân cư của quốc gia. Do đó, việc
thực hiện các chính sách ưu đãi với các khu vực biên giới để kinh tế phát triển và
cũng để nâng cao đời sống các dân tộc, hòa đồng các quan hệ dân tộc trong quốc
gia. Việc thực hành những chính sách ưu đãi để phát triển kinh tế ven biên giới còn
là một giải pháp quan trọng bảo đảm an ninh quốc phòng chủ quyền biên giới trên
bộ.
1.1.3.4 Việc chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị trường đòi
hỏi phải có những thử nghiệm về cơ chế chính sách trên một địa bàn cụ thể
Việc chuyển nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị trường tựu trung lại
có hai cách tiếp cận: cách tiếp cận sốc và cách tiếp cận tiệm tiến. Lý luận của các
nhà cải cách theo cách tiếp cận sốc chủ yếu dựa vào luận điểm cho rằng nền kinh tế
thị trường chỉ có thể phát huy các ưu điểm của nó khi các cơ chế chính sách thị
trường đồng loạt được thực hiện. Cách tiếp cận tiệm tiến hay từng bước, hay "dò đá
qua sông" dựa trên cơ sở lý luận cho rằng mọi hoạt động của con người cũng như
của các quá trình phát triển kinh tế, không thể một lúc có thể làm được. Do đó, cải
cách kinh tế theo hướng thị trường rất cần có bước thử nghiệm.
Cải cách của Việt Nam đã đi theo con đường tiệm tiến với những cú sốc nhỏ,
đã có những thành công đáng kể về ổn định kinh tế vĩ mô và thiết lập cơ chế thị
trường hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc thử nghiệm đồng bộ nhiều
chính sách trên một địa bàn hạn chế trước khi nhân rộng ra cả vùng, cả nước lại là
điều có thể và cần tiến hành với một sự lựa chọn thận trọng.
Thực tế phát triển của một số nước trong thời gian qua cho thấy việc áp dụng
này đem lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, đối với những vùng có lợi thế tương đối, việc
áp dụng mội số cơ chế chính sách có thể giúp tăng cường tối đa các lợi thế này để
đưa nhanh các khu vực đó trở thành "đầu tầu" so với những vùng còn lại của quốc
gia. Thứ hai, đối với những vùng có những bất lợi tương đối so với những vùng
khác trong quốc gia, việc áp dụng các cơ chế chính sách ưu đãi lại có tác dụng xóa
đi những bất lợi tương đối đó.
KTCK và mở rộng giao lưu kinh tế qua các khu vực cửa khẩu biên giới
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đã mở ra một trang mới
cho lịch sử phát triển kinh tế đất nước bằng quyết định thực hiện một cuộc cải cách 21
kiên quyết theo hướng chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền
kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tiếp tục ý tưởng này, để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho xuất
khẩu, thay vì dựa vào các tổ chức xuất nhập khẩu độc quyền của Nhà nước trước
đây, Nghị quyết Trung ương IV Khóa 8 đã chỉ rõ: "Các doanh nghiệp, chủ yếu là
các đơn vị sản xuất, được trực tiếp xuất khẩu và tham gia hiệp hội xuất khẩu"; và cụ
thể hơn nữa, còn đưa ra yêu cầu: "Nghiên cứu xây dựng thí điểm một vài đặc khu
kinh tế, khu mậu dịch tự do ở những địa bàn có điều kiện". Đối với vấn đề thu hút
đầu tư nước ngoài, Nghị quyết cũng đưa ra quan điểm: "Mở rộng nhiều hình thức
thu hút các nguồn lực từ nước ngoài Khuyến khích mạnh mẽ việc thu hút đầu tư
trực tiếp của nước ngoài vào các ngành chế biến xuất khẩu" [13].
* Đổi mới trong hệ thống pháp lý, điều kiện của việc hình thành phát triển
các khu KTCK và các hoạt động kinh tế đối ngoại
Xét về mặt pháp lý, Hiến pháp năm 1992 đánh dấu một chuyển biến lớn
trong đường lối mở cửa và hợp tác kinh tế quốc tế, làm cơ sở quan trọng khuyến
khích việc đẩy mạnh kinh doanh và đầu tư của các thành phần kinh tế vào hoạt động
giao lưu kinh tế, kể cả các hoạt động ở các vùng biên giới. Thứ nhất, Điều 16 chỉ rõ
mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng
ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, trên cơ sở giải phóng
mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, dưới
nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh
tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới. Thứ hai, Điều 24 chỉ rõ,
Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các
hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc
Điều kiện này muốn nhấn mạnh tới yếu tố đầu tiên là có cửa khẩu và vùng
đất xung quanh bao gồm các xã quanh khu vực cửa khẩu và đủ đất để xây dựng các
công trình như Quốc môn, các hạ tầng công sở của khu KTCK, các trung tâm
thương mại, kho ngoại quan và các công trình sản xuất khác đáp ứng đúng chức
năng của khu KTCK.
Có đủ đất để xây dựng các công trình đáp ứng yêu cầu phát triển các hoạt
động thương mại, xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển hàng hoá quá
cảnh, sản xuất công nghiệp, du lịch, dịch vụ; có điều kiện phát huy tiềm năng tại
chỗ và các vùng xung quanh; có khả năng phát triển thương mại và thu hút đầu tư. 23
Việc xác định phạm vi khu kinh tế cửa khẩu tùy thuộc vào vị trí của cửa
khẩu và địa thế cụ thể của khu vực đó. Thông thường phạm vi khu kinh tế cửa khẩu
gồm các đơn vị hành chính liền kề không tách biệt về không gian (có thể một vài xã
trong một huyện hoặc là một vài xã của các huyện).
(2) Có trục giao thông, nhất là trục giao thông lớn gắn kết khu vực dự kiến
hình thành khu KTCK với nội địa của đất nước; giao lưu thuận tiện với các nước
láng giềng qua cửa khẩu biên giới đất liền của nước bạn; nối kết với hậu phương
vững chắc và rộng lớn.
Các trục giao thông lớn này sẽ tạo điều kiện giao thương kinh tế giữa nước ta
với các nước láng giềng, tạo điều kiện gắn kết giữa khu KTCK với hậu phương là
khu vực các đồng bằng và tạo điều kiện xuất, nhập hàng hoá và dịch vụ của nước ta
tới các nước qua khu KTCK.
Khu vực biên giới nước ta nơi có các cửa khẩu để hình thành các khu kinh tế
cửa khẩu điều kiện hạ tầng kinh tế xã hội còn đặc biệt khó khăn, thậm chí có nơi
điều kiện giao thông rất khó khăn, đường hẹp, cấp đường thấp. Chính nhờ ưu thế
của việc hình thành khu KTCK đòi hỏi phải phát triển hệ thống giao thông để phục
vụ cho việc phát triển bên trong khu KTCK, thông qua đó sẽ lôi kéo phát triển các
vùng xung quanh.
Nam
* Chính sách đối ngoại và quan hệ kinh tế - chính trị của các nước láng giềng
với nhu cầu đẩy mạnh hợp tác giao thương, đầu tư với nước ta qua khu KTCK
Đây là điều kiện cần được nghiên cứu và xem xét để xác định những ảnh
hưởng tích cực/tiêu cực; mạnh/yếu và theo chiều hướng nào đối với nơi dự kiến
hình thành khu KTCK; dự báo được khả năng đầu tư, khả năng tiêu thụ sản phẩm
và sức ép cạnh tranh, khả năng tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến
cũng như khả năng rủi ro của nơi dự kiến hình thành khu KTCK. Từ đó, xác định
các phương hướng phát triển và đầu tư vào khu KTCK đúng hướng và để hình
thành khu KTCK đó hoạt động có hiệu quả.
Chính sách đối ngoại và quan hệ kinh tế - chính trị của các nước láng giềng
có tác động khác nhau đối với từng khu vực biên giới của nước ta; chẳng hạn như
những chính sách, nhu cầu đẩy mạnh hợp tác giao thương, đầu tư với nước ta của
Trung Quốc có tác động tới việc hình thành các khu KTCK ở khu vực biên giới